Thứ Sáu ngày 09/12/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 25/8/2022

Xây dựng quy trình chiết xuất, bào chế và thử nghiệm sản xuất cao Mướp đắng và viên nang chứa cao khô giàu hoạt chất saponin hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường
Bệnh Đái tháo đường là một hội chứng với rối loạn chuyển hóa và tăng đường huyết không thích hợp hoặc là do giảm bài tiết insulin, hoặc là do cơ thể vừa kháng với insulin vừa bài tiết insulin, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao. Theo Quyết định số 3319/QĐ-BYT ban hành của Bộ Y tế trong năm 2017 về việc chẩn đoán và điều trị bệnh Đái tháo đường typ 2, số liệu cho thấy tính tới năm 2015 trên thế giới có 415 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh Đái tháo đường, tương đương cứ 11 nguời có 01 nguời bị bệnh. Con số này sẽ có 642 triệu người đến năm 2040, tuơng đương cứ 10 nguời có 01 người bị bệnh Đái tháo đường. Ở Việt Nam tính đến năm 2015, tỷ lệ người mắc bệnh Đái tháo đường trên toàn quốc là 4,1% tiền đái tháo đường (3,6%). Trong khi năm 1990, tỷ lệ bệnh Đái tháo đường chỉ là 1,1% (ở Hà Nội), 2,25% (ở thành phố Hồ Chí Minh). Điều đó cho thấy bệnh Đái tháo đường đang ngày càng tăng cao, nó ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt của người bệnh.

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học đang hướng tới tìm ra nhiều hoạt chất, thuốc đặc trị từ các nguồn thiên nhiên cho hỗ trợ điều trị bệnh này. Mướp đắng là một trong những cây dược liệu được các nhà khoa học phát hiện có chứa giàu hàm lượng saponin có tác dụng điều tiết tăng insulin trong việc hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường. Ở Việt Nam, cây Mướp đắng được trồng phổ biến, quả Mướp đắng có vị hơi đắng, tính hàn, không độc, người dân thường trồng để thu hoạch lấy quả để ăn như rau. Hiện nay, trên thị trường có nhiều sản phẩm làm từ quả Mướp đắng như trà túi lọc, nước ép trái cây,...

Với tiềm năng tốt trong việc điều trị bệnh đái tháo đường và nguồn nguyên liệu dồi dào, dễ trồng, có thể khai thác và ứng dụng lớn, Cơ quan chủ trì Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Công nghệ Dược - Trường Cao đẳng Y Dược Phú Thọ cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Quốc Tuấn thực hiện đề tài Xây dựng quy trình chiết xuất, bào chế và thử nghiệm sản xuất cao Mướp đắng và viên nang chứa cao khô giàu hoạt chất saponin hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường” với mục tiêu: Xây dựng quy trình chiết xuất, bào chế và thử nghiệm sản xuất cao Mướp đắng và viên nang chứa cao khô giàu hoạt chất saponin hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường; Xây dựng quy trình bào chế viên nang chứa cao khô giàu saponin theo hướng có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường (viên nang chứa 250 mg cao saponin 15 10%); Xây dựng quy trình sản xuất thành phẩm hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường chứa cao Mướp đắng ở quy mô 5.000 viên/mẻ; Đánh giá độc tính cấp và tác dụng dụng hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường của viên nang; Xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở cho cao chiết Mướp đắng và cho thành phẩm.

