Thứ Bảy ngày 01/10/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Sáu, ngày 08/7/2022

Nghiên cứu cơ chế quan hệ đối tác công tư và các chính sách, giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến công nghệ tại Việt Nam
Theo World Bank (2010), khuyến công nghệ (Technology Extension) bao gồm nhiều loại dịch vụ KH&CN đa dạng nhằm mang đến những tiến bộ nhỏ nhưng có lợi qua việc phổ biến tới doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) những công nghệ đã có. Các chương trình khuyến công nghệ (khuyến CN) thường cung cấp, hỗ trợ nguồn lực cho phép doanh nghiệp xác định nhu cầu và tìm được giải pháp công nghệ phù hợp hoặc xác định và cung cấp giải pháp thông qua những hỗ trợ hướng mục tiêu. Tìm giải pháp phù hợp cho những vấn đề công nghệ của DNNVV trên cơ sở khai thác tốt hơn các nguồn công nghệ đã có và khuyến khích doanh nghiệp học hỏi thông qua áp dụng tiêu chuẩn tiên tiến đều mang lại những lợi ích to lớn với nguồn lực không quá lớn

UNCTAD (2007) khi nghiên cứu về đổi mới công nghệ tại các nước chậm phát triển cũng chỉ ra rằng ở các nước này để phát triển và tích lũy tri thức, việc học hỏi, tiếp thu công nghệ (đặc biệt thông qua đáp ứng tiêu chuẩn của khách hàng nước ngoài hay doanh nghiệp FDI) có ý nghĩa to lớn hơn nghiên cứu và phát triển chính thức. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, các tổ chức nghiên cứu, trường đại học cần tích cực và chủ động hơn trong việc hỗ trợ cho doanh nghiệp nước mình trong quá trình học hỏi đó.

OECD (1998) và Schacht W.H. (2011) giới thiệu và đánh giá tổng quan về khuyến CN ở Hoa kỳ gắn với các hoạt động trong chương trình Quan hệ đối tác khuyến sản xuất (MEP) của chính quyền liên bang. MEP thực chất là một mạng lưới các trung tâm vùng hoạt động trên cơ sở quan hệ đối tác nhiều bên (cả công và tư) cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và dịch vụ kinh doanh sát với nhu cầu của DNN&V ở địa phương nhằm nâng cao kết quả hoạt động và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp này. Chương trình là một sáng kiến phối hợp giữa chính quyền liên bang và chính quyền các bang, có sự tham gia của cả các tổ chức không vì mục đích lợi nhuận, các cơ quan khoa học, và các nhóm doanh nghiệp. Đi vào hoạt động vào năm 1988 với 3 trung tâm, đến năm 1994 MEP nhập thêm 36 trung tâm ban đầu do Bộ quốc phòng tài trợ và nhanh chóng mở rộng ra tất cả các bang, với khoảng 60 trung tâm và hơn 440 trạm thực địa cung cấp những hỗ trợ công nghiệp cả công và tư. MEP được tổ chức phi tập trung và rất linh hoạt. Kinh phí liên bang được dùng để hỗ trợ cho việc thành lập và vận hành của các trung tâm vùng theo nguyên tắc cạnh tranh có đối ứng và trên cơ sở đánh giá năng lực của cơ quan đối tác địa phương. Bên cạnh việc huy động các nguồn lực tự có, các trung tâm MEP còn cộng tác với hàng nghìn tổ chức cả công và tư trên khắp nước Mỹ, qua đó khai thác được nguồn lực khác, tránh trùng lắp về dịch vụ, thu hút được các kỹ năng chuyên môn, tăng nhận thức và thúc đẩy sự linh hoạt trong cung ứng dịch vụ. Hoạt động của các trung tâm mang tính thị trường, có hỗ trợ của nhà nước khi doanh nghiệp phải trả khoảng 40% chi phí dịch vụ.

