Thứ Tư ngày 20/10/2021 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Phổ biến pháp luật
Cập nhật: Thứ Sáu, ngày 17/9/2021

Một số điểm mới trong QCVN 2:2021/BKHCN về mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy
Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành thông tư số 04/2021/TT-BKHCN về việc ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy QCVN 2:2021/BKHCN”.
Hình ảnh thử va đập và hấp thu xung động tại QUATEST 3.
1. Giới thiệu về QCVN 2:2021/BKHCN vừa ban hành
Ngày 15/06/2021, Bộ Khoa học và Công nghệ có thông tư số 04/2021/TT-BKHCN về việc ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy QCVN 2:2021/BKHCN” với lộ trình áp dụng như sau:
– Kể từ ngày 01/01/2024, các mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy (sau đây gọi tắt là mũ bảo hiểm, mũ) sản xuất trong nước, nhập khẩu phải đáp ứng các quy định tại QCVN 2:2021/BKHCN trước khi lưu thông trên thị trường;
– Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu mũ bảo hiểm áp dụng các quy định tại QCVN 2:2021/BKHCN kể từ ngày 01/08/2021;
– Các quy định trước đây liên quan đến quy chuẩn mũ bảo hiểm hết hiệu lực kể từ 01/08/2021;
– Mũ bảo hiểm đã chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy theo QCVN 2:2008/BKHCN trước ngày 01/01/2024 được tiếp tục lưu thông trên thị trường đến hết ngày 31/12/2024.
Nhìn chung quy chuẩn mũ bảo hiểm mới ban hành này có một số thay đổi so với phiên bản cũ, có các phần nội dung ít hơn và đặc biệt các yêu cầu kỹ thuật đều được viện dẫn từ tiêu chuẩn TCVN 5756:2017 “Mũ bảo hiểm cho người đi mô tô và xe máy”.
Dưới đây là phần điểm lại một số điểm mới, có thay đổi, khác biệt giữa hai phiên bản của quy chuẩn về mũ bảo hiểm.
2. Phạm vi điều chỉnh
Quy chuẩn mới 2021 có phạm vi điều chỉnh rộng hơn, bao gồm việc áp dụng mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy, xe máy điện, xe đạp điện và các loại tương tự. Trong khi đó, phiên bản quy chuẩn cũ 2008 chỉ quy định cho đi mô tô và xe máy.
3. Phân loại
Theo vùng che phủ, QCVN 2:2008/BKHCN chỉ quy định có 3 loại là mũ che nửa đầu; mũ che cả đầu & tai; mũ che cả đầu, tai và hàm, còn quy chuẩn mới QCVN 2:2021/BKHCN chia thành 04 loại, có thêm loại mũ che ba phần tư đầu (như được quy định trong TCVN 5756:2017 là có 04 loại mũ).
Mũ che ba phần tư đầu gần giống như mũ che nửa đầu và có thêm phần che phủ sau ót.
4. Cỡ, thông số và kích thước cơ bản
Theo chu vi vòng đầu, phiên bản quy chuẩn cũ 2008 chia thành 03 nhóm cỡ mũ: nhỏ (dưới 500 mm); cỡ trung (500 mm – dưới 520 mm) và cỡ lớn (từ 520 mm trở lên).
Đối với QCVN 2:2021/BKHCN, các cỡ mũ được quy định cụ thể và viện dẫn theo Điều 4 TCVN 5756:2017 với 09 cỡ mũ có chu vi vòng đầu từ 460 mm đến 620 mm.
Như vậy theo phiên bản mới này, các cỡ mũ bao trùm các loại cỡ mũ từ trẻ con cho đến người lớn, đặc biệt có cỡ mũ 620 mm (cỡ số 9) là cỡ lớn nhất mới đưa vào.
Trong quy chuẩn mới có quy định về kích thước lưỡi trai, không được quá 70 mm (cho lưỡi trai rời tháo lắp được và không quá 50 mm (cho lưỡi trai liền khối với vỏ mũ).
