Thứ Năm ngày 18/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 27/4/2022

Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn để xử lý nước thải ao nuôi cá tra
Ô nhiễm môi trường nước đang là thách thức lớn đối với nước ta trong những năm gần đây, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị. Ở khu vực nông thôn, tình trạng ô nhiễm nguồn nước cũng không ngừng gia tăng. Việc lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón trong sản xuất nông nghiệp, nước thải nuôi trồng thủy sản (NTTS), nước thải chăn nuôi làm cho các nguồn nước sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, vẻ đẹp mỹ quan và sức khỏe của con người.

Hiện nay, nhiều mô hình đã được áp dụng để xử lý nước thải NTTS như sử dụng như phương pháp sinh học; phương pháp oxy hóa nâng cao; phương pháp nuôi trồng kết hợp thực vật thủy sinh; sử dụng mô hình đất ngập nước kiến tạo chảy ngang, hoặc chảy đứng. Các phương pháp này đã phát huy được tác dụng, làm giảm thiểu đáng kể tình trạng ô nhiễm nguồn nước do hoạt động NTTS gây ra. Mỗi phương pháp xử lý đều có những ưu và nhược điểm riêng, nhưng nhìn chung, chưa thể đáp ứng được yêu cầu.

Hấp phụ là một trong những phương pháp xử lý nước thải hiệu quả, chi phí vận hành thấp, thân thiện với môi trường. Chất hấp phụ rất phong phú, đa dạng như: vật liệu tổng hợp; biến tính từ khoáng sét tự nhiên; tận dụng phế, phụ phẩm trong nông nghiệp.

Với hệ thống lỗ xốp phát triển, chứa nhiều nhóm chức trên bề mặt nên than bùn có khả năng hấp phụ cao, có thể sử dụng để xử lý các chất ô nhiễm trong môi trường nước. Nếu được hoạt hóa và xử lý trong điều kiện thích hợp thì độ xốp, hệ thống mao quản, hoạt tính bề mặt, diện tích bề mặt riêng sẽ tăng lên rất nhiều. Khả năng xử lý chất ô nhiễm sẽ tăng lên, nhất là các chất hữu cơ, dinh dưỡng trong nước thải nuôi trồng thủy sản.

Xuất phát từ những lý do trên, Cơ quan chủ trì Trường Đại học Đồng Tháp cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài PGS.TS. Hồ Sỹ Thắng cùng thực hiện Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn để xử lý nước thải ao nuôi cá tra”. Với mục tiêu: Chế tạo được vật liệu hấp phụ từ than bùn và đánh giá khả năng loại bỏ một số chất gây ô nhiễm trong nước thải ao nuôi cá tra.

Thời gian gần đây, vật liệu hấp phụ, xúc tác thu hút được rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học bởi những ứng dụng trong hóa dầu, tổng hợp hữu cơ, xử lý môi trường,... Các dòng vật liệu có thể kể đến như họ MCM (MCM-41, MCM48, MCM-50); họ SBA (SBA-1, SBA-15, SBA-16); vật liệu khung hữu cơ; vật liệu có nguồn gốc từ khoáng sét như zeolite, diatomite, bentonite, đá ong, vật liệu có nguồn gốc từ phế, phụ phẩm nông nghiệp.

Vật liệu mao quản trung bình (MQTB) MCM-41: Thành (hay tường mao quản) của vật liệu này được cấu tạo từ dioxide silic vô định hình nhưng hệ thống MQTB sắp xếp trật tự theo kiểu lục lăng, diện tích bề mặt riêng cao. Tính chất này làm cho vật liệu MCM-41 trở thành chất mang rất quan trọng đối với các quá trình hấp phụ, xúc tác dị thể. Hơn thế nữa, do MCM-41 có hệ thống MQTB nên dễ dàng cho phép các phân tử lớn đi vào mao quản, khắc phục được sự cản trở do khuếch tán mà vật liệu zeolite thường gặp. Đây là vấn đề giới hạn đối với vật liệu mao quản nhỏ như là zeolite hoặc các hệ vật liệu rây phân tử khác. Tuy nhiên, bản chất một chiều của hệ mao quản cũng như độ dài tương đối lớn của ống MQTB (thường hàng trăm nanomet) có thể giới hạn về sự di chuyển các tác nhân phản ứng. Điểm hạn chế lớn nhất của họ vật liệu MCM là thành mao quản chỉ bao gồm dioxide silic nên hoạt tính bề mặt và khả năng ứng dụng không cao, vì thế, người ta thường biến tính bề mặt bằng các kim loại chuyển tiếp hoặc các nhóm chức hữu cơ.

Vật liệu MQTB SBA-15: Năm 1998, các nhà khoa học đã công bố một loại vật liệu mới, ký hiệu là SBA-15 (Santa Barbara Acid). Cấu trúc silica trật tự lục lăng với các mao quản đồng nhất (lên đến 300 Å) được điều chế bằng cách dùng template không ion làm tác nhân định hướng cấu trúc (ĐHCT) trong môi trường acid. SBA-15 có cấu trúc MQTB trật tự hai chiều với tường silica đồng nhất. Vật liệu này có diện tích bề mặt từ 600 đến 1000 m2 /g. Ưu điểm của SBA-15 là thành mao quản dày, bền nhiệt, diện tích bề mặt riêng lớn, thích hợp làm chất mang xúc tác, hấp phụ cho rất nhiều phản ứng hoặc xử lý các chất ô nhiễm trong môi trường.