Tuy đạt được những thành tựu nhất định, nhưng thực tế cho thấy một số kết quả nghiên cứu tạo ra từ việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN của nhà nước chưa thực sự phù hợp để giúp giải quyết những vấn đề công nghệ mà số đông doanh nghiệp, đặc biệt DNNVV gặp phải. Thực tế cũng cho thấy, việc tìm ra những giải pháp có sẵn hoặc đưa ra những giải pháp đơn giản, độc đáo, đúng “chỗ ngứa” cho các vấn đề công nghệ của DNNVV thường mang lại hiệu quả lớn hơn so với việc các cơ quan KH&CN phát triển công nghệ mới, (thường là chưa sẵn sàng để thương mại hóa) rồi tìm cách chuyển giao cho DNNVV.

Thực tiễn cũng cho thấy giải pháp cho những vấn đề công nghệ mà DNNVV gặp phải có thể đã có mà doanh nghiệp chưa biết, hoặc biết nhưng không tiếp cận được. Cũng có thể đó là những vấn đề đặc thù, chưa từng gặp, cần nghiên cứu chuyên biệt để có giải pháp phù hợp. Do vậy, cơ chế xác định và thực hiện nhiệm vụ KH&CN 3 như hiện nay sẽ không phù hợp và cần có những cơ chế hỗ trợ thích hợp hơn có khả năng nhanh chóng giúp DNNVVs xác định rõ các vấn đề công nghệ họ cần giải quyết; tìm đúng, áp dụng thành công công nghệ sẵn có, phù hợp; hoặc nghiên cứu phát triển giải pháp riêng, đơn giản. Ngoài ra, việc nghiên cứu tổng kết các tiêu chuẩn kỹ thuật tiên tiến, những thực hành tốt, cách làm hay rồi khuyến cáo, hỗ trợ DNNVVs áp dụng cũng sẽ mang lại những thành quả rõ ràng với chi phí thấp. Đây là những nội dung cơ bản nhất của hoạt động khuyến CN.

Để có thể thực hiện tốt hơn các hoạt động khuyến CN, đáp ứng trúng đích, nhanh chóng, hiệu quả nhu cầu đa dạng về giải pháp công nghệ, dịch vụ kỹ thuật của số đông DNNVV, sẽ phải dựa vào mạng lưới các tổ chức, chuyên gia, doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau được gắn kết thông qua các đầu mối điều phối hữu hiệu hoạt động theo cơ chế thị trường có trợ giúp của Nhà nước. Những đầu mối này phải có năng lực kết nối, hoạt động theo tín hiệu thị trường, được điều hành chuyên nghiệp, có khả năng thiết lập quan hệ đối tác với nhiều nhà cung cấp dịch vụ kỹ thuật cả trong nước và quốc tế. Tài trợ cho hoạt động của mạng lưới này cũng cần được điều phối, thông qua quan hệ đối tác của các cơ quan nhà nước trung ứng, địa phương, các tổ chức quốc tế, các chương trình có mục tiêu phù hợp. Việc nghiên cứu cơ chế quan hệ đối tác công tư và các chính sách, giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến CN theo hướng trên đây là hết sức cấp thiết, hứa hẹn mang lại những giải pháp cụ thể, thiết thực giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNVV tại Việt Nam.

Xuất phát từ thực tiễn đó, cơ quan chủ trì Viện chiến lược và chính sách khoa học công nghệ cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài ThS. Nguyễn Võ Hưng thực hiện đề tài Nghiên cứu cơ chế quan hệ đối tác công tư và các chính sách, giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến công nghệ tại Việt Nam với mục tiêu: Đề xuất thiết kế một số mẫu cơ chế quan hệ đối tác công tư thực hiện các hoạt động, cung cấp dịch vụ khuyến CN nhằm khuyến khích, hỗ trợ DNNVV áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật tiên tiến, thực hành chuẩn mực tốt; xác định rõ các vấn đề công nghệ cần giải quyết; tìm đúng, áp dụng thành công công nghệ phù hợp, sẵn có, hoặc nghiên cứu phát triển giải pháp riêng cho các vấn đề công nghệ đã xác định.

Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu về hoạt động khuyến công nghệ phục vụ DNNVV trong ngành chế biến, chế tạo. Phần nghiên cứu về khuyến nông được thực hiện theo yêu cầu của Hội đồng tư vấn thuyết minh nhiệm vụ với kỳ vọng thu được những kinh nghiệm để áp dụng cho hoạt động khuyến công nghệ. Các chương trình, dự án được khảo sát được giới hạn ở các chương trình, dự án còn đang hoạt động, có nội dung liên quan đến khuyến công nghệ, do các bộ ngành, các hiệp hội, tổ chức quốc tế chủ trì thực hiện.

Khuyến CN được xem là một bộ phận của chính sách đổi mới (Innovation Policies), tuy nhiên, khuyến công nghệ không nhằm vào việc phát triển các công nghệ mới, tạo ra các tài sản trí tuệ hoặc thành lập doanh nghiệp mới mà nhằm phổ biến các công nghệ đã được kiểm chứng, các thực hành tốt đến DNVVV đã định hình nhằm nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc hấp thu, làm chủ công nghệ là một bước chuẩn bị để doanh nghiệp có thể thực hiện các đổi mới phức tạp hơn và cũng là bước cần thiết để phát triển văn hóa đổi mới. Các doanh nghiệp có hiệu quả cao trong cải tiến sản xuất cũng là các đơn vị có năng suất cao, có khả năng học hỏi từ kinh nghiệm giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp ở tất cả các cấp quản lý.

Việc quản lý cải tiến kỹ thuật, một mục tiêu mà hoạt động khuyến công nghệ hướng tới, và quản lý đổi mới sáng tạo khác nhau không chỉ về mục tiêu mà còn về nội dung và hoạt động. Về cơ bản, cải tiến kỹ thuật nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi trong hình thức sản xuất của doanh nghiệp, đó là những giải pháp tự nhiên cho những vấn đề hiện tại và tạo thuận lợi cho việc đạt được các mục tiêu kinh doanh. Trong khi đó, quản lý đổi mới thường nhằm tới sự chuyển đổi then chốt trong hoạt động của doanh nghiệp, những thay đổi mang tính chiến lược cơ bản. Ngay cả trong trường hợp "đổi mới nhỏ" - những thay đổi tương đối nhỏ trong quy trình công nghệ hoặc sản phẩm - trọng tâm chiến lược của doanh nghiệp thường cũng phải có thay đổi đáng kể. Với đổi mới sáng tạo, phương thức kinh doanh của một doanh nghiệp có thể thay đổi, đi kèm theo là các mối quan hệ khách hàng, hay toàn bộ mối quan hệ của doanh nghiệp với thị trường. Khuyến công nghệ chưa giúp được các doanh nghiệp có khả năng đối phó với những thay đổi như vậy nhưng có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận gần hơn nếu các hỗ trợ về kỹ thuật phát huy tác dụng.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Đề tài nghiên cứu về khuyến công nghệ, một vấn đề tưởng như không mới vì đã có nhiều chương trình, dự án về phổ biến công nghệ, phổ biến thực hành tốt, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật công nghệ cho DNNVV. Tuy nhiên, các chương trình này thường gặp vấn đề về tiếp cận doanh nghiệp; năng lực “vươn tới” doanh nghiệp, bám sát doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu đa dạng, chuyên biệt, nhanh của doanh nghiệp còn rất hạn chế.

Đề tài chỉ ra ba nguyên nhân chính. Thứ nhất là sự bỏ sót “cơ hội chính sách”, khuyến công nghệ với đối tượng là các DNNVV trung bình, đã và đang hoạt động và nội dung chủ yếu liên quan đến cải thiện hoạt động, phổ biến áp dụng công nghệ đã ổn định, tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề công nghệ “bình thường”, v.v... còn chưa được chú ý. Số đông DNNVV với nhu cầu giải quyết các vướng mắc về công nghệ “bình thường” rất đáng được hỗ trợ của Nhà nước, của các tổ chức KH&CN.

