Thứ Sáu ngày 09/12/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Sở hữu trí tuệ
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 24/8/2022

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Bến Kè” cho sản phẩm khoai mỡ
Ngày 05/8/2022, Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 3333/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00118 “Bến Kè” cho sản phẩm khoai mỡ. Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Hóa (tỉnh Long An) là tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý này.
Khoai mỡ tím Bến Kè

Bến Kè là tên gọi của một trong 4 ấp thuộc xã Thủy Đông được hình thành từ khá sớm so với lịch sử khai phá vùng Đồng Tháp Mười (Theo địa bạ triều Nguyễn thành lập năm 1836), nằm ở vùng rìa của lòng chảo Đồng Tháp Mười. Từ xa xưa, nơi đây là vịnh biển ăn sâu vào đất liền, do sự tác động của hiện tượng biển thoái từ cách đây 6.000 năm, khu vực này được bồi lấp bởi phù sa, trầm tích của sông Tiền, sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Từ năm 1975, Bến Kè được biết đến là vùng đất của củ khoai mỡ. Cây khoai mỡ với giống bản địa được người dân địa phương đưa vào cơ cấu cây trồng chủ lực của địa phương nhằm góp phần đa dạng hóa cây trồng địa phương và gia tăng sản xuất. Đến nay, toàn bộ huyện Thạnh Hóa đã tập trung sản xuất khoai mỡ với hơn 2.799 ha với năng suất trung bình 15 tấn/ha, sản lượng 41.506 tấn, giá bán bình quân 8.000đ/kg, lợi nhuận thấp nhất là 40 triệu đồng/ha. Sản phẩm củ khoai mỡ không chỉ được phân phối trong phạm vi khu vực nhỏ hẹp của địa phương mà còn vươn mình đến tận khu vực Châu Âu, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật và Cambodia, mang lại niềm tự hào của vùng đất Thạnh Hóa. Cứ mỗi năm vào mùa khoai mỡ từ tháng 11 đến tháng 7 hằng năm, khi có dịp ghé ngang qua vùng Thạnh Hóa – Long An theo đường quốc lộ N2 nối từ thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh Miền Tây và quốc lộ 62 nối từ thành phố Tân An đi biên giới Cambodia thông qua cửa khẩu Bình Hiệp, đâu đâu cũng thấy cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền đầy ắp khoai mỡ đang chờ được thương lái vận chuyển đi các địa phương và đến các nhà máy tiêu thụ.

 

Khoai mỡ trắng Bến Kè

Củ khoai mỡ Bến Kè có hình trụ tròn, dài thuôn đều, ít phân nhánh, trọng lượng củ lớn (1,7 – 2,5 kg/củ với khoai mỡ trắng, 0,9 – 1,7 kg/củ với khoai mỡ tím), thân củ có nhiều rễ phụ, bề mặt cắt nhớt, có nhiều chất nhầy, hạt tinh bột có hình tròn phân bố đều, có ranh giới rõ. Củ khoai mỡ trắng Bến Kè có hàm lượng nước: 66,2 – 69,6%; hàm lượng tinh bột: 24,4 – 27,9%; hàm lượng Kali: 3,1 – 4,9 mg/100g; hàm lượng Mangan: 1,9 – 8,4 mg/100g. Củ khoai mỡ tím Bến Kè có hàm lượng nước: 70,3 – 72,8%; hàm lượng tinh bột: 17 – 22,2%; hàm lượng Kali: 2,1 – 4,9 mg/100g; hàm lượng Mangan: 1,6 – 10,5 mg/100g.

Khoai mỡ Bến Kè có những tính chất, chất lượng đặc thù như vậy là nhờ có điều kiện tự nhiên đặc trưng của khu vực địa lý. Khu vực địa lý có mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 11 dương lịch. Nước lũ từ thượng nguồn theo các chi lưu, kênh rạch đã dâng lên và làm ngập lụt hầu hết diện tích canh tác của một số xã tại huyện Thạnh Hóa, trừ các gò cao. Sự xâm nhập của lũ hằng năm theo chu kỳ đã mang lại nhiều nguồn lợi đáng kể, trong đó phải kể đến nguồn phù sa màu mỡ, khoáng chất bồi tụ làm giàu dinh dưỡng cho đất, hạn chế sự phát triển của các dịch hại tác động đến cây trồng. Ngoài ra, thời vụ sản xuất khoai mỡ của người dân tại Bến Kè cũng chịu ảnh hưởng từ mùa lũ, dẫn đến sự khác biệt với các khu vực sản xuất khoai mỡ khác. Người dân Bến Kè sẽ bắt đầu xuống giống vào tháng 12, chăm sóc cây khoai từ tháng 12 tới tháng 5 và thu hoạch từ tháng 6 tới tháng 8. Khi mùa lũ về vào tháng 9, đất sản xuất sẽ được để hoang, ngập lũ cho đến hết mùa lũ vào tháng 11.

