Chủ Nhật ngày 14/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Tin tổng hợp
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 08/6/2022

Đa dạng sinh học của Việt Nam: Xu hướng suy giảm và giải pháp
Đa dạng sinh học đang có xu hướng suy giảm trên toàn cầu. Tỷ lệ độ che phủ rừng trên trái đất đã giảm từ 31,6% xuống còn 30,6% trong giai đoạn 1990-2015. Hệ sinh thái rạn san hô hiện đã giảm 35% trong thời gian từ 1970-2015 và 25% số loài được nghiên cứu bị đe dọa tuyệt chủng... Trong xu thế đáng báo động này, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đang phải đối mặt với nhiều thách thức.
Việt Nam có hệ sinh thái đất ngập nước phong phú

Đa dạng sinh học của Việt Nam

Theo thông tin từ Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường, sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan và khí hậu đã tạo nên tính đa dạng sinh học vô cùng phong phú và đặc sắc của Việt Nam. Sự đa dạng về các hệ sinh thái tự nhiên như hệ sinh thái trên cạn (đồng cỏ, rừng, savan...), hệ sinh thái đất ngập nước (rừng ngập mặn, rạn san hô, hồ chứa...) và hệ sinh thái biển đã tạo nên môi trường sống quan trọng cho 13.766 loài, động vật trên cạn 10.300 loài, vi sinh vật 7.500 loài, sinh vật nước ngọt với 1.438 loài vi tảo, 800 loài động vật không xương sống, 1.028 loài cá nước ngọt và 11.000 loài sinh vật biển. Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng tài nguyên sinh vật và là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu...

Đa dạng sinh học ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong đời sống tự nhiên và con người, cung cấp khoảng 80% lượng thủy sản khai thác từ vùng biển ven bờ và đáp ứng gần 40% lượng protein cho người dân. Nghề thủy sản đem lại nguồn thu nhập chính cho khoảng 8 triệu người và một phần thu nhập cho khoảng 12 triệu người. Khoảng 70% tăng trưởng du lịch là từ các vùng duyên hải có các hệ sinh thái tự nhiên giàu đa dạng sinh học. Các nghiên cứu cho thấy, những dải rừng ngập mặn ven biển Việt Nam góp phần giảm ít nhất 20-50% thiệt hại do bão, nước biển dâng và sóng thần gây ra. Đặc biệt, hệ thống rừng ngập mặn trồng ven đê còn đóng vai trò là tấm lá chắn xanh, giảm 20-70% năng lượng của sóng biển, đảm bảo an toàn cho các con đê biển, giúp tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng cho việc duy tu, sửa chữa đê biển... Bảo tồn đa dạng sinh học đã được Đảng và Nhà nước được coi là một trong những giải pháp để thực hiện phát triển bền vững đất nước.

Xu hướng suy giảm

Mặc dù có hệ sinh thái tự nhiên đa dạng và phong phú, nhưng trong bối cảnh dân số đông, nhu cầu tiêu thụ tài nguyên lớn, các phương thức tiêu thụ, sử dụng tài nguyên vẫn còn chưa bền vững... đang khiến cho đa dạng sinh học của Việt Nam bị suy giảm với tốc độ nhanh. Nạn phá rừng, tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã vẫn tiếp tục diễn ra, ô nhiễm môi trường ở các điểm nóng tiếp tục là những mối đe dọa tới đa dạng sinh học.

Các hệ sinh thái tự nhiên của Việt Nam tiếp tục bị thu hẹp diện tích, xuống cấp về chất lượng, đặc biệt là các hệ sinh thái đất ngập nước, núi đá vôi, bãi bồi cửa sông ven biển... làm mất nguồn cung cấp nước ngầm, nơi sinh sản, phát triển, cư trú của các loài sinh vật. Từ năm 2014 đến nay, đã phát hiện 344 loài mới gồm 208 loài động vật, 136 loài thực vật nhưng các loài này đang phải đối mặt với những nguy cơ tuyệt chủng rất lớn. Theo đó, số loài cần được ưu tiên bảo vệ đang tiếp tục gia tăng. Trong phạm vi đề tài khoa học cấp nhà nước “Điều tra, đánh giá các loài có nguy cơ tuyệt chủng cần được ưu tiên bảo vệ nhằm tu chỉnh Sách đỏ Việt Nam”, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2015) đã đề xuất đưa vào Sách đỏ Việt Nam giai đoạn tới 1.211 loài, gồm 600 loài thực vật và nấm; 611 loài động vật là thú, chim, bò sát, ếch nhái, côn trùng, động vật không xương sống nước ngọt và biển. Như vậy, so với Sách đỏ Việt Nam 2007 thì số lượng loài đề xuất vào Sách đỏ Việt Nam giai đoạn mới này tăng hơn nhiều.

