Thứ Bảy ngày 21/5/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Sở hữu trí tuệ
Cập nhật: Thứ Ba, ngày 04/5/2021

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Bến Tre” cho sản phẩm cua biển
Ngày 14 tháng 4 năm 2021, Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 1047/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00102 cho cua biển Bến Tre. Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre là tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý này.
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, trên 90% diện tích tự nhiên là đất ngập nước, chịu ảnh hưởng của sông Cửu Long qua các nhánh sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên và chế độ thủy triều của biển Đông. Trước khi con người đến định cư, Bến Tre là một vùng hoang vu bao phủ bởi rừng rậm xen lẫn các trảng lau, sậy hoặc đầm lầy cỏ lác, sen súng... Lê Quý Đôn đã ghi lại trong sách Phủ biên tạp lục giữa thế kỷ 18: "Từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm". Phần lớn người di cư đến Bến Tre bằng đường biển và đường bộ, họ chọn những giồng đất cao để sinh sống. Vùng đất Ba Tri được khai phá sớm nhất vì nơi đây là địa điểm dừng chân của các lưu dân theo đường biển. Chỉ trong hai thế kỷ, những vùng đất hoang vu đầy dã thú, các cù lao nằm ở cuối sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên đã trở thành nơi sản xuất dừa, trái cây, gạo, thủy sản và cua biển ngon nổi tiếng. 
 
Cua sống Bến Tre có vỏ sáng bóng, màu xanh lục hoặc vàng sẫm. Yếm cua rắn, chắc. Thể trạng khỏe, nhanh nhẹn, mắt lanh lẹ. Cua thịt chín Bến Tre có thịt chắc,  mùi thơm đặc trưng (không tanh), vị ngọt đậm, béo. Cua gạch chín có thịt thơm, chắc, vị béo. Gạch thơm, béo ngậy, ngọt đậm.
 
Cua Bến Tre có hàm lượng axit Glutamic từ 26,66 đến 27,34 mg/g; hàm lượng Protein từ 2,71 đến 3,13 gN/100g; tỷ lệ ăn được từ 52,55 đến 52,85%; độ ẩm thịt từ 16,89 đến 17,11 %. Cua Bến Tre có các đặc điểm đặc thù và chất lượng vượt trội do sinh trưởng trong khu vực địa lý có các tính chất đặc trưng về điều kiện tự nhiên và phương pháp canh tác truyền thống của người dân địa phương.
 
Môi trường sống thích hợp của cua con và cua trưởng thành là độ mặn 2-38‰, thời kỳ đẻ trứng 22-32‰. Khu vực địa lý có độ mặn tối thiểu trên 2‰ (mùa mưa). Những năm gần đây, tỉnh Bến Tre nói chung và khu vực địa lý nói riêng bị xâm nhập mặn nặng. Độ mặn tại cảng cá Bình Đại 26-29‰; tại xã An Thuận (huyện Thạnh Phú) từ 25-28‰; tại Tiệm Tôm (huyện Ba Tri) 27-30‰. Ranh mặn 4‰ đã xâm nhập vào đất liền cách cửa sông khoảng 48-68 km. Xâm nhập nặm nặng gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng lại phù hợp với đời sống của cua biển. Độ mặn của nước cao tạo cho “Cua biển Bến Tre” có vị ngọt đậm.
 
Cua biển sinh trưởng trong môi trường nước có độ pH từ 7,5-9,2 và thích hợp nhất từ 8.2-8.8. Độ pH của nước tại khu vực địa lý dao động từ 7,3-8,2 hoàn toàn phù hợp với môi trường sống của cua biển. Mặt khác, khu vực địa lý ít chịu ảnh hưởng của bão nên hoạt động sinh lý của cua ít bị biến động mạnh.
 
Cua là loài ăn tạp và thường ăn rất nhiều. Ấu trùng thích ăn thực vật và động vật phù du; cua con chuyển dần sang ăn tạp (rong tảo, giáp xác, nhuyển thể, cá hoặc xác chết động vật): cua con 2-7 cm ăn chủ yếu là giáp xác, cua 7-13 cm thích ăn nhuyễn thể; cua lớn hơn thường ăn giáp xác, nhuyễn thể, xác chết của các loài động vật khác. 
 
Khu vực địa lý nằm ở hạ nguồn sông Cửu Long, có 4 nhánh sông lớn chảy qua trước khi đổ ra biển (sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cổ Chiên) mang theo 1 lượng phù sa rất lớn, ước tính khoảng 25 triệu tấn/năm bùn cát. Lượng phù sa này cung cấp thức ăn dạng phù du cho cua biển, bồi đắp cho đất đai và đổ ra cửa sông lắng đọng tạo thành bãi bồi...
 
