Thứ Sáu ngày 19/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Ba, ngày 07/6/2022

Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao khô bán thành phẩm và thuốc Phong tê thấp Bà Giằng
Thuốc Phong tê thấp Bà Giằng là bài thuốc gia truyền đã có cách đây gần 100 năm do bà lang Giằng quê ở huyện Thiệu hóa, Thanh hóa truyền lại từ đời trước. Bài thuốc đã được Giáo sư, TS. Đỗ Tất Lợi dày công nghiên cứu và giới thiệu trong tập sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam (Nhà xuất bản Y học – năm 1969). Thuốc có công dụng điều trị viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa xương khớp, đau thần kinh tọa, thần kinh liên sườn, đau vai gáy, đau nhức xương, mỏi, tê buồn chân tay, sưng các khớp. Thuốc Phong tê thấp bà Giằng đã được Bộ Y tế cấp Giấy đăng ký số: V1664-H12-10 và được đưa vào danh mục thuốc bảo hiểm y tế Việt Nam (Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế).
Với mục tiêu nâng cấp bài thuốc Phong tê thấp Bà Giằng, nhóm dự án của Doanh nghiệp tư nhân Sản xuất thuốc Y học cổ truyền Bà Giằng do PGS. TS. Nguyễn Thị Hoàng Anh đứng đầu đã kết hợp với Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt nam tiến hành hợp đồng nghiên cứu “Nghiên cứu chiết xuất các dược liệu của bài thuốc Phong tê thấp Bà Giằng”. Kết quả của hợp đồng nghiên cứu là rất khả quan, đã chiết xuất thử quy mô 20 kg dược liệu/mẻ, tạo ra cao khô đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu bào chế thuốc ở dạng viên nang cứng. Để phát huy kết quả nghiên cứu đã đạt được, Dự án đặt nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện quy trình chiết xuất, nâng cao qui mô chiết xuất phù hợp với quá trình sản xuất công nghiệp tạo ra cao khô bán thành phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất thuốc Phong tê thấp Bà Giằng dạng viên nang cứng theo quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP là rất cần thiết và có tính khả thi cao.

Thuốc “Phong tê thấp Bà Giằng” đã có chỗ đứng trên thị trường thuốc hiện nay. Tuy nhiên cho đến nay bài thuốc gia truyền này chỉ được bào chế ở dạng viên hoàn cứng. Dạng bào chế này gặp khó khăn cho quá trình sản xuất, sử dụng. Hơn nữa qui trình kiểm nghiệm chất lượng cũng như bảo quản thuốc phức tạp và tốn kém. Xu hướng chung hiện nay của các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất thuốc đông dược là hiện đại hoá các bài thuốc cổ truyền nhằm nâng cao 8 năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả chữa bệnh, dễ sử dụng và bảo quản. Do vậy, việc nghiên cứu quy trình chiết xuất các hoạt chất qui mô pilot từ dược liệu của bài thuốc làm nguyên liệu sản xuất thuốc ở dạng viên nang cứng là hết sức cần thiết và có ý nghĩa để tiêu chuẩn hóa và nâng cao chất lượng bài thuốc cổ truyền của nước ta. Với ý nghĩa như trên, Dự án đặt mục tiêu Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao chiết đạt tiêu chuẩn cơ sở làm nguyên liệu sản xuất thử 1 triệu viên nang cứng thuốc Phong tê thấp Bà Giằng an toàn, có tác dụng chống viêm và giảm đau. Việc triển khai Dự án nhằm kế thừa, phát huy và hiện đại hóa những bài thuốc hay, những kinh nghiệm quý của y học cổ truyền đã được sử dụng từ lâu đời là một trong những hướng nghiên cứu đáng được chú ý, quan tâm. Kết quả của Dự án góp phần bảo vệ, nâng cao sức khỏe cho cộng đồng, đặc biệt là tuy thuốc ở dạng bào chế mới nhưng vẫn đảm bảo giá thành hợp lý, phù hợp với thu nhập của số người lao động chiếm tỉ lệ cao trong xã hội. Hơn nữa, sau khi sản xuất thành công, không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tạo ra triển vọng hướng tới xuất khẩu.