5. Quy định kỹ thuật
5.1. Khối lượng mũ
QCVN 2:2021/BKHCN chỉ quy định khối lượng của mũ (kể cả các phụ kiện kèm theo) cho các loại mũ che nửa đầu, che ba phần tư đầu; theo đó không được lớn hơn:
– 0,8 kg cho các cỡ mũ 1, 2 và 3 [(460, 480 và 500) mm];
– 1,0 kg cho các cỡ mũ 4, 5, 6, 7, 8 và 9 [(520, 540, 560, 580, 600 và 620) mm].
Còn các cỡ mũ của loại mũ che cả đầu và tai, che cả đầu, tai và hàm đều không quy định về yêu cầu khối lượng của mũ. Lưu ý là trong TCVN 5756:2017 có quy định khối lượng cho tất cả các loại mũ. Quy chuẩn năm 2008 có quy định về khối lượng cho tất cả các cỡ mũ và các loại mũ bảo hiểm.
5.2. Độ bền va đập và hấp thu xung động
Nhìn chung, quy định mức yêu cầu kỹ thuật ở chỉ tiêu này của hai phiên bản là giống nhau. Tuy nhiên cần lưu ý là trong phiên bản mới, phương pháp thử độ bền va đập và hấp thu xung động có một số thay đổi đáng kể, sẽ được trình bày trong phần phương pháp thử.
5.3. Độ bền đâm xuyên; Quai đeo; Độ ổn định; Góc nhìn
Không có thay đổi về quy định yêu cầu kỹ thuật giữa hai phiên bản của quy chuẩn.
5.4. Kính bảo vệ
Trong phiên bản năm 2008, sử dụng từ “kính chắn gió” và quy định về hệ số truyền sáng là không được nhỏ hơn 85 %, còn trong QCVN 2:2021/BKHCN dùng từ “kính bảo vệ” ngoài kính trong suốt, có quy định thêm về hệ số truyền sáng cho kính màu nhạt, trong suốt là không nhỏ hơn 50 % (với yêu cầu trên kính có ghi chú “chỉ dùng cho ánh sáng ban ngày”).
6. Phương pháp thử
Các phương pháp thử cho hai phiên bản năm 2008 và 2021 của quy chuẩn mũ bảo vệ nhìn chung không có thay đổi nhiều, chỉ có điều kiện thuần hóa mẫu và phần thử độ bền va đập và hấp thu xung động là có khác biệt.
6.1. Thuần hóa mẫu
QCVN 2:2008/BKHCN quy định có hai điều kiện thuần hóa mẫu, trong khi QCVN 2:2021 quy định đến ba điều kiện thuần hoá mẫu.
Sở dĩ trong phiên bản mới 2021 của quy chuẩn (cũng như trong TCVN 5756:2017) có yêu cầu thêm điều kiện nhiệt độ thấp để thuần hóa mẫu, vì lý do:
– Nhằm phát hiện các loại vật liệu không đảm bảo theo yêu cầu tại 5.1 TCVN 5756:2017 “Vật liệu chế tạo mũ phải đảm bảo mũ không thay đổi đáng kể hình dạng và chức năng bảo vệ của mũ do ảnh hưởng của thời tiết, nhiệt độ và…”;
– Khi thuần hóa ở nhiệt độ thấp, chức năng bảo vệ thể hiện qua độ bền va đập và hấp thu xung động sẽ suy giảm đáng kể, nhất là các loại vật liệu nhựa tái sinh;
– Ở miền núi phía Bắc Việt Nam, có khi nhiệt độ xuống dưới 0 oC, cho nên yêu cầu thuần hóa ở nhiệt độ thấp là cần thiết;
– Áp dụng thuần hóa ở -10 oC cho phù hợp với sự hài hòa với các tiêu chuẩn nước ngoài. Các nước thường quy định thuần hóa ở -10 oC; kể cả một số nước ở vùng nhiệt đới như Thái Lan, Malaysia, Indonesia (yêu cầu -20 oC) v.v… Hơn nữa qua báo cáo khảo sát thì khi thử va đập và hấp thu xung động giữa hai điều kiện thuần hóa ở 0 oC và -10 oC là không có sai biệt đáng kể;
– Quy định thuần hóa ở nhiệt độ thấp cũng là cách tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước thuận tiện khi xuất khẩu mũ bảo hiểm.