Khu vực địa lý có hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng sinh học cao. Đây là môi trường sống, nơi trú ẩn, bãi đẻ cho cua biển cũng như cung cấp thức ăn trực tiếp (mùn bã, lá, trái rụng…) và gián tiếp qua các động vật ăn mùn bã làm mồi cho các loài cá, cua biển và một số động vật ăn thịt khác...Khu vực địa lý có năng suất sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái ven biển Đông Nam Việt Nam, cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên: phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật, cá, giáp xác, nhuyễn thể... cho cua biển ở mọi giai đoạn sinh trưởng. Nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào và phong phú đã tạo cho “Cua biển Bến Tre” giàu các Axit amin, Protein, Lipit và các chất dinh dưỡng khác.  
 
Chất lượng đặc thù của các sản phẩm “Cua biển Bến Tre” còn được quyết định bởi các thực hành sản xuất của người dân tại khu vực địa lý, cụ thể là:
 
  • Khác với nhiều vùng nuôi cua biển bằng phương thức bán thâm canh hoặc thâm canh ở mức độ cao (sử dụng thức ăn công nghiệp và kháng sinh), “Cua biển Bến Tre” được nuôi theo phương thức quảng canh (không sử dụng thức ăn công nghiệp và kháng sinh). Ngoài việc sử dụng thức ăn tự nhiễn sẵn có trong ao/đầm (thực động vật phiêu sinh, tôm, cá... lấy vào ao/đầm khi thủy triều dâng), các nguồn thức ăn bổ sung cho cua là cá tạp khai thác tại chỗ, hoặc cá rô phi băm viên nhỏ... Nhiều hộ gia đình còn kết hợp nuôi cua xen cá rô phi làm nguồn thức ăn cho cua. Vì vậy, “Cua biển Bến Tre” có vị ngọt và mùi thơm (không tanh).
  •  
  • Kỹ thuật cải thiện môi trường ao/đầm nuôi cua và kiểm soát môi trường nuôi được tích lũy nhiều năm. Sau 2-3 vụ nuôi, ao/đầm nuôi “Cua biển Bến Tre” được nạo vét bùn, bón vôi để khử phèn, giải phóng độ phì tiềm tàng của đất. Nguồn nước trong ao/đầm cua thường xuyên được thay mới theo các đợt triều cường có kiểm soát độ mặn. Vì vậy, “Cua biển Bến Tre” luôn khỏe mạnh, cơ thể rắn chắc, thịt và gạch chắc.
  •  
  • Việc thu hoạch cua (thu tỉa, thu toàn bộ) có tính chọn lọc. Chỉ những con đủ tiêu chuẩn thương phẩm mới được thu, những con không đủ tiêu chuẩn được tiếp tục nuôi. Vì vậy, “Cua biển Bến Tre” luôn có chất lượng tốt.
 
