Chủ Nhật ngày 14/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Tin tổng hợp
Cập nhật: Thứ Ba, ngày 21/6/2022

Xơ phổi vô căn và giải pháp điều trị kháng xơ hiệu quả
Bệnh xơ phổi vô căn (Idiopathic Pulmonary Fibrosis - IPF), là một bệnh gây xơ hóa tổ chức phổi, dẫn đến suy giảm chức năng thông khí và trao đổi khí của phổi, biểu hiện bằng khó thở. Tuy nhiên, bệnh có thể được kiểm soát nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Việc điều trị sớm bằng thuốc kháng xơ sẽ giúp bảo tồn chức năng phổi và cải thiện kết quả điều trị.

Xơ phổi vô căn - bệnh lý đáng báo động

Xơ phổi vô căn là một bệnh ở phổi thường gây tử vong và rất khó để chẩn đoán, đến nay, chưa có số liệu chắc chắn số người bị ảnh hưởng bởi xơ phổi. Năm 2020, ở Mỹ có khoảng 180.000 trường hợp xơ phổi vô căn và mỗi năm 40.000 người tử vong vì bệnh này. Tại Việt Nam, thời gian gần đây, dưới những ảnh hưởng tiêu cực từ biến đổi khí hậu và đại dịch Covid-19, số lượng người mắc bệnh này đến khám tại các cơ sở y tế ngày càng tăng cao. Tuy vậy, một khảo sát thực tế cho thấy, có đến 90% người đến khám không biết các triệu chứng của căn bệnh nguy hiểm này, một số khác nhầm lẫn với các triệu chứng của bệnh phổi, tim thông thường. Các phương pháp điều trị có thể giúp giảm tỷ lệ bệnh trở nặng, nhưng hiện chưa có phương pháp điều trị nào có thể ngăn chặn hoặc đảo ngược tình trạng sẹo ở phổi. Do vậy, hiểu đúng để phòng ngừa và điều trị sớm chính là phương pháp hữu hiệu nhất để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh này tại Việt Nam.

Xơ phổi vô căn là tình trạng bệnh gây viêm xơ khoảng kẽ của phổi không rõ căn nguyên, quá trình xơ hóa phổi tiến triển không dừng, hậu quả là dẫn đến mất dần chức năng phổi. Bệnh gây xơ, sẹo phổi, tổ chức phổi trở nên cứng chắc, mất tính đàn hồi, giảm khả năng trao đổi khí. Trên lâm sàng thể hiện bằng tình trạng khó thở, giảm oxy máu do suy giảm trao đổi khí oxy và carbonic giữa phế nang và mao mạch.

Cho tới nay, chưa xác định cụ thể được nguyên nhân gây bệnh, nhưng đã ghi nhận được các yếu tố nguy cơ bao gồm: hút thuốc, tuổi già, ô nhiễm môi trường, di truyền, bệnh trào ngược dạ dày thực quản, nhiễm virus Esteinbar, viêm gan C, Herpes…

Cụ thể, tỷ lệ mắc bệnh xơ phổi vô căn cao hơn rõ rệt ở nhóm hút thuốc so với nhóm không hút thuốc. Khoảng 2/3 bệnh nhân mắc xơ phổi vô căn đang hút thuốc hoặc đã từng hút thuốc. Bệnh thường gặp hơn ở những người cao tuổi (từ 60-65 tuổi trở lên) và ít gặp ở nhóm <50 tuổi. Bên cạnh đó, môi trường sống và làm việc bị ô nhiễm, thường xuyên tiếp xúc hoặc phơi nhiễm với bụi gỗ, bụi kim loại hoặc các hóa chất cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Một số trường hợp xơ phổi vô căn có thể do các yếu tố di truyền.

Ảnh hưởng của bệnh tới sức khỏe

Khi người bệnh có các tổn thương xơ, sẹo, thì không có biện pháp điều trị nào có thể chuyển đổi những phần phổi xơ đó trở về cấu trúc, chức năng bình thường. Ở bệnh nhân mắc xơ phổi vô căn, vách các phế nang bị xơ hóa dày lên, cản trở sự khuếch tán của oxy từ phế nang vào mạch máu cũng như carbonic từ mạch máu tới lòng phế nang.

