Thứ Bảy ngày 03/12/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Sở hữu trí tuệ
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 27/6/2022

Bảo hộ Chỉ dẫn địa lý "Cà Mau" cho sản phẩm cua
Ngày 08/6/2022, Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 2576/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00116 cho sản phẩm cua “Cà Mau”. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau là Tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý này.

Cà Mau là một trong 13 tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có 3 mặt giáp biển nên rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản. Cua biển là một trong những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, được hầu hết người dân Cà Mau nuôi xen canh với tôm, cá. Cua Cà Mau được đánh giá cao do được nuôi theo hình thức quảng canh trong hệ sinh thái mặn lợ, giàu nguồn thức ăn nên có chất lượng tốt, chắc thịt, vị ngọt đậm, thơm ngon, hàm lượng dinh dưỡng cao, thị trường tiêu thụ ổn định, các thương lái tìm đến tận nơi sản xuất thu mua với giá cạnh tranh, rất hấp dẫn đối với người tiêu dùng, được tiêu thụ rộng rãi trong nước và xuất khẩu sang các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.

 


Cua Cà Mau có kích thước lớn, cua gạch có chiều dài thân 11,3 – 13,14 cm, chiều rộng thân 7,92 – 9,66 cm, chiều dầy thân 3,37 – 4,95 cm, trọng lượng từ 0,26 – 0,39 kg/con; cua thịt có chiều dài thân 9,84 – 13,66 cm, chiều rộng thân 6,68 – 9,96 cm, chiều dầy thân 3,2 – 4,7cm, trọng lượng từ 0,22 – 0,46 kg/con. Ngoài ra, cua Cà Mau còn có hàm lượng Protein và Lipid (béo) cao trong thịt và gạch cua. Cua gạch Cà Mau có hàm lượng Protein trong thịt cua là 14,06 – 19,99%, hàm lượng Lipid (béo) trong thịt cua là 0,46 – 2,1% và hàm lượng Lipid (béo) trong gạch cua là 5,64 – 10,62%. Cua thịt Cà Mau có hàm lượng Protein trong thịt cua là 14,34 – 18,75%, hàm lượng Lipid (béo) trong thịt cua là 0,44 – 1,92%.
 

Cua Cà Mau có những tính chất, chất lượng đặc thù như vậy một phần là nhờ có các điều kiện tự nhiên đặc thù, thích hợp tập tính sinh sống của cua biển. Khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý “Cua Cà Mau” có nền nhiệt độ trung bình 27,1ºC (cao nhất tháng 4 và thấp nhất tháng 1), chênh lệch giữa các tháng trong năm không quá 5ºC. Nền nhiệt độ này hoàn toàn phù hợp cho cua biển sinh trưởng và phát triển. Nước trong khu vực địa lý có độ pH trung bình là 7,36, độ mặn dao động không lớn, từ 7,00 – 36,10‰. Mặt khác, khu vực địa lý ít chịu ảnh hưởng của bão nên hoạt động sinh lý của cua ít bị biến động mạnh.

Bờ biển phía Đông từ cửa sông Gành Hào (huyện Đầm Dơi) đến vùng cửa sông Rạch Gốc (huyện Ngọc Hiển) bị xói lở, có nơi mỗi năm bị xói lở trên 20 mét. Ngược lại, vùng Bãi Bồi Mũi Cà Mau hàng năm được phù sa bồi đắp từ 50 đến 80 mét. Khi triều xuống, mực nước vùng bãi bồi rút ra xa hàng trăm mét, lộ ra bờ biển khá bằng phẳng được cấu thành từ cát, bột sét, mùn bã thực vật và xác vỏ của các loài giáp xác, tạo thuận lợi cho nuôi hải sản nói chung và cua biển nói riêng. Các khu vực bồi tụ được hình thành với tốc độ nhanh ở phía cửa sông như Rạch Gốc, Gành Hào mang theo các vật liệu phù sa mịn chảy vào. Đây là nơi sinh sống thích hợp cho các loài thủy sinh vật và cây rừng ngập mặn là môi trường thuận lợi để cua biển sinh trưởng và phát triển.


Do tập tính sinh sống của cua biển, trong giai đoạn trưởng thành, cua biển sống vùi dưới đáy ao nên các yếu tố liên quan đến đáy bùn ao cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng sản phẩm cua Cà Mau. Các chỉ số của bùn đáy ao nuôi cua phù hợp với sinh trưởng và phát triển của cua Cà Mau. Trong đó, chỉ số pH ổn định (trung bình 7,6) tạo môi trường thuận lợi cho cua và tổng số muối hòa tan (trung bình 2,8%) tạo nên sự rắn chắc của cua trong quá trình sinh trưởng. Khu vực địa lý được đánh giá có năng suất sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái ven biển Đông Nam Việt Nam, từ các loài thuỷ hải sản cho đến các sinh vật phù du nhỏ bé. Tại vùng nuôi cua Cà Mau có đa dạng các loài động vật đáy và động vật nổi với số lượng cao, ảnh hưởng tốt đến quá trình sinh trưởng và phát triển cho cua biển, do các loài động vật này là thức ăn cho cua trong quá trình sinh trưởng và phát triển.