Thứ hai là về cách tổ chức hỗ trợ DNNVV. Phần lớn các chương trình, dự án này hiện đang tổ chức theo kiểu “cát cứ”, manh mún. Khuyến CN cần được thực hiện một cách có hệ thống, với nhiều loại dịch vụ thiết thực, bổ trợ lẫn nhau. Bởi vậy, đề tài đề xuất tổ chức chương trình khuyến công nghệ dựa trên nền tảng quan hệ đối tác nhiều bên, nhiều tầng nấc, với hạt nhân là mạng lưới các Trung tâm khuyến công nghệ vùng, địa phương. Các trung tâm này cần hoạt động theo cơ chế thị trường, do các tổ chức mẹ có năng lực kết nối mạng lưới, đóng vai trò như “cổng kết nối” các nhà cung cấp dịch vụ.

Thứ ba là những quy định cứng nhắc, nặng về hành chính liên quan tới Luật ngân sách, nhiều thứ hoàn toàn không phù hợp với đòi hỏi phản ứng nhanh, đáp ứng trúng nhu cầu hỗ trợ của DNNVV. Nếu mỗi khi doanh nghiệp gặp khó khăn về công nghệ cần sự trợ giúp lại phải đề xuất một “nhiệm vụ KH&CN” theo trình tự thủ tục lập kế hoạch, giao dự toán, thanh quyết toán như hiện nay thì đảm bảo chương trình khuyến công nghệ sẽ không thể chạy được. Một số đề xuất về cơ chế, chính sách để chạy chương trình khuyến công nghệ đã được bàn luận, đề xuất trong các phần khác nhau của Đề tài.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17280/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu công nghệ ép đóng bánh sắt xốp làm nguyên liệu cho các lò luyện thép (28/9/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên ép quặng cám cung cấp cho lò hoàn nguyên (28/9/2022)
Nghiên cứu ứng dụng hệ thống cánh khuấy chống đóng bám thay thế cánh khuấy truyền thống (28/9/2022)
Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm công nghệ chống thấm hồ thải quặng đuôi ở các nhà máy tuyển khoáng sử dụng màng phun áp lực thay thế màng chống thấm HDPE (27/9/2022)
Nghiên cứu chế tạo hệ thống thải tro xỉ nhà máy nhiệt điện đốt than (27/9/2022)
Nghiên cứu khả năng bảo vệ da của cao chiết hoa thanh long (22/9/2022)
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật y học hạt nhân và sinh học phân tử trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa kháng I - 131 (22/9/2022)
Nghiên cứu bảo tồn, phục hồi đa dạng sinh học các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (22/9/2022)
Nghiên cứu chọn tạo và đánh giá các dòng xoan ta chuyển gen sinh trưởng nhanh có triển vọng (22/9/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển xuất khẩu bền vững mặt hàng rau quả của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (22/9/2022)
Nghiên cứu tạo sự kiện (event) ngô biến đổi gen chịu hạn đáp ứng về an toàn sinh học và có giá trị kinh tế (20/9/2022)
Chiết tách thành công lycopene từ quả gấc (20/9/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả thực hiện các chương trình và dự án phát triển năng lực của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) tại Việt Nam (20/9/2022)
Nghiên cứu dự báo nguy cơ tai biến trượt lở mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm miền núi tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp ứng phó (19/9/2022)
Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp quản lý bệnh cháy lá hại rừng trồng bạch đàn tại vùng Trung tâm Bắc Bộ (19/9/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị giám sát để điều khiển chế độ sấy lúa tối ưu cho máy sấy tháp (19/9/2022)
Nghiên cứu điều chế thử nghiệm Silic tinh thể dạng nano bằng phương pháp nhiệt kim (15/9/2022)
Nghiên cứu tạo sự kiện (event) ngô biến đổi gen chịu hạn đáp ứng về an toàn sinh học và có giá trị kinh tế (15/9/2022)
Nghiên cứu công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và đề xuất mô hình ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) trong phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam (15/9/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy (13/9/2022)
Ứng dụng công nghệ trong xây dựng hệ thống thấu hiểu khách hàng và lắng nghe mạng xã hội (12/9/2022)
Lưu giữ và bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy (12/9/2022)