Hậu quả của quá trình xơ phổi là những biểu hiện như khó thở, ho khan kéo dài. Các biểu hiện này làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh. Khi người bệnh khó thở, sẽ bị giới hạn các hoạt động thể lực. Khởi đầu người bệnh mất khả năng gắng sức, dần dần, theo mức độ nặng của quá trình xơ phổi, người bệnh sẽ mất sức lao động, không thể tự chăm sóc bản thân mình và cuối cùng là cần hỗ trợ oxy dài hạn tại nhà liên tục cho các hoạt động sống cơ bản như ngồi, nằm.

Tình trạng nặng lên của bệnh không giống nhau ở bệnh nhân mắc xơ phổi vô căn. Một số trường hợp mắc bệnh có thể ổn định vài năm, nhưng một số khác bệnh tiến triển xấu đi rất nhanh. Mặc dù không phải là bệnh ung thư, nhưng tiên lượng của bệnh này còn xấu hơn hầu hết các loại ung thư.

Theo một số báo cáo, thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân mắc xơ phổi vô căn là 3 năm kể từ khi được chẩn đoán, tỷ lệ sống sau năm 5 chỉ khoảng 20%. Ở Mỹ, mỗi năm có hàng chục nghìn ca tử vong do xơ phổi vô căn. Ở Anh, tỷ lệ tử vong do xơ phổi vô căn chiếm 1% trong tổng số các nguyên nhân tử vong.

Song song với việc mất dần khả năng lao động, người bệnh cần nhiều sự hỗ trợ từ người thân và hệ thống y tế. Báo cáo tại các quốc gia phát triển cho thấy, chi phí y tế cho 1 ca bệnh khoảng >10.000 euro/năm và còn tăng lên nếu bệnh nhân mắc kèm các bệnh phổi khác. Tại các nước phát triển, những bệnh nhân cần thở oxy dài hạn tại nhà, sẽ được cơ quan y tế cung cấp. Tại Việt Nam, do những hạn chế nhất định, chi phí cho oxy tại nhà do người bệnh tự chi trả. Điều này càng làm tăng thêm gánh nặng tài chính cho người bệnh và gia đình họ. Những biến chứng của bệnh như suy tim, tăng áp động mạch phổi càng làm cho tình trạng khó thở trở nên trầm trọng, dẫn đến tử vong.

Tầm quan trọng của việc điều trị sớm

Các triệu chứng của xơ phổi rất khó chẩn đoán vì chúng không đặc hiệu. Người bệnh có thể không có triệu chứng hay chỉ có các biểu hiện như ho khan mãn tính, khó thở, mệt mỏi, tương tự như các bệnh về phổi thông thường. Hơn nữa, các triệu chứng có thể xuất hiện dưới dạng nhẹ, khiến nhiều bệnh nhân không được chẩn đoán cho đến khi bệnh tiến triển sang giai đoạn nặng.

Bệnh có mức độ ảnh hưởng đến mỗi người khác nhau cũng như tiến triển với tốc độ khác nhau, nhưng nhìn chung, khi có các triệu chứng như dưới đây, cần đến thăm khám tại các cơ sở y tế gần nhất: ho khan; khó thở, đặc biệt là trong hoặc sau khi hoạt động thể chất; mệt mỏi; sụt cân không rõ nguyên nhân; ngón tay dùi trống (đầu ngón tay hay móng tay bị sưng hoặc lồi); sưng cẳng chân; khi xét nghiệm, nồng độ oxy trong máu thấp hơn bình thường, có thể dẫn đến suy hô hấp, suy tim.

Cho đến nay, chưa có biện pháp hiệu quả điều trị dứt điểm căn bệnh này. Từ năm 2015, các hiệp hội hô hấp trên thế giới thống nhất hướng dẫn sử dụng thuốc kháng xơ để điều trị bệnh xơ phổi vô căn. Mặc dù thuốc kháng xơ không chấm dứt hay đảo ngược được các tổn thương xơ phổi về tình trạng bình thường, nhưng có tác dụng làm chậm quá trình xơ phổi. Các nghiên cứu cho thấy thuốc có tác dụng giảm tốc độ xơ phổi xuống đến 50%. Những nghiên cứu này cũng ghi nhận rằng, ở bệnh nhân được sử dụng thuốc chống xơ, thời gian sống thêm là 8-11 năm thay vì 3 năm nếu không được điều trị.