Vật liệu MQTB SBA-16 là loại vật liệu silica với bộ khung MQTB sắp xếp trong không gian có dạng lập phương tâm khối. Cũng giống như SBA-15, vật liệu này được tổng hợp trong môi trường acid dùng chất ĐHCT Pluronic không ion. Nguồn silic thường dùng là TEOS, TMOS hoặc thủy tinh lỏng, chất ĐHCT là F127 hoặc phối trộn 2 chất ĐHCT là F127 và P123 trong môi trường acid HCl, có mặt butanol hoặc etanol làm chất đồng mixen [40]. Pha MQTB có kích thước tương đối lớn, đồng đều, cấu trúc không gian 3 chiều, kiểu Im3m, diện tích bề mặt riêng lớn, bền nhiệt, làm chất nền xúc tác phù hợp đối với các phân tử lớn, cồng kềnh. Trong vật liệu SBA-16, mỗi mao quản dạng cầu được nối với 8 mao quản dạng cầu lân cận khác.

Diatomite là loại khoáng tự nhiên có cấu trúc mao quản với thành phần chủ yếu là oxide silic và nhiều tạp chất khác. Trong đó, các dạng khoáng sắt tồn tại như là tạp chất chính. Tùy theo mỗi vùng, các loại diatomite có cấu trúc và thành phần khác nhau. Diatomite được sử dụng rộng rãi làm chất cách âm và cách nhiệt. Ngoài ra, diatomite cũng được thử nghiệm như là những chất mang lý tưởng trong các phản ứng hydro hoá, phản ứng oxy hoá, hấp phụ, xúc tác. Ở nước ta, tỉnh Phú Yên có trữ lượng lớn diatomite, đây là nguồn khoáng sét rất quý giá để chế tạo vật liệu hấp phụ, xúc tác. Hiện nay, rất nhiều nhóm nghiên cứu biến tính diatomite bằng các kim loại chuyển tiếp để hấp phụ các ion kim loại nặng trong môi trường nước.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Đã xác định được điều kiện thích hợp hay quy trình chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn có khả năng hấp phụ tốt các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng trong nước thải. Đó là hoạt hóa than bùn trong acid H2SO4 nồng độ 2,0 M, sấy mẫu ở nhiệt độ 150 độ C.

Đặc trưng tính chất vật liệu bằng các phương pháp hiện đại như phân tích nhiệt, EDX, XRD, SEM, BET và FT - IR. Vật liệu có độ xốp và diện tích bề mặt tương đối cao (Sr = 124,97 m 2/g), hệ thống mao quản phần nào đã được khơi thông và sắp xếp trật tự. Trên bề mặt vật liệu chứa nhiều loại nhóm chức có khả năng hấp phụ cao trong vật liệu như carboxylic, phenol và các nhóm chức khác.

Thực hiện quá trình hấp phụ NH4NO3, kết quả cho thấy, thời gian hấp phụ đạt cân bằng là 120 phút. Dung lượng hấp phụ cân bằng 25 qe = 58,42 mg/g. Động học hấp phụ tuân theo phương trình biểu kiến bậc 2 loại 2, hằng số tốc độ hấp phụ k2.2 = 1,006.10-3 (g.mg-1.phút-1), đẳng nhiệt hấp phụ tuân theo phương trình Freundlich với hệ số tương quan cao, R 2 = 0,9985, hằng số kinh nghiệm KF = 1,0678.

Phân tích nồng độ NH4NO3 và các chỉ tiêu chất lượng nước thải trước và sau hấp phụ để đánh giá khả năng xử lý của vật liệu như: pH, DO, BOD5, COD, TSS, TDS, tổng phosphor, NH4 +, NO3 -, tổng nitơ theo các TCVN hiện hành, so sánh với quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT.

