Chủ Nhật ngày 14/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Tin tổng hợp
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 30/5/2022

Biến xỉ thải photpho thành vật liệu mới trong xây dựng và giao thông
Đứng trước thực trạng các nhà máy sản xuất photpho đang có nguy cơ đóng cửa vì không còn chỗ chứa xỉ thải. Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã đề xuất và được Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phê duyệt thực hiện đề tài “Xử lý xỉ thải từ sản xuất photpho vàng (Lào Cai) làm vật liệu không nung, kết cấu nền ứng dụng trong xây dựng, đường giao thông bằng chất kết dính vô cơ không sử dụng xi măng”, mã số KC08.32/16-20*. Kết quả của đề tài đã góp phần giảm thiểu một lượng xỉ thải photpho lớn, đồng thời tạo ra vật liệu mới cho hoạt động sản xuất và xây dựng.
Nhóm nghiên cứu lấy mẫu xỉ thải photpho vàng tại Công ty CP Nam Tiến (Lào Cai).

Đi tìm phương pháp xử lý xỉ thải photpho

Việt Nam là nước duy nhất ở khu vực Đông Nam Á có nguồn quặng apatit dồi dào. Hiện nay loại quặng này vẫn được sử dụng chủ yếu cho công nghiệp sản xuất phân lân (super photphat đơn, phân lân nung chảy) và photpho vàng. Trong đó, photpho vàng là nguyên liệu quan trọng của ngành công nghiệp ứng dụng, tạo ra các dẫn xuất như chất hóa dẻo, phụ gia dầu bôi trơn, thuốc trừ sâu, luyện kim…

Hằng năm, sản xuất photpho vàng của Việt Nam đạt từ 6 đến 8 ngàn tấn, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Dự báo nhu cầu này sẽ tăng đáng kể trong thời gian tới. Trung bình, để tạo ra 1 tấn photpho vàng từ quặng apatit, sẽ thải ra 9 tấn xỉ thải. Chỉ tính riêng lượng xỉ thải của 6 nhà máy sản xuất photpho tại Khu Công nghiệp Tằng Loỏng (Lào Cai) đã lên đến hơn 830.000 tấn/năm, dẫn đến tình trạng một số nhà máy đang có nguy cơ đóng cửa vì quá tải, không còn chỗ chứa xỉ.

Trước đây, đã có những nghiên cứu và ứng dụng đối với xỉ thải photpho như làm phụ gia đầy trong sản xuất bê tông đầm lăn, phụ gia khoáng cho xi măng, vôi trong xử lý dòng thải axit… tuy nhiên kết quả đem lại vẫn còn hạn chế. Trong đề tài KC08.32/16-20, nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã lựa chọn hướng sử dụng xỉ thải photpho làm vật liệu xây dựng, lớp lót đường giao thông để giải quyết lượng xỉ thải khổng lồ đang tồn đọng.

Giải pháp xanh cho ngành công nghiệp hóa chất

Nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài đã đặt ra 3 mục tiêu chính, cụ thể là: i) đánh giá hiện trạng môi trường các nhà máy sản xuất phốt pho vàng tại khu Công nghiệp Tằng Lỏong (Lào Cai); ii) nghiên cứu chế tạo chất kết dính vô cơ không sử dụng xi măng từ một số loại khoáng sét như cao lanh, trường thạch, bentonite; iii) sử dụng chất kết dính chế tạo được để đóng rắn xỉ thải phopho vàng Lào Cai làm vật liệu không nung.

Để biến xỉ photpho vàng thành một vật liệu mới, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn công nghệ bê tông polyme. Đây là một công nghệ khá phức tạp và đặc biệt chưa được triển khai tại Việt Nam.

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phân tích thành phần, đặc trưng cấu trúc của xỉ thải photpho vàng. Kết quả cho thấy, xỉ thải photpho chứa hàm lượng các chất gồm photpho, flour, CaO, SiO2, Al2O3, MgO, P2O5 và một số oxit kim loại khác như Fe2O3, MnO, K2O. Từ kết quả này, nhóm nghiên cứu đã quyết định sử dụng xỉ thải photpho làm gạch và lớp lót đường, vì ứng dụng này có thể tiêu thụ lượng xỉ thải nhiều nhất so với các phương án khác. Qua quá trình thử nghiệm nhiều hợp chất khác nhau, nhóm nghiên cứu đã tìm ra công thức phối trộn phù hợp. Nhóm đã lựa chọn các mẫu khoáng sét giá rẻ như cao lanh, trường thạch, bentonite có sẵn ở Lào Cai, Thanh Hóa, Phú Thọ để làm chất kết dính cho xỉ thải. Bên cạnh đó, nhóm đã sử dụng vôi tôi để cố định các thành phần có thể ảnh hưởng đến môi trường của xỉ như flour, canxi, photpho... Từ việc gắn kết các thành phần trên, một lớp vỏ bọc an toàn được tạo ra, bảo đảm sản phẩm không thải bất kỳ chất hại nào ra môi trường.