Mướp đắng có tên gọi tiếng Anh là “Bitter melon”; tên khoa học là Momordica charantia, họ bầu bí (Cucurbitaceae). Chi Momordica chiếm khoảng 60 loài, chúng được phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới như châu Phi, châu Á và châu Úc. Theo những công bố gần đây cho thấy trong cây Mướp đắng có chứa giàu hàm lượng triterpenoid và saponin trong thân, lá và quả. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết trong điều trị bệnh Đái tháo đường. Như nghiên cứu của Tahira và Husain đã làm sáng tỏ tiềm tăng của quả Mướp đắng trong việc làm giảm đường huyết. Các tác giả chỉ ra rằng cao chiết ethanol quả Mướp đắng có tác dụng làm giảm 28% lượng đường huyết. Trong một nghiên cứu về điều trị bệnh Đái tháo đường bằng nước ép trái cây Mướp đắng trong chuột, gây ra bởi streptozotocin, Mahmond và cộng sự cũng kết luận rằng quả Mướp đắng là nguồn tuyệt vời cho phòng và điều trị bệnh Đái tháo đường. Với mô hình nghiên cứu tương tự, Perumal cùng các cộng sự chứng minh rằng với hàm lượng cao chiết quả Mướp đắng 100 và 200 mg/kg trọng lượng cơ thể có tác dụng giảm mức độ đường trong những con chuột bị mắc bệnh Đái tháo đường. Trên một nghiên cứu với người bệnh mắc bệnh Đái tháo đường, ở Thái Lan các nhà khoa học tiến hành thử nghiệm bột quả Mướp đắng trên 143 người bệnh Đái tháo đường ở độ tuổi từ 35 - 70. Kết quả sau 4 tuần điều trị cho thấy người bệnh sử dụng với liều ở mức 2000 mg/ngày giảm đáng kể lượng đường huyết trong máu, so với những người bệnh điều trị bằng metformin (1000 mg/ngày). Từ các bằng chứng khoa học cho thấy dịch chiết cao quả Mướp đắng là một nguồn nguyên liệu tiềm năng trong điều trị bệnh Đái tháo đường. Để làm rõ hơn thành phần hóa học có tác dụng hạ đường huyết trong điều trị Đái tháo đường của cao chiết từ quả Mướp đắng. Keller và các cộng sự đã phân lập được các saponin (3-hydroxycucurbita-5,24-dien-19-al-7,23-di-O-β-glucopyranosid và kuguaglycosid-G) từ quả Mướp đắng theo định hướng sinh học trong việc chống bệnh Đái tháo đường của phân đoạn giàu saponin từ cao chiết quả Mướp đắng, cả phân đoạn giàu saponin và các saponin phân lập được đều có tác dụng kích thích bài tiết insulin. Trong một vài nghiên cứu khác, các hợp chất saponin momordicosid Q, R, S và T cũng được phân lập từ quả của Mướp đắng có tác dụng oxy hóa acid béo và làm giảm đường huyết trong chuột. Li-Jie Zhang và cộng sự cũng phân lập và làm sáng tỏ thêm tám saponin (kuguasaponin A-H) từ quả của Mướp đắng có tác dụng chống tăng đường huyết dựa trên việc đánh giá sự hấp thu glucose. Từ các nghiên cứu độc lập khác nhau của các nhà khoa học trên thế giới đều kết luận rằng quả Mướp đắng là nguồn nguyên liệu tiềm năng trong việc điều trị bệnh Đái tháo đường.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

- Điều tra khảo sát vùng nguyên liệu: Đã thu thập được 12 mẫu Mướp đắng tại một số huyện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, đồng thời xác định tên của các loài mướp đắng thu hái. Khảo sát được các vùng trồng nguyên liệu qua 100 phiếu điều tra của các hộ trồng mướp đắng.

- Xây dựng phương pháp định lượng đồng momordicoside-g (1), goyaglycosid-d (2), goyaglycoside-b (3), momordicoside-f2 (4) trong quả mướp đắng. Hoàn thiện phương pháp định lượng saponin toàn phần cho quả mướp đắng, bán thành phẩm và thành phẩm trên máy quang phổ UV-Vis với chất chuẩn momordicoside-g.

- Khảo sát hàm lượng saponin của một số mẫu muớp đắng tại tỉnh Phú Thọ

- Xây dựng phương pháp định tính TLC cho bán thành phẩm và thành phẩm dựa theo chất chuẩn momordicoside-g (1), goyaglycosid-d (2), goyaglycoside-b (3), momordicoside-f2 (4).

- Xây dựng phương pháp làm giàu saponin toàn phần từ quả mướp đắng qua các phương pháp: sử dụng dung môi hữu cơ, sắc ký cột đạt hàm lượng saponin toàn phần ≥ 10%.