Việc điều trị sớm bằng thuốc kháng xơ cũng làm giảm nguy cơ tử vong do các đợt cấp của bệnh cũng như làm tăng khả năng gắng sức, tăng chất lượng cuộc sống của người bệnh. Việc điều trị bệnh ngay khi chức năng phổi còn ở trong giới hạn bình thường, sẽ làm chậm lại tiến triển của bệnh, người bệnh vẫn có thể làm việc bình thường.

Ở giai đoạn muộn của bệnh, ghép phổi là giải pháp cuối cùng. Đây là một kỹ thuật rất tiên tiến nhưng chưa phổ biến tại Việt Nam do tình trạng khan hiếm người hiến tặng phổi. Nhìn chung, để kéo dài thời gian sống, giảm thiểu chi phí điều trị và chăm sóc người bệnh, điều quan trọng nhất là người bệnh cần được phát hiện bệnh sớm, khi bệnh còn có khả năng điều trị.

Để phòng ngừa căn bệnh này, chúng ta cần có lối sống và sinh hoạt lành mạnh: không hút thuốc, giữ cân nặng ở mức hợp lý, tiêm vắc-xin phòng ngừa các bệnh lý về phổi, bổ sung vitamin đầy đủ, hạn chế tiếp xúc với các môi trường ô nhiễm, có biện pháp bảo vệ bản thân nếu phải làm việc hoặc sống trong các môi trường này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. https://www.thoracic.org/statements/guideline-implementation-tools/diagnosis-of-ipf.php.

2.G. Raghu, et al. (2018), “Diagnosis of idiopathic pulmonary fibrosis: an official ATS/ERS/JRS/ALAT clinical practice guideline”, Am. J. Respir. Crit. Care Med.198(5), pp.44-68.

3. D.B. Coultas, et al. (1994), "The epidemiology of interstitial lung diseases", Am. J. Respir. Crit. Care Med.150(4), pp.967-972.

4. G. Raghu, et al. (2004), "The epidemiology of interstitial lung disease and its association with lung cancer", Br. J. Cancer91(2), pp.3-10.

5. B. Duchemann, et al. (2017), "Prevalence and incidence of interstitial lung diseases in a multi-ethnic county of Greater Paris", European Respiratory Journal50(2), DOI: 10.1183/13993003.02419-2016.

6. https://www.erswhitebook.org/chapters/interstitial-lung-diseases/.

7. T.M. Maher, et al. (2021), “Global incidence and prevalence of idiopathic pulmonary fibrosis”, Respiratory Research22(1), DOI: 10.1186/s12931-021-01791-z.