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành sản xuất thử nghiệm thành công 1.400 viên gạch không nung. Sản phẩm gạch không nung được tạo ra không chỉ đạt tính thẩm mỹ cao mà còn có cường độ chịu nén lên đến 16 mpa - gấp ba lần so với tiêu chuẩn ban đầu mà nhóm đặt ra, đạt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6477:2016 về gạch bê tông và TCVN 6355-4:2009 về gạch xây. Đồng thời, nhóm cũng tạo ra 100 mlớp lót đường giao thông. Kết quả kiểm nghiệm cho thấy lớp lót đường này ra đạt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8858:2011 về móng cấp phối đá dăm và cấp phối thiên nhiên gia cố xi măng trong kết cấu áo đường ô tô - thi công và nghiệm thu.

Sản phẩm gạch không nung của đề tài đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6477:2016 và TCVN 6355-4:2009.

Đặc biệt, sau khi hai sản phẩm thử nghiệm đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, nhóm nghiên cứu đã tiếp tục thí nghiệm gạch không nung và lớp lót đường trong các môi trường nước khác nhau, cụ thể: nước mưa axit, nước mưa thường, nước ao hồ và nước mặn. Cả hai đều cho ra một kết quả là đạt QCVN 07:2009/BTNMT về ngưỡng chất thải nguy hại, không nguy hiểm cho môi trường đất, nước cũng như sức khỏe của con người.

Có thể nói, hiệu quả của đề tài đã mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng trong đời sống.

Về hiệu quả kinh tế: sản phẩm gạch bê tông từ mạt đá và xi măng hiện nay có giá khoảng hơn 900 đồng/viên, trong khi đó, sản phẩm gạch không nung của đề tài chỉ có giá 801,3 đồng/viên. Qua đó, giúp người tiêu dùng có thêm cơ hội chọn lựa sản phẩm.

Về hiệu quả xã hội: Trung bình để sản xuất 1 triệu viên gạch không nung theo công nghệ của đề tài sẽ giúp tiêu thụ khoảng 1.886,4 tấn xỉ thải photpho vàng. Đồng thời, mỗi km đường rộng 8,0 m với lớp lót dày 0,4-0,5 m sẽ tiêu thụ 5.648 đến 7.060 tấn xỉ thải. Nếu được triển khai rộng trong thực tế, hai ứng dụng này sẽ sử dụng khối lượng lớn xỉ thải photpho, qua đó giúp các nhà máy sớm giải phóng lượng xỉ thải tồn đọng cũng như xỉ thải sẽ phát sinh trong tương lai

Như vậy, kết quả của đề tài không chỉ mang lại cơ hội giải quyết triệt để lượng xỉ thải lớn mà còn cung cấp nguồn vật liệu mới cho hoạt động sản xuất và xây dựng. Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ đề xuất với các cơ quan, ban, ngành để xây dựng một hành lang pháp lý, chứng nhận cho các sản phẩm từ xỉ thải, phế thải có thể dễ dàng lưu hành trên thị trường.