- Xây dựng công thức và phương pháp bào chế viên nang chứa 25 mg saponin toàn phần.

- Sản xuất thử nghiệm thu được 12,3 kg bột cao khô giàu saponin (hàm lượng > 10%) và 16000 viên nang chứa 25 mg saponin toàn phần trên máy đóng nang tự động, nhiều hơn so với dự kiến ban đầu (10 kg cao khô và 15000 viên)

- Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và kiểm nghiệm bán thành phẩm, thành phẩm viên nang.

- Thử tác dụng sinh học gồm: độc tính cấp, tác dụng hạ đường huyết của cao chiết nước, cao khô giàu saponin và viên nang trên chuột nhắt.

- Xác định độ ổn định của viên nang theo phương pháp cấp tốc. Dự kiến 36 tháng cho viên nang thành phẩm.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17512/2021) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu tận dụng xỉ thải kim loại từ quá trình luyện kim loại màu và luyện thép làm xúc tác cho ozon để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ (28/11/2022)
Đánh giá tiềm năng thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần tiếp xúc với thực phẩm bằng sản phẩm giấy tại Việt Nam (28/11/2022)
Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 (28/11/2022)
Ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất ván ghép thanh từ gỗ rừng trồng tại tỉnh Hà Giang (28/11/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thành công máy kiểm tra tính chất cơ lý cao su và vật liệu polyme (25/11/2022)
Vật liệu tạo màu kích thước nano ứng dụng trong ngành sản xuất sơn (25/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp dịch vụ hành chính công cấp tỉnh trên cơ sở nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu cấp tỉnh (LGSP) (25/11/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết việc sử dụng mã số, mã vạch (25/11/2022)
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ gánh nặng biến chứng, chẩn đoán, điều trị và dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân phẫu thuật (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển phương pháp kiểm tra không phá hủy để đánh giá các đặc trưng của vật liệu sử dụng tương tác của bức xạ photon (23/11/2022)
Nghiên cứu các giải pháp cải thiện tính năng của bùn cát biển nạo vét ứng dụng trong xây dựng công trình (23/11/2022)
Chiết xuất thành công các hoạt chất có tác dụng chống loãng xương từ cây rừng (23/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình chiết, tách silymarin từ hạt cây cúc gai (Silybum marianum) làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng (23/11/2022)
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vi sinh vật thú y (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển công nghệ tăng cường thực tế trên thiết bị di dộng - Ứng dụng sản xuất phần mềm hỗ trợ giáo dục cho học sinh mầm non, tiểu học và TCHS (23/11/2022)
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc (23/11/2022)
Tổng hợp, nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất (bis-naphthalyl) azacrown ether (23/11/2022)
Nghiên cứu gắn bạc nano lên titandioxit bằng phương pháp chiếu xạ chùm tia điện tử làm xúc tác quang hóa xử lý phân hủy chất hữu cơ trong nước (23/11/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở pháp lý về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư và kiểm soát, giám sát môi trường các cơ sở sản xuất, kinh doanh (23/11/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất giống dừa Sáp (Makapuno coconut) bằng công nghệ nuôi cấy cứu phôi trên quy mô công nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình điều trị bệnh vảy nến thông thường thể vừa và nặng bằng tia cực tím dải hẹp (UVB - 311nm) tại Việt Nam (21/11/2022)
Nghiên cứu các mô hình giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo bi sinh học độn hốc mắt từ vật liệu polyether ether ketone (PEEK) dùng trong y tế (17/11/2022)
Phát triển cổng thông tin điện tử NeuroDrug Design ứng dụng trong thiết kế và tổng hợp các phối tử dùng trong chẩn đoán hình ảnh não bộ và dẫn truyền thuốc cho các bệnh thoái hoá thần kinh (17/11/2022)
Nghiên cứu chuyển hóa dầu cá phế thải và glycerol thô thành nhựa phân hủy sinh học (17/11/2022)