6.2. Phương pháp thử độ bền va đập và hấp thu xung động
a. Các tiêu chuẩn nước ngoài trước đây thường quy định độ bền va đập và hấp thu xung động bằng phương pháp đo gia tốc dội lại, gia tốc kế được gắn trong dạng đầu mũ bảo hiểm (có quy định khối lượng toàn bộ) và được cho thả rơi tự do từ một độ cao nhất định rơi xuống đe bằng thép. Phép thử yêu cầu tất cả các loại mũ phải thử va đập hai lần, tại cùng một vùng, hai vị trí thử trên vùng không được sai biệt quá 6 mm.
Lưu ý là ở nước ngoài, người đi mô tô có dung tích xy lanh lớn, thường chạy với vận tốc cao nên các phép thử này tương đối là khắc nghiệt.
b. Gần đây, phiên bản mới của tiêu chuẩn Nhật Bản JIS T 8133:2007 “Proctective helmets for motor vehicle users” và tiêu chuẩn Đài Loan CNS 2396, Z 2009 “Protective helmets for drivers and passengers of motorcycle and mopeds” có thay đổi rõ rệt về phân loại mũ và phương pháp thử va đập & hấp thu xung động:
– Mũ dùng cho người đi mô tô có dung tích xy lanh nhỏ hơn hay bằng  125 cm3, chạy vận tốc đến 80 km/h thì được sử dụng loại mũ che nửa đầu hoặc loại mũ che ba phần tư đầu. Các loại mũ này thử va đập và hấp thu xung động chỉ một vị trí cho mỗi vùng thử;
– Mũ dùng cho người đi mô tô có dung tích xy lanh lớn hơn 125 cm3, chạy vận tốc cao trên 80 km/h thì phải sử dụng loại mũ che cả đầu và tai hoặc loại mũ che cả đầu, tai và hàm. Các loại mũ này thử va đập và hấp thu xung động ở hai vị trí cho mỗi vùng thử (như các quy định trước đây).
c. Từ cơ sở tham khảo hai tiêu chuẩn của Nhật Bản và Đài Loan ở trên, xem xét tương ứng với điều kiện giao thông, xã hội của nước ta, phiên bản mới của tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5756:2017 và QCVN 2:2021/BKHCN quy định thử va đập và hấp thu xung động gần giống như quy định trong hai tiêu chuẩn Nhật và Đài Loan.
d. Trong kỹ thuật thử va đập, có một lưu ý lớn là khi xem xét động năng va đập vào mũ; mặc dù có cùng khối lượng, cùng độ cao nhưng sẽ khác nhau nếu có sự ma sát trong quá trình trượt của khối dạng đầu mang mũ bảo hiểm rơi xuống.
Điều này đã được giải quyết trong phiên bản tiêu chuẩn TCVN 5756:2017, bằng cách đưa ra quy định vận tốc khi va đập, còn chiều cao rơi chỉ là giá trị tham khảo. Như vậy, với các thiết bị thử có độ ma sát cao hơn bình thường, người thử phải lưu ý nâng độ cao lên cho vận tốc khi va đập trên mũ đáp ứng yêu cầu.
e. Phương pháp thử va đập và hấp thu xung động chỉ một lần cho loại mũ thông dụng ở nước ta (mũ che nửa đầu và che ba phần tư đầu) trong phiên bản mới này.