Theo thông tin từ Ủy ban Bảo tồn Thiên nhiên Chung (JNCC), ảnh hưởng đa dạng sinh học của Việt Nam chủ yếu đến từ ô nhiễm môi trường. Trong đó, các mối đe dọa hàng đầu đến từ: nguồn thải nông nghiệp và lâm nghiệp (ảnh hưởng tới 298 loài); nước thải sinh hoạt và đô thị (tác động đến 258 loài); nguồn thải công nghiệp và quân sự (ảnh hưởng đến 245 loài). Ảnh hưởng từ ô nhiễm không khí, rác thải, biến đổi khí hậu... đang đe dọa 236 loài.

Những giải pháp trong thời gian tới

Tại Nghị quyết số A/RES/73/284, diễn ra ngày 6/3/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ra quyết định tuyên bố Thập kỷ 2021- 2030 là Thập kỷ Liên hợp quốc về Phục hồi hệ sinh thái. Thập kỷ về Phục hồi hệ sinh thái được chính thức giới thiệu và khởi động vào Ngày Môi trường thế giới (ngày 5/6/2021) nhằm kêu gọi các quốc gia hành động khẩn trương, quyết liệt, trên tinh thần cùng chung tay nỗ lực xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch và sáng kiến ngăn chặn sự suy thoái hệ sinh thái vì tương lai của toàn thể nhân loại. Ngày Môi trường thế giới năm nay (5/6/2022) được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) phát động với chủ đề “Chỉ một Trái đất” (Only One Earth), hướng đến truyền tải ý nghĩa thông điệp cùng xây dựng lối sống bền vững, hài hòa với thiên nhiên; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các chính sách, hoạt động hướng tới lối sống xanh, sạch hơn.

Cùng với các giải pháp mang tính toàn cầu, theo các nhà quản lý, nhà khoa học về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, Việt Nam cần tập trung vào các giải pháp:

Một là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn đa dạng sinh học: hoàn thiện pháp luật, thể chế quản lý, tăng cường năng lực thực thi pháp luật về đa dạng sinh học; kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý về đa dạng sinh học; xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý về đa dạng sinh học; nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ thực thi pháp luật của đội ngũ quản lý đa dạng sinh học từ Trung ương đến địa phương; đa dạng hóa nguồn lực và phương thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những người làm công tác bảo tồn đa dạng sinh học các cấp. Bên cạnh đó, cần lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học trong các quy hoạch, chiến lược, kế hoạch của các ngành kinh tế có tác động nhiều đến đa dạng sinh học như nông, lâm, ngư nghiệp, du lịch, giao thông, năng lượng, sử dụng đất. Đặc biệt, các khu vực bảo tồn cần được ưu tiên trong các quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, tỉnh.

Hai là, huy động sự tham gia của cộng đồng và khu vực tư nhân trong công tác bảo tồn, phục hồi, sử dụng bền vững đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên; tạo cơ chế để có thể huy động các lực lượng tham gia vào công tác bảo tồn, thông qua các cơ chế đồng quản lý, cơ chế tự quản và các mô hình hợp tác công tư nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững thiên nhiên, đa dạng sinh học. Nghiên cứu các giải pháp phục hồi hệ sinh thái.

Ba là, thiết lập, củng cố hệ thống thông tin về đa dạng sinh học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối với địa phương, với từng di sản thiên nhiên, xây dựng và triển khai thực hiện dự án chuyển đổi số, tăng cường năng lực; hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, công cụ và thực hiện điều tra, kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học.

Bốn là, kiểm soát chặt chẽ các tác động lên đa dạng sinh học, đặc biệt là tác động từ các dự án phát triển thông qua việc thực hiện tốt đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức nhằm hướng tới mẫu hình tiêu thụ bền vững đối với tài nguyên sinh vật, thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan trong bảo tồn đa dạng sinh học.

Sáu là, mở rộng hợp tác quốc tế, huy động, trợ và chuyển giao công nghệ và nghiên cứu khoa học nhằm tăng cường hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học.

