Thứ Năm ngày 18/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 04/5/2022

Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống
Cá rô phi đỏ (O. spp) được phát hiện lần đầu tiên năm 1969 tại một trại nuôi cá rô phi ở phía Nam Đài Loan. Từ phát hiện này, một quần thể cá rô phi đỏ đầu tiên được phát triển tại Viện Nghiên cứu Thủy sản Đài Loan (Kuo, 1969). Số cá rô phi đỏ này được ghi nhận là con lai giữa cá rô phi đen (O. mossambicus) đột biến màu (mutant-coloured) với cá rô phi vằn (O. Niloticus) (Liao và Chen, 1983). Một số dòng cá rô phi đỏ khác, ví dụ như dòng cá rô phi đỏ Florida, được tạo ra bằng cách lai giữa 4 loài cá rô phi, đó là cá rô phi đen với cá rô phi vằn, cá rô phi xanh (O. aureus) và cá rô phi Zanzibar (O. urolepis-hornorum) (McAndrew và ctv, 1988; Lovshin, 200; Desprez và ctv, 2006). Tuy nhiên, cá rô phi đỏ có nguồn gốc từ cá rô phi đen với cá rô phi vằn là phổ biến nhất, đặc biệt tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Trung Đông (Huang và ctv, 1988, Reich và ctv, 1990, Mather và ctv, 2001).

Do đó một số tác giả khi đề cập đến cá rô phi đỏ chỉ trích dẫn là con lai của cá rô phi đen hoặc cá rô phi vằn mà không giải thích gì thêm (Romana-Eguia, 2004, Medeiros và ctv, 2004, Wing-Keong và Rosdiana, 2007). Một số nhóm cá rô phi đỏ cũng được phát hiện trong một quần thể cá rô phi đen (Wohlfarth và ctv, 1990) hoặc cá rô phi vằn (McAndrew và ctv, 1988) thuần chủng. Tóm lại, cá rô phi đỏ không phải là một loài cá rô phi riêng biệt mà chỉ là con lai giữa hai (hoặc tối đa 4) loài cá rô phi khác nhau.

Có thể dễ dàng phân biệt cá rô phi đỏ với các loài cá rô phi khác bằng màu sắc. Cá rô phi đỏ có các màu từ xám, trắng, hồng, đỏ cam, có thể lẫn các đốm đen. Ngoại hình cá không khác biệt so với cá rô phi vằn ở các chỉ tiêu hình thái như chiều cao thân, chiều dài đầu, chiều dài chuẩn, đường kính mắt, số gai cứng vây lưng, số tia vây lưng mềm, số tia vây hậu môn và số cung mang (Pante và ctv, 1988). Các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản của cá rô phi đỏ cũng tương tự như cá rô phi vằn, tuy nhiên cá rô phi đỏ (đặc biệt là dòng rô phi đỏ Florida) có sức chịu mặn tốt hơn, do đó có thể sống và tăng trưởng tốt ở môi trường mặn lợ (Romana-Eugia và Eguia, 1999, 2004).

Ở Việt Nam, cá rô phi đỏ được nuôi chủ yếu ở miền Nam, nơi có những điều kiện về thổ nhưỡng, thủy lưu thích hợp nhất cho loài cá này, đặc biệt là ở các tỉnh, thành phố thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long như Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và Vĩnh Long. Cá rô phi đỏ còn được gọi là cá điêu hồng tại Nam Bộ. Năm 2015, sản lượng cá rô phi đỏ của Việt Nam đạt 59.750 tấn, chiếm 47,8% tổng sản lượng cá rô phi trong cả nước (seafood-tip, 2017).