Thử nghiệm va đập và hấp thu xung động theo QCVN 2:2008/BKHCN cho tất cả các loại mũ
Thử nghiệm va đập và hấp thu xung động theo QCVN 2:2021/BKHCN loại mũ che nửa đầu và loại mũ che ba phần tư đầu
Loại mũ che cả đầu và tai; loại mũ che cả đầu, tai và hàm
6.3. Các phương pháp thử độ bền đâm xuyên; quai đeo; độ ổn định; góc nhìn; kính bảo vệ
Phương pháp thử ở các chỉ tiêu này trong phiên bản quy chuẩn mới 2021 không có gì thay đổi, khác biệt so với phiên bản cũ năm 2008. 
Bộ Khoa học & Công nghệ đã chỉ định QUATEST 3 thực hiện thử nghiệm, giám định và chứng nhận hợp qui đối với sản phẩm mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy. Các chỉ tiêu thử nghiệm đối với sản phẩm mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy do QUATEST 3 thực hiện đã được công nhận theo ISO/IEC 17025.
7. Ghi nhãn
Trong QCVN 2:2021/BKHCN ngoài các thông tin ghi nhãn theo phiên bản năm 2008, yêu cầu trên mũ và trên bao bì phải có ghi nhãn thêm các thông tin về:
– Xuất xứ hàng hóa;
– Kiểu mũ;
– Hướng dẫn sử dụng;
– Thông tin cảnh báo; 
– Ghi khối lượng mũ cùng với dung sai khối lượng.
8. Quy định về quản lý
8.1. Mũ bảo hiểm sản xuất trong nước phải công bố hợp quy theo các quy định mới như Thông tư 06/2020/TT-BKHCN ngày 10/12/2020 và các văn bản pháp quy liên quan trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường.
8.2. Mũ nhập khẩu phải được kiểm tra nhà nước về chất lượng, được gắn dấu CR trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường, trong khi đối với quy chuẩn năm 2008, các mũ nhập khẩu này phải được chứng nhận hợp quy.
8.3. Trong quy chuẩn năm 2021, có quy định việc thử nghiệm phục vụ chứng nhận hợp quy được thực hiện tại tổ chức thử nghiệm được chỉ định.
8.4. Các phương thức đánh giá sự phù hợp giống nhau giữa hai phiên bản của quy chuẩn là phương thức 5 và phương thức 7.
9. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân
Trong QCVN 2:2021/BKHCN quy định nhiều hơn về trách nhiệm cho các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu, tổ chức cá nhân phân phối mũ bảo hiểm, các tổ chức đánh giá sự phù hợp và các tổ chức chứng nhận.
10. Nhận xét chung
Phiên bản mới của quy chuẩn QCVN 2:2021/BKHCN này có một số thay đổi đáng kể về phân loại, thuần hóa mẫu thử và nhất là có quy định phương pháp thử ở chỉ tiêu va đập & hấp thu xung động cho loại mũ thường sử dụng ở nước ta, người đi xe chạy với vận tốc dưới 80 km/h là nhẹ nhàng hơn, phù hợp hơn so với phiên bản cũ.
Theo “Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật” ban hành ngày 29/06/2006 thì “… việc tổ chức rà soát quy chuẩn kỹ thuật định kỳ năm năm một lần hoặc sớm hơn khi cần thiết, kể từ ngày ban hành“. Với quy chuẩn mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy, chúng ta thấy đến hơn 10 năm mới được soát xét và ban hành lại.