https://vjst.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Ứng dụng và tương lai của thị giác máy tính (12/8/2022)
Đầu tư cho R&D: Bài học từ những doanh nghiệp tiên phong (12/8/2022)
Công bố trên Nature: Việt Nam tham gia nghiên cứu về quản trị rủi ro (12/8/2022)
Công nghệ sẽ là trụ cột của kinh tế Việt Nam trong 10 năm tới (10/8/2022)
Chiết xuất omega 3 và các hợp chất chống oxy hóa từ cây tía tô Việt Nam (08/8/2022)
Mỗi năm thu lãi trên 500 triệu đồng từ nuôi thỏ (03/8/2022)
Doanh nghiệp và công nghệ trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 (02/8/2022)
Tìm hiểu phương pháp bảo quản nông sản từ màng bao chitosan (02/8/2022)
Hoạt động nghiên cứu và phát triển trong doanh nghiệp Việt Nam: Thực trạng và giải pháp (02/8/2022)
Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam thích ứng với bối cảnh mới (01/8/2022)
Hệ sinh thái đất ngập nước: Nâng cao giá trị sử dụng gián tiếp (29/7/2022)
Những công nghệ làm thay đổi tương lai ngành năng lượng thế giới (27/7/2022)
AI: Các xu hướng đang nổi và nhu cầu chuyên gia của Việt Nam (27/7/2022)
Xây dựng tiêu chí đánh giá tiềm năng ứng dụng, thương mại hoá sáng chế (27/7/2022)
Bệnh đậu mùa khỉ: Những điều cần biết (27/7/2022)
“Siêu enzyme” phân hủy nhựa (27/7/2022)
Các xu hướng dẫn dắt của ngành công nghệ thông tin - viễn thông (26/7/2022)
Những tiến bộ của khoa học thực vật góp phần thúc đẩy an ninh lương thực (25/7/2022)
Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp: Thông thoáng và cụ thể hơn (25/7/2022)
Những thành tựu nổi bật và xu hướng công nghệ trí tuệ nhân tạo (25/7/2022)
Bản đồ hiện trạng chất thải rắn - giải pháp tối ưu hoá khai thác tiềm năng chất thải rắn tại Việt Nam (22/7/2022)
Rào cản chính đối với việc chuyển giao tri thức của các quốc gia trên thế giới phát sinh từ nút thắt về cơ chế (22/7/2022)
Khai thác công nghệ phục vụ chiến lược phát triển của doanh nghiệp (19/7/2022)
Tạo hành lang pháp lý cho công nghiệp công nghệ số (15/7/2022)
Phát triển cảm biến nano phát hiện thuốc trừ sâu trên trái cây (14/7/2022)
Công bố quốc tế về trí tuệ nhân tạo (14/7/2022)
Chiếu sáng thông minh - Dẫn lối phát triển cho đô thị thông minh (13/7/2022)
Nâng cao năng lực khoa học công nghệ nội sinh quốc gia để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (13/7/2022)
Chuyển đổi năng lượng tại Việt Nam: Cơ hội lớn cho nền kinh tế bền vững (13/7/2022)
Muốn cạnh tranh phải có công nghệ riêng (12/7/2022)
Phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam: Cơ hội và thách thức (08/7/2022)
Thìa canh và công dụng điều trị bệnh đái tháo đường (08/7/2022)
Thị trường công nghệ thông tin - viễn thông Việt Nam: Cơ hội, thách thức và ưu tiên chiến lược (07/7/2022)
Nhóm nghiên cứu là sinh viên giải quyết bài toán trong sản xuất của doanh nghiệp (05/7/2022)
Ứng dụng KHCN phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản (04/7/2022)
Bước tiến vượt bậc của phân bón hữu cơ (30/6/2022)
Ứng dụng hạt nano nâng cao hiệu quả thuốc kháng sinh (30/6/2022)
Lưới điện thông minh - giải pháp bền vững cho ngành điện (30/6/2022)
Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển: kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam (30/6/2022)
Công nghệ DNA mới khiến chúng ta phải "vẽ lại" cây tiến hóa (30/6/2022)
Công nghệ bức xạ trong kiểm soát ô nhiễm chất thải nhựa (28/6/2022)
Đóng góp mới vào bộ sưu tập mẫu vật thiên nhiên của Việt Nam (28/6/2022)
Tự động hóa - chìa khóa giúp doanh nghiệp tăng năng suất làm việc (21/6/2022)
Xơ phổi vô căn và giải pháp điều trị kháng xơ hiệu quả (21/6/2022)
Kỷ nguyên năng lượng hydro đã trở thành hiện thực (17/6/2022)
Cam Lộ: Cây rau đay quả dài cho thu nhập hơn 400 triệu đồng/ha (16/6/2022)
Tăng cường các giải pháp hỗ trợ ví điện tử (15/6/2022)
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam (14/6/2022)
Quy trình sản xuất dầu neem chứa hoạt chất azadirachtin hàm lượng cao (14/6/2022)
Chuỗi giá trị dược liệu gắn với du lịch (14/6/2022)
Thông báo về việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Thông báo Ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại buổi làm việc với Hội Doanh nhân trẻ Quảng Trị

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 2.917
Hôm nay 6.473
Hôm qua 10.109
Tất cả 6.194.620
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!