Thứ Năm ngày 18/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 20/4/2022

Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba
Theo QCVN 04-05:2012/BNNPTNT mục 8.3.5 quy định: Những hồ chứa nước từ cấp I trở lên, ngoài tràn xả lũ chính phải bố trí thêm tràn xả lũ dự phòng (tràn xả lũ vượt lũ kiểm tra). Tràn xả lũ chính phải luôn đủ năng lực để xả được lũ thiết kế và lũ kiểm tra; Tràn xả lũ dự phòng kết hợp với tràn xả lũ chính phải xả được trận lũ vượt lũ kiểm tra, đảm bảo nước hồ không tràn qua đỉnh đập đất. Tần suất của trận lũ vượt lũ kiểm tra lấy theo quy định sau: Công trình cấp đặc biệt: lũ tần suất 0,01 % (tương ứng với chu kỳ lặp lại 10.000 năm) hoặc lũ cực hạn; Công trình từ cấp I trở xuống: lấy bằng tần suất lũ kiểm tra tương ứng với cấp công trình được tăng thêm một bậc.

Theo quyết định số 1077/QĐ-TTg ngày 07/07/2014 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba. Theo quyết định này trên sông Ba có các hồ chứa lớn như: An Khê - KaNak, Ayun Hạ, Krông Hnăng, Sông Hinh, Sông Ba Hạ. Theo QCVN 04- 05:2012/BNNPTNT các thuỷ điện này đều là công trình cấp 1 và được thiết kế và xây dựng trước năm 2012 (các quy định chủ yếu về thiết kế được áp dụng theo TCXDVN 285-2002) do đó việc thiết kế tràn xả lũ dự phòng để xả lũ vượt kiểm tra có thể chưa được nghiên cứu trong hồ sơ thiết kế. Trên cơ sở những phân tích ở trên cho thấy cần thiết phải xây dựng một bức tranh toàn cảnh cho từng lưu vực khi ứng phó với lũ vượt thiết kế.

Nhằm nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế của công trình (lũ vượt lũ kiểm tra) theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba, nhóm nghiên cứu của Viện năng lượng do ThS. Lê Nguyên Trung đứng đầu đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba”.

Sau một thời gian triển khai thực hiện, đề tài thu được một số kết quả như sau:

- Đề tài đã thu thập và xử lý một nguồn số liệu phong phú về địa hình, KTTV, hồ chứa, kinh tế-xã hội trên lưu vực sông Ba làm đầu vào cho bài toán.

- Những năm có lũ lớn trên lưu vực, tại trạm thủy văn Củng Sơn đo được như năm 1993 (20700 m3 /s), 2009 (13500 m3/s), 2016 (11800 m3/s), 2010 (8500 m3/s) cho thấy mưa thường xuất hiện trên toàn bộ lưu vực sông Ba thể hiện qua số liệu mưa ngày các trạm Sơn Hòa, MĐrắc, An Khê, AyunPa đều có lượng mưa ngày lớn hơn 100mm. Những trạm mưa nằm ngoài lưu vực sông Ba như PleiKu, Kon Tum, Buôn Hồ có lượng mưa không đáng kể. Lượng mưa ngày lớn nhất của các trạm MĐrắc, An Khê và Sơn Hoà có quan hệ khá chặt chẽ với lưu lượng dòng chảy lớn nhất tại trạm Củng Sơn. Do đó việc tính toán lũ trên lưu vực sông Ba có thể sử dụng lượng mưa của các trạm trong lưu vực sông Ba, các trạm lân cận lưu vực chỉ sử dụng để tham khảo.

- Sông Ba là con sông có tiềm năng xảy ra lũ lớn rất cao, môđun đỉnh lũ lớn rất nhiều so với hệ thống sông Hồng. Trong gần 100 năm qua, tại Củng Sơn đã xảy ra con lũ có Qmax trên 20000 m3/s. Thời gian duy trì các trận lũ thường chỉ 3-5 ngày. Lũ có biên độ lũ cao, cường suất nước lũ lớn, thời gian lũ lên ngắn, dạng lũ nhọn: Đặc điểm này là do cường độ mưa lớn, tập trung nhiều đợt, tâm mưa nằm ở trung hạ du các lưu vực sông, độ dốc sông lớn, nước tập trung nhanh.

- Thống kê lưu lượng lớn nhất năm của chuỗi 40 năm (1977-2016) cho thấy lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất năm thường xảy ra nhiều nhất vào tháng 11 (20 lần), tiếp đó đến tháng 10 (14 lần), tháng 12 (4 lần), các tháng khác có thể xảy ra lũ nhưng đều là lũ nhỏ thời gian ngắn. Qua phân tích các trận lũ nhận thấy ứng với các trận lũ lớn thì lượng mưa lớn thường xuất hiện tại trạm MĐRắc và Sơn Hòa. Đây là một yếu tố cần được quan tâm trong công tác dự báo dòng chảy sông Ba.