Cá rô phi đỏ chọn giống của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II là nguồn vật liệu tốt, góp phần cải thiện chất lượng con giống cho người nuôi so về tốc độ tăng trưởng (>24% so với cá không chọn lọc) và màu sắc, mang lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi, đóng góp kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Vì vậy, việc triển khai dự án phát tán cá rô phi đỏ chất lượng (tăng trưởng nhanh, màu sắc đẹp) là cần thiết của nghề nuôi cá rô phi đỏ tại Nam Bộ; song song đó các cơ sở sản xuất giống cần được đào tạo tập huấn về kỹ thuật quản lý cá bố mẹ, kỹ thuật sản xuất giống, ương nuôi cá giống đảm bảo chất lượng cung ứng nhu cầu cho cả nước.

Xuất phát từ thực tiễn đó, Cơ quan chủ trì Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài Ths.Trần Hữu Phúc thực hiện đề tài “Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống” với mục tiêu Chủ động sản xuất giống cá rô phi đỏ bố mẹ có tốc độ tăng trưởng nhanh, chịu mặn từ nguồn cá chọn giống trong nước.

Nghề nuôi cá rô phi đỏ hiện đang gặp khó khăn về chất lượng con giống. Thứ nhất, tăng trưởng kém, cá rô phi đỏ nuôi bè hoặc nuôi đăng quần sau 6 tháng có thể đạt trung bình 500 g/con, mức tăng trưởng này chỉ bằng 80% so với cá rô phi vằn dòng GIFT, do đó hiệu quả 13 kinh tế chưa cao. Thứ hai, sức sống thấp, con giống có sức khỏe kém, dễ bệnh, tỉ lệ hao hụt cao (tỷ lệ chết là 35% vào năm 2014 (Boerlage AS và ctv., 2017) và có thời điểm tỉ lệ hao hụt lên tới 70% (Trịnh Quốc Trọng và ctv., 2016) từ giai đoạn cá giống đến khi thu hoạch) làm tăng chi phí sản xuất, nghề nuôi đạt hiệu quả kém. Các chỉ tiêu trong quá trình nuôi đều bị ảnh hưởng từ chất lượng con giống thấp, ví dụ như tỉ lệ sống thấp, hệ số chuyển hóa thức ăn cao, chi phí thuốc phòng trị bệnh tốn kém. Thứ ba, cá rô phi đỏ hiện nay có màu sắc không thuần nhất, đôi khi lẫn nhiều đốm đen, làm giảm giá trị của sản phẩm. Thị trường luôn ưa chuộng và trả giá cao hơn cho những cá thể có màu hồng phấn hoàn toàn, không lẫn đốm đen. Nhìn chung thị trường nội địa đánh giá chất lượng con giống theo những tiêu chí sau (xếp theo mức độ quan trọng): màu hồng thuần nhất, không có đốm đen, tỉ lệ sống, tăng trưởng nhanh.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Kết quả duy trì đạt 1.512 con, khối lượng trung bình tại thời điểm kết thúc dự án đạt 652,7 g/con, tỷ lệ sống theo từng năm đạt dao động từ 92,4 - 99,0%, tỷ lệ sống tích lũy trong 3 năm đạt 88,9% (đạt yêu cầu TMĐC: số lượng 1.500 con; khối lượng trung bình > 500 g/con; tỷ lệ sống hàng năm đạt >90%).

Trong 3 năm 2016-2018, dự án đã chuyển giao 77.000 cá hậu bị cho 8 cơ sở sản xuất cá bột, bao gồm 62.000 con được sinh sản từ bố mẹ chọn giống tăng trưởng nhanh trong môi trường nước ngọt và 15.000 con được sinh sản từ bố mẹ chọn giống tăng trưởng nhanh trong môi trường nước lợ mặn. Khối lượng trung bình của cá khi chuyển giao đạt dao động 100 - 120 g/con, tỷ lệ đực : cái khi chuyển giao là 1:3. Đàn cá hậu bị đã chuyển giao là đàn con của quần thể chọn giống tăng trưởng nhanh và màu sắc đẹp thế hệ thứ 3 (G3). (Đạt theo yêu cầu TMĐC đề ra: cung cấp 75.000 cá hậu bị (60.000 con thuộc dòng nước ngọt và 15.000 con thuộc dòng lợ mặn); khối lượng khi chuyển giao >100g/con; tỷ lệ đực:cái khi chuyển giao là 1:3).