Nghiên cứu phân loại học và đánh giá khả năng sử dụng, vai trò dịch tễ của các loài bọ xít (Heteroptera: Reduviidae) ở Việt Nam (16/11/2022)
Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến (Scan ảnh rễ) trong nghiên cứu bón phân tối ưu cho rừng trồng Keo tại Việt Nam (16/11/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phát triển vùng nguyên liệu sản xuất tỏi đen ở các tỉnh phía Bắc (16/11/2022)
Nghiên cứu đặc tính, cơ chế hấp phụ của chất hoạt động bề mặt, polyme mang điện tích trên ôxit kim loại và đá ong với điện tích bề mặt khác nhau và ứng dụng để xử lý chất hữu cơ gây ô nhiễm (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc quần thể vi sinh vật dạ cỏ của bò trong những điều kiện nuôi dưỡng khác nhau (16/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo thiết bị đo liều nơtron nhằm kiểm soát liều lượng bức xạ nơtron được sử dụng trong công nghiệp (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc và tính chất của siêu vật liệu ứng dụng trong thiết kế anten và bộ hấp thụ sóng điện từ (16/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng kỹ thuật phân tích sai hình nhiễm sắc thể do tổn thương phân tử ADN ở pha G2 nhằm đánh giá độ nhạy cảm phóng xạ ở nhóm bệnh nhân ung thư vú trước xạ trị (16/11/2022)
Nghiên cứu khả năng điều trị nám da của cao chiết lá tía tô (14/11/2022)
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân tử của plasmid mang gen beta- lactamase phổ rộng (ESBL) của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có nguy cơ lây nhiễm giữa người và lợn (14/11/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống chuối có năng suất cao, chất lượng tốt chống chịu bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc (14/11/2022)
Xác định vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá của ốc nước ngọt tại một số tỉnh miền Bắc và Trung Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng công nghệ bức xạ chùm tia điện tử trong xử lý chất thải công nghiệp nguy hại (14/11/2022)
Hợp tác nghiên cứu áp dụng công nghệ chip ADN chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhanh vi khuẩn lao kháng thuốc ở Việt Nam, Lào và Campuchia (14/11/2022)
Sử dụng phương pháp Metagenetic (nghiên cứu hệ gen) trong nghiên cứu đa dạng tuyến trùng tự do ở Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sản xuất hoa chất lượng cao tại thành phố Cần Thơ (14/11/2022)
Nghiên cứu kết hợp các biện pháp xử lý và chiếu xạ để kiểm dịch vi khuẩn gây bệnh thối mục quả và nấm gây bệnh đốm đen trên vỏ quả có múi (14/11/2022)
Chế tạo cảm biến miễn dịch lai hóa dựa trên cơ chế ghi nhận song song điện hóa - cộng hưởng plasmon bề mặt để xác định một số chất ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước (14/11/2022)
Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học để phân hủy nhựa cây trong dăm mảnh gỗ keo, bạch đàn làm nguyên liệu sản xuất bột giấy thân thiện môi trường tại Việt Nam (10/11/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn gen Bạch đàn H1 và TTKT7 phục vụ trồng rừng cây nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Hoàn thiện và làm chủ công nghệ sản xuất mực in nano bạc dùng trong chế tạo linh kiện vi điện tử và hệ thống cảm biến nano đánh giá chất lượng nước ao nuôi trồng thủy hải sản (10/11/2022)
Nghiên cứu tạo giá thể ruột bầu cho sản xuất cây giống nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu lọc dạng hạt trên cơ sở điatomit và vỏ trấu sử dụng lọc nước cho nhà máy nước sinh hoạt (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ thu hồi các nguyên tố có ích trong xỉ đúc đồng thau (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ tuyển nâng cao thực thu Cr2O3 cấp hạt mịn, mỏ crômit Cổ Định, Thanh Hóa có sử dụng thiết bị tuyển ly tâm Knelson (09/11/2022)
Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ viên nén chuyên dùng cho cây lúa quy mô công nghiệp.
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.492
Hôm nay 156
Hôm qua 7.841
Tất cả 7.723.514
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!