Sau một thời gian triển khai, Dự án đưa ra kết luận như sau:

1. Đã xây dựng và hoàn thiện quy trình sản xuất cao 7 dược liệu (Đương quy, Quế, Thương truật, Ngưu tất, Độc hoạt, Thổ phục linh, Đỗ trọng) của bài thuốc Phong tê thấp Bà Giằng (qui mô 300 kg dược liệu khô/mẻ), dung môi thông dụng an toàn (cồn 700), nhiệt độ 50-60 độ C, hiệu suất ổn định (trung bình 30 % so với dược liệu khô) từ các dược liệu đủ chất lượng. Điểm mới của quy trình này là không chiết Mã tiền chế cùng với 7 loại dược liệu còn lại như quy trình trước đây vì chiết cả 8 dược liệu rất khó kiểm soát được hàm lượng tổng cũng như tỉ lệ của 2 ancaloid có tính độc cao và có tác dụng chữa bệnh tốt là strychnin và brucin.

2. Đã xây dựng và hoàn thiện quy trình đóng viên nang cứng Phong tê thấp Bà Giằng qui mô 200.000 viên/mẻ từ bột thuốc Phong tê thấp Bà Giằng gồm bột bán thành phẩm (50% cao chiết khô 7 dược liệu + 50% Maltose) và bột Mã tiền chế.

3. Đã xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở của cao khô (bột bán thành phẩm) và viên nang cứng thuốc Phong tê thấp Bà Giằng.

4. Viên nang cứng thuốc Phong tê thấp Bà Giằng đã được kiểm nghiệm chất lượng, đánh giá độ ổn định, đánh giá độc tính cấp, độc tính bán trường diễn, tác dụng giảm đau, tác dụng chống viêm cấp, viêm mạn. Kết quả như sau:

- Viên nang cứng ổn định 6 tháng ở điều kiện lão hóa cấp tốc: nhiệt độ 40°C ± 2°C, hàm ẩm không khí 75% ± 5%. Như vậy tuổi thọ của thuốc tối thiểu 18 tháng ở điều kiện thường.

- Thử độc tính cấp: liều không gây chết chuột là 1,0 g mẫu thử/kg chuột. Liều gây chết 100% số chuột thử nghiệm là 5,0 g mẫu thử/ kg chuột. Liều LD50 là (2,76 ± 0,22) g mẫu thử/kg chuột.

- Thử độc tính bán trường diễn trên thỏ: với 2 mức liều khác nhau là 0,373 viên/kg thỏ/ngày (tương ứng với mức liều tối đa dùng cho người là 6 viên/người/ngày) và mức liều 1,120 viên /kg thỏ/ngày (cao gấp 3 lần so với liều dùng tối đa), mẫu thử không ảnh hưởng đến cân nặng, thể trạng, hoạt động của thỏ thử nghiệm sau khi thỏ uống mẫu thử liên tục trong 28 ngày. Các chỉ số sinh hóa đánh giá chức năng gan, thận và các chỉ số huyết học không có sự khác biệt có ý nghĩa ở trước thí nghiệm, sau 14, 28 ngày uống mẫu thử, và sau 14 ngày dừng uống mẫu thử giữa hai nhóm thử nghiệm so với nhóm chứng (PtrướcTN (T-C) > 0,05, Psau 14 ngày(T-C)> 0,05; Psau 28 ngày(T-C)> 0,05), Psau 14 ngày dừng uống mẫu thử (T-C)> 0,05). Không nhận thấy bất thường ở các tổ chức tim, gan, thận, phổi, lách và hệ tiêu hóa của thỏ thử nghiệm khi quan sát đại thể cũng như không nhận thấy tổn thương mô bệnh học của gan, thận khi quan sát vi thể giữa hai nhóm thử và nhóm chứng.