Khu vực địa lý cũng có địa hình thấp trũng khó thoát nước, khuynh hướng địa hình thấp dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Địa hình thấp: cao độ < 0,9m chiếm khoảng 95,1% diện tích đất tự nhiên toàn địa bàn. Nơi thấp nhất có cao độ < 0,6m chiếm khoảng 5,3% diện tích. Địa hình trũng thấp khiến cho thổ nhưỡng của khu vực địa lý có sự hiện diện đồng thời của cả phèn và mùn. Đất trồng khoai mỡ có thành phần cơ giới đất phèn và hơi chua: pH H2O từ 3,53 – 3,77, pH KCl từ 3.15 – 3,99. Hàm lượng Fe trao đổi tầng mặt: 0,68%; tầng 20 – 40cm: 0,67%; hàm lượng Al trao đổi ở tầng mặt: 0,78%; tầng 20 – 40cm: 0,69%; hàm lượng chất hữu cơ (mùn): tầng mặt 0 – 20cm: 8,37%; tầng từ 20 – 40cm: 3,57%. Các ion H+; Fe3+; Al3+ có sẵn trong đất đã giúp cố định và cân bằng lượng P và Mg trong đất phù hợp với như cầu P, Mg thấp của cây. Điều này làm cho cây khoai mỡ không bị thiếu hụt hay dư thừa các dưỡng chất quan trọng giúp cây sinh trưởng tốt, hấp thu dinh dưỡng đầy đủ, nhờ đó thành phần dinh dưỡng khoai mỡ Bến Kè tích lũy tối đa, củ khoai mỡ Bến Kè giàu tinh bột, hàm lượng nước thấp, giàu khoáng chất. Ngoài ra, lượng mùn cao trong đất đã tạo nên một kết cấu tơi xốp, khắc phục hiện tượng đất bị dí chặt, đất giữ nước và duy trì độ ẩm ổn định. Điều này hoàn toàn có lợi cho sự phát triển của cây có củ nói chung và khoai mỡ nói riêng.

Ngoài các điều kiện tự nhiên đặc thù, người dân Bến Kè cũng có những bí quyết sản xuất riêng, góp phần tạo nên tính chất, chất lượng đặc thù của củ khoai mỡ. Giống khoai mỡ được sử dụng là giống khoai mỡ trắng Mộng Linh, khoai mỡ tím than và tím bông lau bản địa. Các củ giống được chọn được cắt thành các khối nhỏ với kích thước 6 – 8 cm. Phần mặt cắt sau khi cắt được thấm qua xi măng khô (trừ phần vỏ củ), xi măng sẽ hấp thụ phần nước từ mặt cắt làm giảm độ ẩm, ức chế sự hoạt động của các loại nấm gây hại, giúp cho bề mặt củ không bị thối hỏng trong quá trình ủ giống và cuối cùng gia tăng tỷ lệ nảy mầm. Ngoài ra, khác với các vùng trồng khoai mỡ khác, vùng trồng khoai mỡ Bến Kè tại huyện Thạnh Hóa là vùng thấp trũng, chịu ảnh hưởng của lũ từ các hệ thống sông hằng năm nên để thích nghi với điều kiện tự nhiên vốn có bà con tiến hành lên liếp trồng. Sau khi lũ rút, ruộng khoai mỡ được xới xáo lên các liếp song song với bề mặt rộng từ 3 – 4m, xen giữa các liếp là các mương nước rộng từ 2 – 3,5m, sâu 60 – 70cm. Mực nước trong mương được giữ cố định cách bề mặt liếp từ 20 – 30 cm để duy trì độ ẩm cần thiết của ruộng khoai mỡ. Thêm vào đó, sau khi trồng, người dân đia phương còn sử dụng các loại cỏ mọc xung quanh các mương nước phơi khô và phủ một lớp mỏng trên bề mặt luống phủ trước hoặc ngay sau khi trồng, tạo lớp che phủ cho khoai mỡ giai đoạn đầu và tạo lớp ngăn chống tiếp đất giữa dây khoai và bề mặt đất.

Ruộng khoai mỡ Bến Kè

Khu vực địa lý: Thị trấn Thạnh Hóa và các xã Thủy Tây, Thủy Đông, Thạnh An, Thuận Bình, Tân Hiệp, Tân Tây, Tân Đông, Thuận Nghĩa Hòa, Thạnh Phú, Thạnh Phước thuộc huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An./.