Thực hiện quá trình hấp phụ các chất ô nhiễm trong nước thải ao nuôi cá tra theo mẻ. Xác định được một số điều kiện hấp phụ xử lý các chất gây ô nhiễm như: thời gian hấp phụ đạt cân bằng là 150 phút; Lượng chất hấp phụ sử dụng là 2,0 gam để xử lý 1,0 lít nước thải ao nuôi cá tra đạt yêu cầu cột A trong QCVN 40:2011/BTNMT.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17248/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu xây dựng, ứng dụng và phổ biến bộ công cụ chẩn đoán doanh nghiệp ngành công thương (15/8/2022)
Nghiên cứu chính sách, mô hình Quỹ Chất lượng Dịch vụ (QSF) của UPU và đề xuất khai thác hiệu quả cho Việt Nam (15/8/2022)
Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1 (15/8/2022)
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (09/8/2022)
Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn (09/8/2022)
Sản xuất viên nang Zerumboner từ cây gừng gió Việt Nam (08/8/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học trên cơ sở sợi collagen tự nhiên từ vảy cá (08/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống pilot chế biến xỉ titan thành sản phẩm TiCl4 và TiO2 công suất 50kg/h (05/8/2022)
Nghiên cứu axit hóa đại dương vùng biển phía Nam (05/8/2022)
Nghiên cứu chế phẩm từ vi khuẩn tía quang hợp xử lý ô nhiễm ao hồ nuôi trồng thủy sản (05/8/2022)
Sản xuất giống hoa lan hồ điệp quy mô công nghiệp bằng công nghệ vi nhân giống (05/8/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (04/8/2022)
Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của quả me rừng (Phyllanthus emblica L.) (04/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tưới nước thông minh, tiết kiệm bằng hệ thống cảm biến độ ẩm cho một số loại cây trồng ở vùng hạn hán (03/8/2022)
Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho bò đực giống Brahman sản xuất tinh đông lạnh tại Việt Nam (03/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (02/8/2022)
Mối liên hệ giữa đột biến gen và khả năng kháng thuốc điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu xác định cách thức nhằm mục tiêu cụ thể và ngăn chặn các tế bào bạch cầu liên quan đến bệnh tật (02/8/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành giao thông vận tải chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên nang Zerumboner từ cây Gừng gió Việt Nam (Zingiber Zerumbet Smith) để hỗ trợ điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ logistics của Việt Nam (02/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo mô hình hệ thống điện năng lượng mặt trời theo phương pháp tự động dò bám (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất và phát triển sản phẩm mới chè xanh viên nén phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu (02/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tích hợp hóa sinh chế biến rượu vang chất lượng cao từ quả điều (02/8/2022)
Nghiên cứu cải tiến và hoàn thiện công nghệ chọn tạo, phát triển sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả chủ lực ở Việt Nam (29/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và thiết bị cơ giới hóa đồng bộ sản xuất mía tại các vùng chuyên canh (29/7/2022)
Nghiên cứu kinh nghiệm chuyển đổi số của các nước và đề xuất xây dựng chiến lược chuyển đổi số cho Việt Nam (29/7/2022)
Chiến lược biển của một số quốc gia trên thế giới và gợi ý chính sách cho Việt Nam (29/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa tin học trong việc lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh ở Việt Nam (26/7/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (26/7/2022)
Nghiên cứu phương pháp mới gây đột biến ở ngô bằng xử lí hóa chất EMS trên hạt phấn và câu đột biến có định hướng (TILLING) phục vụ nghiên cứu và chọn giống ngô (22/7/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai) (22/7/2022)
Nghiên cứu chế tạo KIT phát hiện nhanh Aflatoxin B1 trong thức ăn chăn nuôi và Aflatoxin M1 trong sữa tươi (22/7/2022)
Thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ (19/7/2022)
Ứng dụng công nghệ sinh học đa dạng hóa sản phẩm từ nấm (18/7/2022)
Nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với biến đổi khí hậu (15/7/2022)
Nano Selen có vai trò như một Auxin mới trong ra rễ thực vật nuôi cấy in vitro (14/7/2022)
Quy trình kích tăng tỷ lệ hoa cái trên cây sacha inchi Plukenetia volubilis (14/7/2022)
Mở rộng tiềm năng kinh tế của Sacha inchi dựa trên khoa học và công nghệ (14/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu cacbon cấu trúc nano trong việc nâng cao các tính chất cơ học của lớp mạ điện công nghiệp (14/7/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (13/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm chế phẩm AM in vitro cho cây trồng lâm nghiệp (13/7/2022)
Nghiên cứu các giải pháp công nghệ đối với cầu đường sắt tại các vị trí đường cong có bán kính nhỏ cho hệ thống đường sắt tốc độ cao (11/7/2022)
Nghiên cứu sử dụng GII như một công cụ chính sách phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam (11/7/2022)
Nghiên cứu cơ chế quan hệ đối tác công tư và các chính sách, giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến công nghệ tại Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu tác động của các hiệp định đa biên về dịch vụ vận tải hàng không giữa các nước trong ASEAN và đề xuất chính sách cho Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nguyên liệu và sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh ung thư từ cây thuốc Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo và nấm Linh chi tại Lào Cai và vùng Tây Bắc (07/7/2022)
Tạo hạt nano vàng bằng phương pháp nuôi mầm (05/7/2022)
Chế tạo β-glucan khối lượng phân tử thấp bằng phương pháp chiếu xạ và khảo sát hiệu ứng giải độc gan, bảo vệ bức xạ định hướng làm thực phẩm chức năng (05/7/2022)
Tận dụng phế phẩm nông nghiệp (cùi bắp, rơm rạ) để phát triển nghề trồng nấm bào ngư (Pleurotus sp.) ở tỉnh Sóc Trăng (05/7/2022)
Thông báo về việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Thông báo Ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại buổi làm việc với Hội Doanh nhân trẻ Quảng Trị

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.243
Hôm nay 2.321
Hôm qua 6.086
Tất cả 6.217.303
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!