- Đánh giá tác dụng giảm đau: trên mô hình gây đau bằng acid acetic theo phương pháp của Koster, gây đau nội tạng, gây cơn quặn đau cho chuột nhắt trắng bằng cách tiêm dung dịch acid acetic theo đường phúc mạc cho kết quả: ở liều 720 mg/kg thể trọng chuột có tác dụng giảm đau. Liều này tương đương với liều 6 viên nang thuốc PTT 500 mg/người/ngày.

- Đánh giá tác dụng chống viêm cấp: khi cho chuột cống trắng uống liều tương đương 210 mg/kg thể trọng chuột đã có tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây phù bàn chân chuột bởi carragenin, liều uống này tương đương với 1/2 liều dự kiến dùng trên người là 6 viên nang PTT 500 mg/người/ngày. Do vậy, viên nang cứng Phong tê thấp Bà Giằng 0,5g đạt tiêu chuẩn cơ sở, không thể hiện độc tính cấp, độc tính bán trường diễn, có tác dụng giảm đau, chống viêm cấp ở liều dùng dự kiến 6 viên nang thuốc PTT 500 mg/người/ngày, lượng dùng ít hơn hẳn so với viên hoàn tán sử dụng trước đây (36 viên/ người/ngày), đáp ứng tốt yêu cầu của người bệnh, cần được tiếp tục hoàn thiện để đưa ra thị trường.