Ngoài các điều kiện tự nhiên, kỹ năng sản xuất cua của người dân tại khu vực địa lý cũng có vai trò quan trọng, quyết định đến chất lượng của cua Cà Mau. Ao nuôi có bờ bao chắc chắn, không bị rò rỉ, độ cao bờ bao phải đảm bảo cao hơn mực nước cao nhất trong năm từ 0,5 – 0,8m trở lên, có đường cấp và thoát nước. Môi trường nước luôn được đảm bảo có độ mặn: 15 – 25‰; độ pH: 7,5 – 8,5; nhiệt độ nước: 28 – 32oC; độ kiềm: 80 – 160 mg/l; Oxy hoà tan: > 4 mg/l; độ trong: 30 – 40 cm. Nước có màu nâu nhạt hoặc xanh vỏ đậu. Ngoài ra, người dân còn nạo vét bùn đáy sau 2-3 vụ nuôi để cải tạo, giải phóng độ phì của đất.

Cua mang chỉ dẫn địa lý Bến Tre là giống cua xanh (tên khoa học là Scylla paramamosain) được khai thác tự nhiên hoặc sinh sản nhân tạo tại các trại sản xuất cua giống trong tỉnh Cà Mau, được thả với mật độ 1 – 2 con/macó kết hợp với các loài thủy sản khác như tôm, sò huyết... để bổ sung thức ăn tự nhiên cho cua. Ngoài ra, cua còn được cho ăn bổ sung là các loại cá tạp và động vật nhuyễn thể khai thác tại chỗ, được bổ sung khoáng, vitamin, men tiêu hóa. Mỗi ngày cho cua ăn 2 lần, lượng thức ăn bằng 5 – 7% trọng lượng thân/ngày. Sau thời gian hơn 4 tháng nuôi thì tiến hành thu tỉa những con cua đạt kích cỡ thương phẩm để cua có kích thước, chất lượng đồng đều.

Khu vực địa lý: Gồm các xã, phường và thị trấn thuộc tỉnh Cà Mau, cụ thể:

- Thị trấn Rạch Gốc và các xã Đất Mũi, Tam Giang Tây, Tân Ân Tây, Tân Ân, Viên An Đông, Viên An thuộc huyện Ngọc Hiển;

- Thị trấn Năm Căn và các xã Đất Mới, Hàm Rồng, Hàng Vịnh, Hiệp Tùng, Lâm Hải, Tam Giang, Tam Giang Đông thuộc huyện Năm Căn;

- Thị trấn Cái Đôi Vàm và các xã Nguyễn Việt Khái, Phú Mỹ, Phú Tân, Phú Thuận, Rạch Chèo, Tân Hải, Tân Hưng Tây, Việt Thắng thuộc huyện Phú Tân;

- Thị trấn Đầm Dơi và các xã Ngọc Chánh, Nguyễn Huân, Quách Phẩm, Quách Phẩm Bắc, Tạ An Khương, Tạ An Khương Đông, Tạ An Khương Nam, Tân Dân, Tân Đức, Tân Duyệt, Tân Thuận, Tân Tiến, Tân Trung, Thanh Tùng, Trần Phán thuộc huyện Đầm Dơi;

- Thị trấn Cái Nước và các xã Đông Hưng, Đông Thới, Hòa Mỹ, Hưng Mỹ, Lương Thế Trân, Phú Hưng, Tân Hưng Đông, Tân Hưng, Thạnh Phú, Trần Thới thuộc huyện Cái Nước;

- Thị trấn Sông Đốc và các xã Lợi An, Phong Điền, Phong Lạc thuộc huyện Trần Văn Thời;

- Các xã Hồ Thị Kỷ, Tân Lộc, Tân Lộc Đông, Tân Lộc Bắc thuộc huyện
Thới Bình;

- Phường Tân Thành và các xã An Xuyên, Định Bình, Hòa Tân, Hòa Thành, Tắc Vân, Tân Thành thuộc thành phố Cà Mau./.