Khu vực địa lý: Xã Thạnh Phong, xã Giao Thạnh, xã An Thuận, xã An Quy, xã An Điền, xã Thạnh Hải, xã An Nhơn, xã Mỹ Hưng, xã Mỹ An, thị trấn Thạnh Phú thuộc huyện Thạnh Phú; xã Thạnh Phước, xã Thới Thuận, xã Thừa Đức, xã Đại Hòa Lộc, xã Bình Thắng thuộc huyện Bình Đại; xã Bảo Thạnh, xã Bảo Thuận, xã Tân Xuân, xã An Thủy, xã Tân Thủy, xã An Hòa Tây, xã An Đức thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
http://noip.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Tìm hiểu về bộ chỉ tiêu về quyền tài sản - Liên minh Quyền tài sản (11/5/2022)
Blockchain và ứng dụng trong đăng ký, xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (10/5/2022)
Nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam (05/5/2022)
Bảo vệ bản quyền trên môi trường số: Những thách thức mới (04/5/2022)
Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, bình đẳng giới trong văn hóa đọc của sinh viên (19/4/2022)
Tên miền và nhãn hiệu: Sự tương thích, khả năng vi phạm và khuyến cáo đối với doanh nghiệp (01/4/2022)
Sở hữu trí tuệ: Không thu hẹp đối tượng xử phạt vi phạm hành chính (01/4/2022)
Sửa đổi luật Sở hữu trí tuệ: Thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ (01/4/2022)
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới vinh danh các nhà khoa học Cuba (31/3/2022)
Phát triển tài sản trí tuệ ở địa phương: Những lời giải mới (28/3/2022)
Hoạt động sở hữu trí tuệ ở các địa phương chưa đồng đều (23/3/2022)
Sở hữu trí tuệ làm tăng sức cạnh tranh và giá trị sản phẩm (21/3/2022)
Không chú trọng sở hữu trí tuệ sẽ không có sản phẩm công nghệ cao, mang thương hiệu (18/3/2022)
Tăng cường phối hợp hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ và chuyển giao công nghệ (15/3/2022)
Nhãn hiệu 3 chiều trong pháp luật quốc tế và đề xuất cho Việt Nam (23/02/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Phetchabun” cho sản phẩm quả me ngọt (10/02/2022)
Bảo hộ CDĐL: Gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu cho nông sản và đặc sản vùng miền (09/02/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Phetchabun” cho sản phẩm quả me ngọt (21/01/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Chư Sê” cho sản phẩm hạt tiêu (21/01/2022)
Bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam (05/01/2022)
Hội nghị công bố cấp Văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý "Thanh long Bình Thuận" tại Nhật Bản (04/01/2022)
Hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp từ hoạt động khai thác tài sản trí tuệ tại viện, trường đại học (23/12/2021)
IPPlatform: Công cụ hữu hiệu hỗ trợ quản lý và phát triển tài sản trí tuệ (20/12/2021)
Phát triển tài sản trí tuệ: Bảo hộ chỉ dẫn địa lý được coi như tấm 'giấy thông hành' (17/12/2021)
Khoa học mở: Nhìn từ góc độ sở hữu trí tuệ (13/12/2021)
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khai thác tài sản trí tuệ (06/12/2021)
Thiết lập, duy trì và phát triển cơ sở dữ liệu thông tin trực tuyến về đối tượng sở hữu công nghiệp và công cụ khai thác phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa (01/12/2021)
Khai thác tài sản trí tuệ thành công cụ tài chính: Những gợi mở về khung chính sách tại Việt Nam (16/11/2021)
Làm mới, đổi mới nhãn hiệu: Giải pháp giúp doanh nghiệp vực dậy sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh hậu Covid-19 (16/11/2021)
Thương mại hóa tài sản trí tuệ: Bài học từ những người đi trước (05/11/2021)
Sử dụng Công cụ WIPOINSPIRE để lựa chọn cơ sở dữ liệu sáng chế tốt và phù hợp nhất (01/11/2021)
Sử dụng Công cụ PatentScope Covid-19 Index để tìm kiếm thông tin sáng chế phục vụ nghiên cứu phát triển công nghệ phòng chốngCovid-19 (01/11/2021)
Sở hữu trí tuệ và các công nghệ chuyển đổi số - cơ hội cho Việt Nam (20/10/2021)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Cà Mau” cho sản phẩm tôm sú (14/10/2021)
Nhật Bản bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm thanh long Bình Thuận (11/10/2021)
Cam Cao Phong: Nâng cao giá trị từ quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý (11/10/2021)
Khai mạc kỳ họp Đại hội đồng WIPO lần thứ 62 (07/10/2021)
Sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ: Trao quyền cho đúng chủ thể và thúc đẩy thương mại hóa (04/10/2021)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Soi Hà” cho sản phẩm bưởi (01/10/2021)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Nhật Bản: Cơ hội mới cho thanh long Bình Thuận (27/9/2021)
Tra cứu nhãn hiệu bằng phần mềm Asean TMView (01/9/2021)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Núi Dành” cho sản phẩm Sâm Nam (01/9/2021)
Hướng dẫn sử dụng Cơ sở dữ liệu nhãn hiệu toàn cầu của WIPO (26/8/2021)
Xây dựng thương hiệu và chuỗi giá trị sản phẩm “Gạo sạch Quảng Trị” (12/8/2021)
Việt Nam tham dự cuộc họp lần thứ 64 nhóm công tác về hợp tác sở hữu trí tuệ các nước ASEAN (AWGIPC 64) và các sự kiện liên quan (06/8/2021)
Chặng đường xây dựng và phát triển chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ (30/7/2021)
Sở hữu trí tuệ - Nền tảng cho doanh nghiệp khởi nghiệp lớn mạnh (26/7/2021)
Bảo hộ nhãn hiệu cho doanh nghiệp: Không chỉ dừng ở việc đăng ký (16/7/2021)
Thương mại hóa tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: Một số lưu ý (14/7/2021)
Ý tưởng đột phá - Sổ tay Hướng dẫn về sở hữu trí tuệ cho các công ty khởi nghiệp (startup) (12/7/2021)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo về việc tổ chức Cuộc thi: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2022

Thông báo về việc đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh và cấp cơ sở, bắt đầu thực hiện năm 2023

V/v thông tin cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp – CiC 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Hiệu quả bước đầu từ các Dự án của “Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi” tại Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 129
Hôm nay 2.111
Hôm qua 7.252
Tất cả 5.542.855
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!