https://vjst.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Ứng dụng và tương lai của thị giác máy tính (12/8/2022)
Đầu tư cho R&D: Bài học từ những doanh nghiệp tiên phong (12/8/2022)
Công bố trên Nature: Việt Nam tham gia nghiên cứu về quản trị rủi ro (12/8/2022)
Công nghệ sẽ là trụ cột của kinh tế Việt Nam trong 10 năm tới (10/8/2022)
Chiết xuất omega 3 và các hợp chất chống oxy hóa từ cây tía tô Việt Nam (08/8/2022)
Mỗi năm thu lãi trên 500 triệu đồng từ nuôi thỏ (03/8/2022)
Doanh nghiệp và công nghệ trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 (02/8/2022)
Tìm hiểu phương pháp bảo quản nông sản từ màng bao chitosan (02/8/2022)
Hoạt động nghiên cứu và phát triển trong doanh nghiệp Việt Nam: Thực trạng và giải pháp (02/8/2022)
Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam thích ứng với bối cảnh mới (01/8/2022)
Hệ sinh thái đất ngập nước: Nâng cao giá trị sử dụng gián tiếp (29/7/2022)
Những công nghệ làm thay đổi tương lai ngành năng lượng thế giới (27/7/2022)
AI: Các xu hướng đang nổi và nhu cầu chuyên gia của Việt Nam (27/7/2022)
Xây dựng tiêu chí đánh giá tiềm năng ứng dụng, thương mại hoá sáng chế (27/7/2022)
Bệnh đậu mùa khỉ: Những điều cần biết (27/7/2022)
“Siêu enzyme” phân hủy nhựa (27/7/2022)
Các xu hướng dẫn dắt của ngành công nghệ thông tin - viễn thông (26/7/2022)
Những tiến bộ của khoa học thực vật góp phần thúc đẩy an ninh lương thực (25/7/2022)
Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp: Thông thoáng và cụ thể hơn (25/7/2022)
Những thành tựu nổi bật và xu hướng công nghệ trí tuệ nhân tạo (25/7/2022)
Bản đồ hiện trạng chất thải rắn - giải pháp tối ưu hoá khai thác tiềm năng chất thải rắn tại Việt Nam (22/7/2022)
Rào cản chính đối với việc chuyển giao tri thức của các quốc gia trên thế giới phát sinh từ nút thắt về cơ chế (22/7/2022)
Khai thác công nghệ phục vụ chiến lược phát triển của doanh nghiệp (19/7/2022)
Tạo hành lang pháp lý cho công nghiệp công nghệ số (15/7/2022)
Phát triển cảm biến nano phát hiện thuốc trừ sâu trên trái cây (14/7/2022)
Công bố quốc tế về trí tuệ nhân tạo (14/7/2022)
Chiếu sáng thông minh - Dẫn lối phát triển cho đô thị thông minh (13/7/2022)
Nâng cao năng lực khoa học công nghệ nội sinh quốc gia để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (13/7/2022)
Chuyển đổi năng lượng tại Việt Nam: Cơ hội lớn cho nền kinh tế bền vững (13/7/2022)
Muốn cạnh tranh phải có công nghệ riêng (12/7/2022)
Phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam: Cơ hội và thách thức (08/7/2022)
Thìa canh và công dụng điều trị bệnh đái tháo đường (08/7/2022)
Thị trường công nghệ thông tin - viễn thông Việt Nam: Cơ hội, thách thức và ưu tiên chiến lược (07/7/2022)
Nhóm nghiên cứu là sinh viên giải quyết bài toán trong sản xuất của doanh nghiệp (05/7/2022)
Ứng dụng KHCN phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản (04/7/2022)
Bước tiến vượt bậc của phân bón hữu cơ (30/6/2022)
Ứng dụng hạt nano nâng cao hiệu quả thuốc kháng sinh (30/6/2022)
Lưới điện thông minh - giải pháp bền vững cho ngành điện (30/6/2022)
Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển: kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam (30/6/2022)
Công nghệ DNA mới khiến chúng ta phải "vẽ lại" cây tiến hóa (30/6/2022)
Công nghệ bức xạ trong kiểm soát ô nhiễm chất thải nhựa (28/6/2022)
Đóng góp mới vào bộ sưu tập mẫu vật thiên nhiên của Việt Nam (28/6/2022)
Tự động hóa - chìa khóa giúp doanh nghiệp tăng năng suất làm việc (21/6/2022)
Xơ phổi vô căn và giải pháp điều trị kháng xơ hiệu quả (21/6/2022)
Kỷ nguyên năng lượng hydro đã trở thành hiện thực (17/6/2022)
Cam Lộ: Cây rau đay quả dài cho thu nhập hơn 400 triệu đồng/ha (16/6/2022)
Tăng cường các giải pháp hỗ trợ ví điện tử (15/6/2022)
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam (14/6/2022)
Quy trình sản xuất dầu neem chứa hoạt chất azadirachtin hàm lượng cao (14/6/2022)
Chuỗi giá trị dược liệu gắn với du lịch (14/6/2022)
Thông báo về việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Thông báo Ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại buổi làm việc với Hội Doanh nhân trẻ Quảng Trị

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 2.897
Hôm nay 6.637
Hôm qua 10.109
Tất cả 6.194.784
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!