- Đề tài đã cập nhật số liệu khí tượng, thủy văn khu vực thời gian gần đây tính toán lại dòng chảy lũ, tổng lượng lũ, quá trình lũ tương ứng với các tần suất thiết kế và vượt thiết kế. Kết quả tính toán được so sánh với các kết quả tính toán của các đơn vị tư vấn khác. Kết quả lựa chọn của đề tài là hợp lý.

- Đề tài đã xây dựng mô hình Mike11, Mike21, Mike Flood cho lưu vực sông Ba và đánh giá ngập lụt cho 3 kịch bản: Lũ năm 1993, lũ 0,5% và lũ vượt kiểm tra 0,02%. Diện tích ngập lụt trên 1m của phương án lũ 0,5% và 0,02% tăng mạnh so với phương án hiện trạng (1993) là 22,9% và 38,3%.

- Đánh giá khả năng ứng phó của các thuỷ điện với lũ vượt thiết kế: Trên cơ sở quá trình lũ thiết kế, kiểm tra và vượt kiểm tra tiến hành tính toán điều tiết lũ cho các thuỷ điện. Kết quả tính toán cho thấy: Thủy điện An Khê - KaNak có thể ứng phó với lũ vượt kiểm tra (0,02%) và công trình vẫn đảm bảo an toàn; Thủy điện Ayun Hạ, Krông HNăng, Sông Ba Hạ, Sông Hinh khi gặp lũ kiểm tra sẽ có mực nước hồ lớn nhất vượt đỉnh đập hoặc vượt mực nước cao nhất cho phép theo QTVHLHSB 2018.

- Giải pháp phi công trình và giảm ngập lụt hạ du: Giải pháp phi công trình phù hợp nhất là giải pháp tăng dung tích phòng lũ cho các hồ để giảm tác động ngập lụt dưới hạ du. Phương án tăng dung tích phòng lũ có thể nâng cao đập hoặc giảm mực nước đón lũ. Trong đề tài nghiên cứu tăng dung tích phòng lũ bằng cách giảm mực nước đón lũ. Kết quả lựa chọn của đề tài là kết quả của PA3 (Z đón lũ giảm 3m so với quy định của QTVHLHSB 2018) để ứng phó với lũ vượt kiểm tra nhằm giảm ngập lụt hạ du, kết quả tính toán cho thấy giảm được 249,3 triệu m3 nước về hạ du.

- Đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình: Sau khi các hồ có giải pháp tăng dung tích phòng lũ, một số hồ vẫn có mực nước lớn nhất cao hơn mực nước lớn nhất cho phép cuả hồ chứa theo QTVHLHSB 2018. Các hồ này cần có giải pháp công trình để đưa mực nước lớn nhất về mực nước cho phép khi gặp lũ vượt kiểm tra. Đề tài nghiên cứu bản vẽ thiết kế, đi thực địa công trình và sơ bộ vị trí, kích thước công trình cho các hồ chứa. Tính toán điều tiết đảm bảo mực nước lớn nhất không vượt quá cao trình mực nước lớn nhất cho phép của các hồ Ayun Hạ, Krông HNăng, Sông Hinh và Sông Ba Hạ.