Thị trường đích, phương thức quản trị và nâng cấp chuỗi giá trị: trường hợp ngành hàng gạo và thủy sản ở Việt Nam (12/9/2022)
Nghiên cứu, tính toán các đặc trưng nơtron, thủy nhiệt và phân tích an toàn lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu do Liên bang Nga đề xuất cho Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân Việt Nam (12/9/2022)
Ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt kết hợp nhà màng trong canh tác dưa lưới tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (09/9/2022)
Nghiên cứu, đề xuất và áp dụng thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (09/9/2022)
Công nghệ chiết xuất và thử nghiệm sản xuất viên nang cứng hỗ trợ điều trị tiểu đường từ loài khổ qua, thìa canh và địa hoàng (08/9/2022)
Sản xuất thử nghiệm premix khoáng, premix vitamin cho chăn nuôi (07/9/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện gói kỹ thuật xử lý, sơ chế, bảo quản một số loại quả chủ lực (chuối, sầu riêng, bơ) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu (07/9/2022)
Nâng cao năng lực, xây dựng và kiểm nghiệm phương pháp chuyển giao công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam (06/9/2022)
Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng nguồn lợi và khả năng khai thác, nuôi trồng các loài rong biển kinh tế tại các đảo tiền tiêu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (06/9/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai chịu hạn, năng suất cao phục vụ chuyển đổi cây trồng cho vùng trung du miền núi phía Bắc (31/8/2022)
Nghiên cứu tuyển than cám 0,5-8 mm vùng Vàng Danh - Uông Bí trên thiết bị tuyển nổi trọng lực dạng hydrofloat năng suất 1,0 t/giờ (31/8/2022)
Dự án AQUAMN triển khai Hệ thống quan trắc nước ngập mặn ở Cà Mau (29/8/2022)
Tính toán ảnh hưởng của nhiên liệu có chứa Actini hiếm đến tính toán vật lý và an toàn lò phản ứng năng lượng VVER (V491) (25/8/2022)
Xây dựng quy trình chiết xuất, bào chế và thử nghiệm sản xuất cao Mướp đắng và viên nang chứa cao khô giàu hoạt chất saponin hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường (25/8/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, phát triển nghề nuôi ong mật và chế biến các sản phẩm ngành ong theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Vĩnh Phúc (25/8/2022)
Nghiên cứu viên nang bảo vệ gan từ bạch hoa xà thiệt thảo và bán chi liên (25/8/2022)
Ứng dụng enzyme hoạt hoá sản xuất rượu táo mèo Tây Bắc (23/8/2022)
Ứng dụng chế phẩm Lactoferrin vào sản xuất thực phẩm chức năng (22/8/2022)
Đa dạng sản phẩm từ cây sâm Việt Nam (22/8/2022)
Sản xuất thử nghiệm giống sắn KM7 tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên (22/8/2022)
Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo lũ, lụt và hạn hán theo thời gian thực trên nền tảng WebGIS (22/8/2022)
Nghiên cứu xây dựng, ứng dụng và phổ biến bộ công cụ chẩn đoán doanh nghiệp ngành công thương (15/8/2022)
Nghiên cứu chính sách, mô hình Quỹ Chất lượng Dịch vụ (QSF) của UPU và đề xuất khai thác hiệu quả cho Việt Nam (15/8/2022)
Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1 (15/8/2022)
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (09/8/2022)
Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn (09/8/2022)
Sản xuất viên nang Zerumboner từ cây gừng gió Việt Nam (08/8/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học trên cơ sở sợi collagen tự nhiên từ vảy cá (08/8/2022)
Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm đề tài: “Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở các xã, thị trấn biên giới tỉnh Quảng Trị”

Thông báo Kết quả xét chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm đề tài: "Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở các xã, thị trấn biên giới tỉnh Quảng Trị"

Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Phát triển KH&CN hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 861
Hôm nay 792
Hôm qua 10.791
Tất cả 6.597.664
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!