https://vjst.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Ứng dụng và tương lai của thị giác máy tính (12/8/2022)
Đầu tư cho R&D: Bài học từ những doanh nghiệp tiên phong (12/8/2022)
Công bố trên Nature: Việt Nam tham gia nghiên cứu về quản trị rủi ro (12/8/2022)
Công nghệ sẽ là trụ cột của kinh tế Việt Nam trong 10 năm tới (10/8/2022)
Chiết xuất omega 3 và các hợp chất chống oxy hóa từ cây tía tô Việt Nam (08/8/2022)
Mỗi năm thu lãi trên 500 triệu đồng từ nuôi thỏ (03/8/2022)
Doanh nghiệp và công nghệ trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 (02/8/2022)
Tìm hiểu phương pháp bảo quản nông sản từ màng bao chitosan (02/8/2022)
Hoạt động nghiên cứu và phát triển trong doanh nghiệp Việt Nam: Thực trạng và giải pháp (02/8/2022)
Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam thích ứng với bối cảnh mới (01/8/2022)
Hệ sinh thái đất ngập nước: Nâng cao giá trị sử dụng gián tiếp (29/7/2022)
Những công nghệ làm thay đổi tương lai ngành năng lượng thế giới (27/7/2022)
AI: Các xu hướng đang nổi và nhu cầu chuyên gia của Việt Nam (27/7/2022)
Xây dựng tiêu chí đánh giá tiềm năng ứng dụng, thương mại hoá sáng chế (27/7/2022)
Bệnh đậu mùa khỉ: Những điều cần biết (27/7/2022)
“Siêu enzyme” phân hủy nhựa (27/7/2022)
Các xu hướng dẫn dắt của ngành công nghệ thông tin - viễn thông (26/7/2022)
Những tiến bộ của khoa học thực vật góp phần thúc đẩy an ninh lương thực (25/7/2022)
Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp: Thông thoáng và cụ thể hơn (25/7/2022)
Những thành tựu nổi bật và xu hướng công nghệ trí tuệ nhân tạo (25/7/2022)
Bản đồ hiện trạng chất thải rắn - giải pháp tối ưu hoá khai thác tiềm năng chất thải rắn tại Việt Nam (22/7/2022)
Rào cản chính đối với việc chuyển giao tri thức của các quốc gia trên thế giới phát sinh từ nút thắt về cơ chế (22/7/2022)
Khai thác công nghệ phục vụ chiến lược phát triển của doanh nghiệp (19/7/2022)
Tạo hành lang pháp lý cho công nghiệp công nghệ số (15/7/2022)
Phát triển cảm biến nano phát hiện thuốc trừ sâu trên trái cây (14/7/2022)
Công bố quốc tế về trí tuệ nhân tạo (14/7/2022)
Chiếu sáng thông minh - Dẫn lối phát triển cho đô thị thông minh (13/7/2022)
Nâng cao năng lực khoa học công nghệ nội sinh quốc gia để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (13/7/2022)
Chuyển đổi năng lượng tại Việt Nam: Cơ hội lớn cho nền kinh tế bền vững (13/7/2022)
Muốn cạnh tranh phải có công nghệ riêng (12/7/2022)
Phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam: Cơ hội và thách thức (08/7/2022)
Thìa canh và công dụng điều trị bệnh đái tháo đường (08/7/2022)
Thị trường công nghệ thông tin - viễn thông Việt Nam: Cơ hội, thách thức và ưu tiên chiến lược (07/7/2022)
Nhóm nghiên cứu là sinh viên giải quyết bài toán trong sản xuất của doanh nghiệp (05/7/2022)
Ứng dụng KHCN phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản (04/7/2022)
Bước tiến vượt bậc của phân bón hữu cơ (30/6/2022)
Ứng dụng hạt nano nâng cao hiệu quả thuốc kháng sinh (30/6/2022)
Lưới điện thông minh - giải pháp bền vững cho ngành điện (30/6/2022)
Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển: kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam (30/6/2022)
Công nghệ DNA mới khiến chúng ta phải "vẽ lại" cây tiến hóa (30/6/2022)
Công nghệ bức xạ trong kiểm soát ô nhiễm chất thải nhựa (28/6/2022)
Đóng góp mới vào bộ sưu tập mẫu vật thiên nhiên của Việt Nam (28/6/2022)
Tự động hóa - chìa khóa giúp doanh nghiệp tăng năng suất làm việc (21/6/2022)
Kỷ nguyên năng lượng hydro đã trở thành hiện thực (17/6/2022)
Cam Lộ: Cây rau đay quả dài cho thu nhập hơn 400 triệu đồng/ha (16/6/2022)
Tăng cường các giải pháp hỗ trợ ví điện tử (15/6/2022)
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam (14/6/2022)
Quy trình sản xuất dầu neem chứa hoạt chất azadirachtin hàm lượng cao (14/6/2022)
Chuỗi giá trị dược liệu gắn với du lịch (14/6/2022)
Hiệu quả kinh tế từ phát triển HTX ứng dụng công nghệ cao (13/6/2022)
Thông báo về việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Thông báo Ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại buổi làm việc với Hội Doanh nhân trẻ Quảng Trị

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 2.908
Hôm nay 6.439
Hôm qua 10.109
Tất cả 6.194.586
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!