Việc ứng phó với lũ vượt kiểm tra cần được nghiên cứu cụ thể cho từng lưu vực và từng hồ chứa. Để chủ động trong quá trình vận hành hồ chứa cần đầu tư phát triển và hoàn thiện phần mềm công nghệ, nâng cao tính tự động hóa trong quá trình vận hành hồ chứa cũng như phát triển và hoàn thiện phương pháp và công nghệ để có thể dự báo mưa, lũ và vận hành liên hồ thời gian thực. Để thực hiện nghiêm túc quy chuẩn QCVN 04 - 05:2012/BNNPTNT, các đơn vị quản lý cần giám sát chặt chẽ nội dung ứng phó với lũ vượt kiểm tra của các hồ chứa xây dựng mới. Với các hồ đã xây dựng cần nghiên cứu hướng dẫn các chủ hồ chứa đánh giá lũ vượt kiểm tra, đề xuất các giải pháp ứng phó và thực hiện nghiêm túc các giải pháp ứng phó với lũ vượt kiểm tra.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 17048/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu xây dựng, ứng dụng và phổ biến bộ công cụ chẩn đoán doanh nghiệp ngành công thương (15/8/2022)
Nghiên cứu chính sách, mô hình Quỹ Chất lượng Dịch vụ (QSF) của UPU và đề xuất khai thác hiệu quả cho Việt Nam (15/8/2022)
Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1 (15/8/2022)
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (09/8/2022)
Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn (09/8/2022)
Sản xuất viên nang Zerumboner từ cây gừng gió Việt Nam (08/8/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học trên cơ sở sợi collagen tự nhiên từ vảy cá (08/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống pilot chế biến xỉ titan thành sản phẩm TiCl4 và TiO2 công suất 50kg/h (05/8/2022)
Nghiên cứu axit hóa đại dương vùng biển phía Nam (05/8/2022)
Nghiên cứu chế phẩm từ vi khuẩn tía quang hợp xử lý ô nhiễm ao hồ nuôi trồng thủy sản (05/8/2022)
Sản xuất giống hoa lan hồ điệp quy mô công nghiệp bằng công nghệ vi nhân giống (05/8/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (04/8/2022)
Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của quả me rừng (Phyllanthus emblica L.) (04/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tưới nước thông minh, tiết kiệm bằng hệ thống cảm biến độ ẩm cho một số loại cây trồng ở vùng hạn hán (03/8/2022)
Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho bò đực giống Brahman sản xuất tinh đông lạnh tại Việt Nam (03/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (02/8/2022)
Mối liên hệ giữa đột biến gen và khả năng kháng thuốc điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu xác định cách thức nhằm mục tiêu cụ thể và ngăn chặn các tế bào bạch cầu liên quan đến bệnh tật (02/8/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành giao thông vận tải chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên nang Zerumboner từ cây Gừng gió Việt Nam (Zingiber Zerumbet Smith) để hỗ trợ điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ logistics của Việt Nam (02/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo mô hình hệ thống điện năng lượng mặt trời theo phương pháp tự động dò bám (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất và phát triển sản phẩm mới chè xanh viên nén phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu (02/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tích hợp hóa sinh chế biến rượu vang chất lượng cao từ quả điều (02/8/2022)
Nghiên cứu cải tiến và hoàn thiện công nghệ chọn tạo, phát triển sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả chủ lực ở Việt Nam (29/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và thiết bị cơ giới hóa đồng bộ sản xuất mía tại các vùng chuyên canh (29/7/2022)
Nghiên cứu kinh nghiệm chuyển đổi số của các nước và đề xuất xây dựng chiến lược chuyển đổi số cho Việt Nam (29/7/2022)
Chiến lược biển của một số quốc gia trên thế giới và gợi ý chính sách cho Việt Nam (29/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa tin học trong việc lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh ở Việt Nam (26/7/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (26/7/2022)
Nghiên cứu phương pháp mới gây đột biến ở ngô bằng xử lí hóa chất EMS trên hạt phấn và câu đột biến có định hướng (TILLING) phục vụ nghiên cứu và chọn giống ngô (22/7/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai) (22/7/2022)
Nghiên cứu chế tạo KIT phát hiện nhanh Aflatoxin B1 trong thức ăn chăn nuôi và Aflatoxin M1 trong sữa tươi (22/7/2022)
Thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ (19/7/2022)
Ứng dụng công nghệ sinh học đa dạng hóa sản phẩm từ nấm (18/7/2022)
Nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với biến đổi khí hậu (15/7/2022)
Nano Selen có vai trò như một Auxin mới trong ra rễ thực vật nuôi cấy in vitro (14/7/2022)
Quy trình kích tăng tỷ lệ hoa cái trên cây sacha inchi Plukenetia volubilis (14/7/2022)
Mở rộng tiềm năng kinh tế của Sacha inchi dựa trên khoa học và công nghệ (14/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu cacbon cấu trúc nano trong việc nâng cao các tính chất cơ học của lớp mạ điện công nghiệp (14/7/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (13/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm chế phẩm AM in vitro cho cây trồng lâm nghiệp (13/7/2022)
Nghiên cứu các giải pháp công nghệ đối với cầu đường sắt tại các vị trí đường cong có bán kính nhỏ cho hệ thống đường sắt tốc độ cao (11/7/2022)
Nghiên cứu sử dụng GII như một công cụ chính sách phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam (11/7/2022)
Nghiên cứu cơ chế quan hệ đối tác công tư và các chính sách, giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến công nghệ tại Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu tác động của các hiệp định đa biên về dịch vụ vận tải hàng không giữa các nước trong ASEAN và đề xuất chính sách cho Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nguyên liệu và sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh ung thư từ cây thuốc Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo và nấm Linh chi tại Lào Cai và vùng Tây Bắc (07/7/2022)
Tạo hạt nano vàng bằng phương pháp nuôi mầm (05/7/2022)
Chế tạo β-glucan khối lượng phân tử thấp bằng phương pháp chiếu xạ và khảo sát hiệu ứng giải độc gan, bảo vệ bức xạ định hướng làm thực phẩm chức năng (05/7/2022)
Tận dụng phế phẩm nông nghiệp (cùi bắp, rơm rạ) để phát triển nghề trồng nấm bào ngư (Pleurotus sp.) ở tỉnh Sóc Trăng (05/7/2022)
Thông báo về việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Thông báo Ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại buổi làm việc với Hội Doanh nhân trẻ Quảng Trị

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.250
Hôm nay 2.922
Hôm qua 6.086
Tất cả 6.217.904
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!