Như vậy. Dự án đã hoàn thành các nội dung đã đề ra. Cần tiếp tục theo dõi ở điều kiện bảo quản dài hạn và thời gian lâu hơn ở điều kiện lão hóa cấp tốc. Doanh nghiệp SX thuốc YHCT Bà Giằng đang hoàn thiện các thủ tục xin cấp phép thuốc ở dạng bào chế mới, viên nang cứng Phong tê thấp Bà Giằng 0,5g. Chủ nhiệm dự án và doanh nghiệp kính đề nghị Bộ Công thương tiếp tục hỗ trợ nhằm mở rộng và đưa sản phẩm của dự án phục vụ sức khỏe cộng đồng.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 17230/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu xây dựng, ứng dụng và phổ biến bộ công cụ chẩn đoán doanh nghiệp ngành công thương (15/8/2022)
Nghiên cứu chính sách, mô hình Quỹ Chất lượng Dịch vụ (QSF) của UPU và đề xuất khai thác hiệu quả cho Việt Nam (15/8/2022)
Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1 (15/8/2022)
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (09/8/2022)
Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn (09/8/2022)
Sản xuất viên nang Zerumboner từ cây gừng gió Việt Nam (08/8/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học trên cơ sở sợi collagen tự nhiên từ vảy cá (08/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống pilot chế biến xỉ titan thành sản phẩm TiCl4 và TiO2 công suất 50kg/h (05/8/2022)
Nghiên cứu axit hóa đại dương vùng biển phía Nam (05/8/2022)
Nghiên cứu chế phẩm từ vi khuẩn tía quang hợp xử lý ô nhiễm ao hồ nuôi trồng thủy sản (05/8/2022)
Sản xuất giống hoa lan hồ điệp quy mô công nghiệp bằng công nghệ vi nhân giống (05/8/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (04/8/2022)
Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của quả me rừng (Phyllanthus emblica L.) (04/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tưới nước thông minh, tiết kiệm bằng hệ thống cảm biến độ ẩm cho một số loại cây trồng ở vùng hạn hán (03/8/2022)
Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho bò đực giống Brahman sản xuất tinh đông lạnh tại Việt Nam (03/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (02/8/2022)
Mối liên hệ giữa đột biến gen và khả năng kháng thuốc điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu xác định cách thức nhằm mục tiêu cụ thể và ngăn chặn các tế bào bạch cầu liên quan đến bệnh tật (02/8/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành giao thông vận tải chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên nang Zerumboner từ cây Gừng gió Việt Nam (Zingiber Zerumbet Smith) để hỗ trợ điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ logistics của Việt Nam (02/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo mô hình hệ thống điện năng lượng mặt trời theo phương pháp tự động dò bám (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất và phát triển sản phẩm mới chè xanh viên nén phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu (02/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tích hợp hóa sinh chế biến rượu vang chất lượng cao từ quả điều (02/8/2022)
Nghiên cứu cải tiến và hoàn thiện công nghệ chọn tạo, phát triển sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả chủ lực ở Việt Nam (29/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và thiết bị cơ giới hóa đồng bộ sản xuất mía tại các vùng chuyên canh (29/7/2022)
Nghiên cứu kinh nghiệm chuyển đổi số của các nước và đề xuất xây dựng chiến lược chuyển đổi số cho Việt Nam (29/7/2022)
Chiến lược biển của một số quốc gia trên thế giới và gợi ý chính sách cho Việt Nam (29/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa tin học trong việc lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh ở Việt Nam (26/7/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (26/7/2022)
Nghiên cứu phương pháp mới gây đột biến ở ngô bằng xử lí hóa chất EMS trên hạt phấn và câu đột biến có định hướng (TILLING) phục vụ nghiên cứu và chọn giống ngô (22/7/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai) (22/7/2022)
Nghiên cứu chế tạo KIT phát hiện nhanh Aflatoxin B1 trong thức ăn chăn nuôi và Aflatoxin M1 trong sữa tươi (22/7/2022)
Thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ (19/7/2022)
Ứng dụng công nghệ sinh học đa dạng hóa sản phẩm từ nấm (18/7/2022)
Nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với biến đổi khí hậu (15/7/2022)
Nano Selen có vai trò như một Auxin mới trong ra rễ thực vật nuôi cấy in vitro (14/7/2022)
Quy trình kích tăng tỷ lệ hoa cái trên cây sacha inchi Plukenetia volubilis (14/7/2022)
Mở rộng tiềm năng kinh tế của Sacha inchi dựa trên khoa học và công nghệ (14/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu cacbon cấu trúc nano trong việc nâng cao các tính chất cơ học của lớp mạ điện công nghiệp (14/7/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (13/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm chế phẩm AM in vitro cho cây trồng lâm nghiệp (13/7/2022)
Nghiên cứu các giải pháp công nghệ đối với cầu đường sắt tại các vị trí đường cong có bán kính nhỏ cho hệ thống đường sắt tốc độ cao (11/7/2022)
Nghiên cứu sử dụng GII như một công cụ chính sách phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam (11/7/2022)
Nghiên cứu cơ chế quan hệ đối tác công tư và các chính sách, giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến công nghệ tại Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu tác động của các hiệp định đa biên về dịch vụ vận tải hàng không giữa các nước trong ASEAN và đề xuất chính sách cho Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nguyên liệu và sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh ung thư từ cây thuốc Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo và nấm Linh chi tại Lào Cai và vùng Tây Bắc (07/7/2022)
Tạo hạt nano vàng bằng phương pháp nuôi mầm (05/7/2022)
Chế tạo β-glucan khối lượng phân tử thấp bằng phương pháp chiếu xạ và khảo sát hiệu ứng giải độc gan, bảo vệ bức xạ định hướng làm thực phẩm chức năng (05/7/2022)
Tận dụng phế phẩm nông nghiệp (cùi bắp, rơm rạ) để phát triển nghề trồng nấm bào ngư (Pleurotus sp.) ở tỉnh Sóc Trăng (05/7/2022)
Thông báo về việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Thông báo Ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại buổi làm việc với Hội Doanh nhân trẻ Quảng Trị

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 3.656
Hôm nay 1.770
Hôm qua 12.115
Tất cả 6.228.867
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!