Đã xây dựng 2 mô hình sản xuất giống tại (1) Công ty TNHH MTV Thương mại Sản xuất Thủy sản Tân Hưng (T.p Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long) và (2) tại cơ sở sản xuất cá bột Việt Yến (huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang - ương nuôi cá giống tại huyện Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ), hai mô sản xuất đạt gần 37.914.600 cá bột và ương nuôi cá giống đạt 2.482.552 con cá giống (hơn 1.200.000 con giống/mô hình), tổng khối lượng cá giống là 14.495 kg, khối 23 lượng cá giống trung bình dao động từ 5,1-6,7 g/con. Kết quả thực hiện mô hình cho thấy cá hậu bị bố mẹ chuyển giao có tỷ lệ thành thục (“sẵn sàng đẻ” và “sắp đẻ” (>70%)), sức sinh sản (500-900 cá bột/cá cái), tỷ lệ sống từ cá bột đến cá giống đạt trung bình từ 62,0 đến 65,3%. Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) ở cá giống thấp dao động từ 1,33 đến 1,48. (Kết quả thực hiện đạt yêu cầu TMĐC: Sản xuất được 1.200.000 cá giống/mô hình; Khối lượng trung bình đạt 5 g/con; Tỷ lệ sống đến cỡ cá giống >60%; Hệ số chuyển đổi thức ăn là FCR ≤ 1,5).

Đã tổ chức tập huấn (2 lớp) cho 38 đại diện của các cơ sở sản xuất giống trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp. Bao gồm hai phần: lý thuyết và thực hành về kỹ thuật quản lý đàn cá bố mẹ, kỹ thuật chọn cá bố mẹ đảm bảo chất lượng, phương pháp ghép lai cá đảm bảo chất lượng, phương pháp áp dụng và vận hành sản xuất giống đảm bảo chất lượng phục vụ truy xuất nguồn gốc. (Đạt yêu cầu TMĐC đề ra: hai lớp tập huấn (15 học viên/lớp); nội dung cả lý thuyết và thực hành).