https://www.ipvietnam.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Gia Lai” cho sản phẩm cà phê (23/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Bến Tre” cho sản phẩm xoài tứ quý (23/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “NAPA VALLEY” cho sản phẩm rượu vang (21/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Suối Giàng Văn Chấn” cho sản phẩm chè Shan tuyết (17/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Văn Chấn” cho sản phẩm quả cam (17/11/2022)
Quy định mới về nhãn hiệu và chiến lược bảo vệ thương hiệu (16/11/2022)
Phát triển tài sản trí tuệ: Kinh nghiệm từ các viện, trường (14/11/2022)
Nhãn hiệu nổi tiếng: Cơ chế bảo hộ tại Việt Nam và một số khuyến nghị (10/11/2022)
Tăng cường hiệu quả thực thi và khai thác, phát triển giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực Da giầy - Túi xách Việt Nam (10/11/2022)
Biểu trưng chỉ dẫn địa lý quốc gia: Bước tiến mới phát triển CDĐL của Việt Nam (04/11/2022)
Công bố Biểu trưng chỉ dẫn địa lý quốc gia Việt Nam (02/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “TEQUILA” cho sản phẩm rượu (19/10/2022)
Bảo hộ CDĐL ở nước ngoài: Để thực sự là "cơ hội vàng" (14/10/2022)
Bảo vệ sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp Việt trên môi trường số: Nhức nhối và thách thức (03/10/2022)
Hội nghị bàn tròn về thực thi quyền SHTT trên không gian mạng (28/9/2022)
Phát triển hệ thống SHTT ở Việt Nam: Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế (23/9/2022)
Tạo lập, quản lý và quảng bá nhãn hiệu chứng nhận “Nếp Thủ Thừa” (22/9/2022)
Quy định về “sử dụng hợp lý” tác phẩm: Góc nhìn so sánh từ pháp luật Vương quốc Anh và Việt Nam (20/9/2022)
Xây dựng thương hiệu cho nông sản ở Việt Nam: Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn (20/9/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “MIYAGI SALMON” cho sản phẩm cá hồi (19/9/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Lamphun” cho sản phẩm nhãn sấy khô cơm vàng (19/9/2022)
WIPO khuyến nghị thúc đẩy SHTT ở 3 nhóm đối tượng (14/9/2022)
Khởi động chương trình đào tạo sở hữu trí tuệ dành cho cán bộ ngoại giao và nhà đàm phán thương mại (09/9/2022)
Bảo hộ quyền tác giả dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 (06/9/2022)
Tên miền và nhãn hiệu: Sự tương thích, khả năng vi phạm và khuyến cáo đối với doanh nghiệp (06/9/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Bến Kè” cho sản phẩm khoai mỡ (25/8/2022)
Bảo hộ quyền SHTT trong kiến trúc: Những vướng mắc (22/8/2022)
Đưa những quy định mới về sở hữu trí tuệ vào cuộc sống (17/8/2022)
Bà Rịa - Vũng Tàu: Tích cực triển khai Chương trình phát triển tài sản trí tuệ (17/8/2022)
Chế định parody: một ngoại lệ của luật bản quyền - Trường hợp của EU và Hoa Kỳ (08/8/2022)
Phương pháp truy xuất nguồn gốc địa lý gạo Séng Cù (08/8/2022)
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thời đại 4.0 như thế nào? (05/8/2022)
Doanh nghiệp ngày càng quan tâm tới sở hữu trí tuệ (02/8/2022)
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ - góp phần đưa hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam lên chuẩn mực thế giới (01/8/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý Nâng cao chuỗi giá trị đặc sản địa phương (01/8/2022)
Quản lý hiệu quả hệ thống sở hữu trí tuệ quốc gia, phục vụ tốt người dân, doanh nghiệp (01/8/2022)
Quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường thương mại điện tử: Thực trạng và một số đề xuất (29/7/2022)
Tìm giải pháp ngăn chặn vi bản phạm bản quyền trực tuyến (22/7/2022)
Sở hữu trí tuệ dành cho giới nghiên cứu và doanh nghiệp: Hành trình của nhà khoa học trẻ Lee Jinha (15/7/2022)
Hội thảo “Khai thác thông tin Sở hữu công nghiệp trên Nền tảng IPPlatform” (04/7/2022)
Mạng lưới TISC: “Bà đỡ” cho tài sản trí tuệ ở viện, trường (04/7/2022)
VNNIC ra mắt hình ảnh thương hiệu tên miền quốc gia “.vn” (30/6/2022)
Hội thảo “Hỗ trợ hoạt động quản trị tài sản trí tuệ thông qua công cụ khai thác thông tin sở hữu công nghiệp” (30/6/2022)
Nâng cao giá trị, danh tiếng cho sản phẩm “chanh không hạt Hậu Giang” (29/6/2022)
Ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (01/6/2022)
Nền tảng IPPlatform quản lý tài sản sở hữu trí tuệ (27/5/2022)
Tìm hiểu về bộ chỉ tiêu về quyền tài sản - Liên minh Quyền tài sản (11/5/2022)
Blockchain và ứng dụng trong đăng ký, xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (10/5/2022)
Nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam (05/5/2022)
Bảo vệ bản quyền trên môi trường số: Những thách thức mới (04/5/2022)
Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ viên nén chuyên dùng cho cây lúa quy mô công nghiệp.
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 4.320
Hôm nay 2.660
Hôm qua 7.231
Tất cả 7.676.699
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!