https://www.ipvietnam.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Xây dựng và phát triển thương hiệu đặc sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long (05/12/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Gia Lai” cho sản phẩm cà phê (23/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Bến Tre” cho sản phẩm xoài tứ quý (23/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “NAPA VALLEY” cho sản phẩm rượu vang (21/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Suối Giàng Văn Chấn” cho sản phẩm chè Shan tuyết (17/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Văn Chấn” cho sản phẩm quả cam (17/11/2022)
Quy định mới về nhãn hiệu và chiến lược bảo vệ thương hiệu (16/11/2022)
Phát triển tài sản trí tuệ: Kinh nghiệm từ các viện, trường (14/11/2022)
Nhãn hiệu nổi tiếng: Cơ chế bảo hộ tại Việt Nam và một số khuyến nghị (10/11/2022)
Tăng cường hiệu quả thực thi và khai thác, phát triển giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực Da giầy - Túi xách Việt Nam (10/11/2022)
Biểu trưng chỉ dẫn địa lý quốc gia: Bước tiến mới phát triển CDĐL của Việt Nam (04/11/2022)
Công bố Biểu trưng chỉ dẫn địa lý quốc gia Việt Nam (02/11/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “TEQUILA” cho sản phẩm rượu (19/10/2022)
Bảo hộ CDĐL ở nước ngoài: Để thực sự là "cơ hội vàng" (14/10/2022)
Bảo vệ sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp Việt trên môi trường số: Nhức nhối và thách thức (03/10/2022)
Hội nghị bàn tròn về thực thi quyền SHTT trên không gian mạng (28/9/2022)
Phát triển hệ thống SHTT ở Việt Nam: Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế (23/9/2022)
Tạo lập, quản lý và quảng bá nhãn hiệu chứng nhận “Nếp Thủ Thừa” (22/9/2022)
Quy định về “sử dụng hợp lý” tác phẩm: Góc nhìn so sánh từ pháp luật Vương quốc Anh và Việt Nam (20/9/2022)
Xây dựng thương hiệu cho nông sản ở Việt Nam: Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn (20/9/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “MIYAGI SALMON” cho sản phẩm cá hồi (19/9/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Lamphun” cho sản phẩm nhãn sấy khô cơm vàng (19/9/2022)
WIPO khuyến nghị thúc đẩy SHTT ở 3 nhóm đối tượng (14/9/2022)
Khởi động chương trình đào tạo sở hữu trí tuệ dành cho cán bộ ngoại giao và nhà đàm phán thương mại (09/9/2022)
Bảo hộ quyền tác giả dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 (06/9/2022)
Tên miền và nhãn hiệu: Sự tương thích, khả năng vi phạm và khuyến cáo đối với doanh nghiệp (06/9/2022)
Bảo hộ quyền SHTT trong kiến trúc: Những vướng mắc (22/8/2022)
Đưa những quy định mới về sở hữu trí tuệ vào cuộc sống (17/8/2022)
Bà Rịa - Vũng Tàu: Tích cực triển khai Chương trình phát triển tài sản trí tuệ (17/8/2022)
Chế định parody: một ngoại lệ của luật bản quyền - Trường hợp của EU và Hoa Kỳ (08/8/2022)
Phương pháp truy xuất nguồn gốc địa lý gạo Séng Cù (08/8/2022)
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thời đại 4.0 như thế nào? (05/8/2022)
Doanh nghiệp ngày càng quan tâm tới sở hữu trí tuệ (02/8/2022)
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ - góp phần đưa hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam lên chuẩn mực thế giới (01/8/2022)
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý Nâng cao chuỗi giá trị đặc sản địa phương (01/8/2022)
Quản lý hiệu quả hệ thống sở hữu trí tuệ quốc gia, phục vụ tốt người dân, doanh nghiệp (01/8/2022)
Quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường thương mại điện tử: Thực trạng và một số đề xuất (29/7/2022)
Tìm giải pháp ngăn chặn vi bản phạm bản quyền trực tuyến (22/7/2022)
Sở hữu trí tuệ dành cho giới nghiên cứu và doanh nghiệp: Hành trình của nhà khoa học trẻ Lee Jinha (15/7/2022)
Hội thảo “Khai thác thông tin Sở hữu công nghiệp trên Nền tảng IPPlatform” (04/7/2022)
Mạng lưới TISC: “Bà đỡ” cho tài sản trí tuệ ở viện, trường (04/7/2022)
VNNIC ra mắt hình ảnh thương hiệu tên miền quốc gia “.vn” (30/6/2022)
Hội thảo “Hỗ trợ hoạt động quản trị tài sản trí tuệ thông qua công cụ khai thác thông tin sở hữu công nghiệp” (30/6/2022)
Nâng cao giá trị, danh tiếng cho sản phẩm “chanh không hạt Hậu Giang” (29/6/2022)
Bảo hộ Chỉ dẫn địa lý "Cà Mau" cho sản phẩm cua (27/6/2022)
Ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (01/6/2022)
Nền tảng IPPlatform quản lý tài sản sở hữu trí tuệ (27/5/2022)
Tìm hiểu về bộ chỉ tiêu về quyền tài sản - Liên minh Quyền tài sản (11/5/2022)
Blockchain và ứng dụng trong đăng ký, xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (10/5/2022)
Nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam (05/5/2022)
Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ viên nén chuyên dùng cho cây lúa quy mô công nghiệp.
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.366
Hôm nay 7.870
Hôm qua 7.841
Tất cả 7.731.228
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!