tcvn.gov.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Hỗ trợ đăng ký bảo hộ sáng chế 30 triệu đồng/đơn (12/10/2021)
Đến năm 2025, làm chủ công nghệ sản xuất 10 loại vắc xin và sản xuất được tối thiểu 03 loại vắc xin (05/10/2021)
Quy định về quản lý tài chính thực hiện Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030 (05/10/2021)
Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 (05/10/2021)
Phê duyệt Đề án “Phát triển công nghiệp sinh học ngành Công Thương đến năm 2030” (27/9/2021)
Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn triển khai hóa đơn điện tử (23/9/2021)
Ban hành Kế hoạch phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ đến năm 2025, tầm nhìn 2030 (15/9/2021)
Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thẻ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 (06/9/2021)
Ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình củng cố và phát triển hệ thống thông tin chuyên ngành dân số đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (31/8/2021)
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo (30/8/2021)
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 (27/8/2021)
Thúc đẩy phát triển và sử dụng nền tảng số an toàn, lành mạnh (26/8/2021)
Những điểm mới trong quy chuẩn về mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy (18/8/2021)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 8/2021 (03/8/2021)
Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, triển khai mô hình, hoạt động quản lý chất thải nhựa và sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường (26/7/2021)
Ban hành Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2030 (14/7/2021)
Ban hành danh sách mã định danh các cơ quan đơn vị hành chính và sự nghiệp thuộc UBND tỉnh Quảng Trị (09/7/2021)
Quy định yêu cầu kỹ thuật đối với dữ liệu thông tin đầu vào của Cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ (08/7/2021)
Xây dựng và hoàn thiện bổ sung các văn bản pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến trí tuệ nhân tạo (07/7/2021)
Hướng dẫn bảo hộ quyền đối với giống cây trồng (02/7/2021)
Quy định quản lý Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030 (01/7/2021)
Quy định mới về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập (24/6/2021)
Phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 (17/6/2021)
Quy định cơ chế tài chính thực hiện Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2021-2030 (09/6/2021)
Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải mức 5 đối với xe ô tô sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới (14/4/2021)
Ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu khoa học, sản xuất thuốc mới, thuốc dược liệu chất lượng cao (13/4/2021)
​Phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp đến năm 2030 (01/4/2021)
​Ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình hành động số 07-CTHĐ/TU ngày 08/01/2021 của Tỉnh ủy (30/3/2021)
​Một số điểm mới của Nghị định số 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ (29/3/2021)
​Ban hành quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp công nghệ cao (19/3/2021)
Thay đổi đối tượng, phương thức cho vay của Quỹ phát triển KHCN (16/3/2021)
Hình thành mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo hướng mở, linh hoạt (04/3/2021)
Đến năm 2030, hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia đạt xếp hạng 15 trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (26/02/2021)
Phê duyệt Đề án “Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị” (18/02/2021)
Ban hành Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2030 (05/02/2021)
Miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ (05/02/2021)
Ban hành Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030 (02/02/2021)
Ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 (29/01/2021)
Ban hành Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2030 (28/01/2021)
Ban hành QCVN về an toàn trong sản xuất, kinh doanh hóa chất nguy hiểm (18/01/2021)
Nghị định 142: Nhiều điểm mới thuận lợi cho công việc bức xạ (18/01/2021)
Phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030 (25/12/2020)
Ban hành thông tư về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia an toàn điện (23/12/2020)
Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc” trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (23/12/2020)
Thu hút, trọng dụng nhân tài hoạt động khoa học và công nghệ (22/12/2020)
Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (21/12/2020)
Khuyến khích chuyển đổi công nghệ mới, công nghệ sạch thân thiện môi trường (11/11/2020)
Ban hành Kế hoạch phát triển Thương mại điện tử tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2021-2025 (19/10/2020)
Sửa đổi quy định về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen (09/10/2020)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2020 (05/10/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo về kiến nghị của Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2021

Thông báo về việc tiếp tục đề xuất các ý tưởng, dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng trị năm 2021

Thông báo về việc đăng ký đề xuất nhiệm vụ, đặt hàng nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh, bắt đầu thực hiện năm 2022

Thông báo về việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,mức độ 4 trong thực hiện TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở KH&CN

Tăng cường quản lý nhà nước về kinh doanh đồ chơi trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 271
Hôm nay 836
Hôm qua 4.571
Tất cả 4.363.635
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!