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17252/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu xây dựng, ứng dụng và phổ biến bộ công cụ chẩn đoán doanh nghiệp ngành công thương (15/8/2022)
Nghiên cứu chính sách, mô hình Quỹ Chất lượng Dịch vụ (QSF) của UPU và đề xuất khai thác hiệu quả cho Việt Nam (15/8/2022)
Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1 (15/8/2022)
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (09/8/2022)
Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn (09/8/2022)
Sản xuất viên nang Zerumboner từ cây gừng gió Việt Nam (08/8/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học trên cơ sở sợi collagen tự nhiên từ vảy cá (08/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống pilot chế biến xỉ titan thành sản phẩm TiCl4 và TiO2 công suất 50kg/h (05/8/2022)
Nghiên cứu axit hóa đại dương vùng biển phía Nam (05/8/2022)
Nghiên cứu chế phẩm từ vi khuẩn tía quang hợp xử lý ô nhiễm ao hồ nuôi trồng thủy sản (05/8/2022)
Sản xuất giống hoa lan hồ điệp quy mô công nghiệp bằng công nghệ vi nhân giống (05/8/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (04/8/2022)
Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của quả me rừng (Phyllanthus emblica L.) (04/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tưới nước thông minh, tiết kiệm bằng hệ thống cảm biến độ ẩm cho một số loại cây trồng ở vùng hạn hán (03/8/2022)
Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho bò đực giống Brahman sản xuất tinh đông lạnh tại Việt Nam (03/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (02/8/2022)
Mối liên hệ giữa đột biến gen và khả năng kháng thuốc điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu xác định cách thức nhằm mục tiêu cụ thể và ngăn chặn các tế bào bạch cầu liên quan đến bệnh tật (02/8/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành giao thông vận tải chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên nang Zerumboner từ cây Gừng gió Việt Nam (Zingiber Zerumbet Smith) để hỗ trợ điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ logistics của Việt Nam (02/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo mô hình hệ thống điện năng lượng mặt trời theo phương pháp tự động dò bám (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất và phát triển sản phẩm mới chè xanh viên nén phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu (02/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tích hợp hóa sinh chế biến rượu vang chất lượng cao từ quả điều (02/8/2022)
Nghiên cứu cải tiến và hoàn thiện công nghệ chọn tạo, phát triển sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả chủ lực ở Việt Nam (29/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và thiết bị cơ giới hóa đồng bộ sản xuất mía tại các vùng chuyên canh (29/7/2022)
Nghiên cứu kinh nghiệm chuyển đổi số của các nước và đề xuất xây dựng chiến lược chuyển đổi số cho Việt Nam (29/7/2022)
Chiến lược biển của một số quốc gia trên thế giới và gợi ý chính sách cho Việt Nam (29/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa tin học trong việc lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh ở Việt Nam (26/7/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (26/7/2022)
Nghiên cứu phương pháp mới gây đột biến ở ngô bằng xử lí hóa chất EMS trên hạt phấn và câu đột biến có định hướng (TILLING) phục vụ nghiên cứu và chọn giống ngô (22/7/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai) (22/7/2022)
Nghiên cứu chế tạo KIT phát hiện nhanh Aflatoxin B1 trong thức ăn chăn nuôi và Aflatoxin M1 trong sữa tươi (22/7/2022)
Thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ (19/7/2022)
Ứng dụng công nghệ sinh học đa dạng hóa sản phẩm từ nấm (18/7/2022)
Nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với biến đổi khí hậu (15/7/2022)
Nano Selen có vai trò như một Auxin mới trong ra rễ thực vật nuôi cấy in vitro (14/7/2022)
Quy trình kích tăng tỷ lệ hoa cái trên cây sacha inchi Plukenetia volubilis (14/7/2022)
Mở rộng tiềm năng kinh tế của Sacha inchi dựa trên khoa học và công nghệ (14/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu cacbon cấu trúc nano trong việc nâng cao các tính chất cơ học của lớp mạ điện công nghiệp (14/7/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (13/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm chế phẩm AM in vitro cho cây trồng lâm nghiệp (13/7/2022)
Nghiên cứu các giải pháp công nghệ đối với cầu đường sắt tại các vị trí đường cong có bán kính nhỏ cho hệ thống đường sắt tốc độ cao (11/7/2022)
Nghiên cứu sử dụng GII như một công cụ chính sách phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam (11/7/2022)
Nghiên cứu cơ chế quan hệ đối tác công tư và các chính sách, giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến công nghệ tại Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu tác động của các hiệp định đa biên về dịch vụ vận tải hàng không giữa các nước trong ASEAN và đề xuất chính sách cho Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nguyên liệu và sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh ung thư từ cây thuốc Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo và nấm Linh chi tại Lào Cai và vùng Tây Bắc (07/7/2022)
Tạo hạt nano vàng bằng phương pháp nuôi mầm (05/7/2022)
Chế tạo β-glucan khối lượng phân tử thấp bằng phương pháp chiếu xạ và khảo sát hiệu ứng giải độc gan, bảo vệ bức xạ định hướng làm thực phẩm chức năng (05/7/2022)
Tận dụng phế phẩm nông nghiệp (cùi bắp, rơm rạ) để phát triển nghề trồng nấm bào ngư (Pleurotus sp.) ở tỉnh Sóc Trăng (05/7/2022)
Thông báo về việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Thông báo Ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại buổi làm việc với Hội Doanh nhân trẻ Quảng Trị

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.248
Hôm nay 2.365
Hôm qua 6.086
Tất cả 6.217.347
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!