Thứ Năm ngày 08/12/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 12/9/2022

Nghiên cứu, tính toán các đặc trưng nơtron, thủy nhiệt và phân tích an toàn lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu do Liên bang Nga đề xuất cho Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân Việt Nam
Với trên 40 năm hình thành và phát triển, Ngành Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc biệt, kể từ khi đưa Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt vào hoạt động (3/1984), nhiều ứng dụng của kỹ thuật hạt nhân và đồng vị phóng xạ cho các ngành y tế, nông nghiệp, công nghiệp, địa chất, thủy văn, môi trường, v.v... được đẩy mạnh, đưa lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, ngày càng được sự nhìn nhận của những người sử dụng.

Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt (LPƯHNĐL) đã có trên 35 năm vận hành an toàn và khai thác có hiệu quả. Tính đến cuối năm 2019, lò đã vận hành gần 50.000 giờ ở công suất danh định 500 kW; đã sản xuất được trên 6.000 Ci dược chất phóng xạ phục vụ cho chẩn đoán và điều trị bệnh trong y tế; đã chiếu xạ trên 30.000 mẫu các loại để phân tích hàm lượng nguyên tố bằng kỹ thuật kích hoạt nơtron phục vụ các ngành địa chất, dầu khí, môi trường; đã tiến hành nhiều nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng khác để đào tạo đội ngũ có trình độ cho ngành hạt nhân nói riêng và cho cả nước nói chung.

Từ các dẫn liệu nêu trên, việc xây dựng một Lò phản ứng nghiên cứu (LPƯNC) đa mục tiêu có công suất đủ lớn để tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ hạt nhân cho quốc gia, nhằm đáp ứng cả các ứng dụng năng lượng, phi năng lượng và xây dựng đội ngũ cán bộ cho ngành hạt nhân nước ta là rất cần thiết và đã được đưa vào trong “Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020” theo Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ngày 03/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có kế hoạch xây dựng và đưa LPƯNC mới vào hoạt động trước năm 2020 phục vụ công tác nghiên cứu và triển khai về khoa học và công nghệ hạt nhân, tăng cường tiềm lực, từng bước làm chủ công nghệ hạt nhân của quốc gia.

Với lý do đó, việc triển khai thực hiện đề tài Nghiên cứu, tính toán các đặc trưng nơtron, thủy nhiệt và phân tích an toàn lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu do Liên bang Nga đề xuất cho Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân Việt Nam do Cơ quan chủ trì Viện nghiên cứu Hạt nhân cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài PGS TS Nguyễn Nhị Điền thực hiện với mục tiêu: Làm chủ việc tính toán các đặc trưng nơtron, thủy nhiệt và phân tích an toàn lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu mới; Đề xuất, lựa chọn được cấu hình thiết kế phù hợp cho lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu của Trung tâm KH&CN hạt nhân cho Việt Nam.

Khác với lò năng lượng cho nhà máy điện hạt nhân, mục đích chính là sản xuất ra công suất điện lớn, vì vậy, về cơ bản đã có những thiết chuẩn cho loại lò nước nhẹ (lò nước áp lực và lò nước sôi) và loại lò nước nặng (lò nước nặng áp lực và lò CANDU), LPƯNC có thiết kế rất đa dạng tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng trong số 12 loại ứng dụng điển hình đã được tổng kết, loại nhiên liệu và vật liệu vành phản xạ được sử dụng, chiều dòng chảy cưỡng bức qua vùng hoạt của hệ làm mát, cơ chế vận hành của các thanh điều khiển… trong lúc Việt Nam chưa có kinh nghiệm thực tế về thiết kế lò phản ứng, nên để tính toán, thiết kế một LPƯNC cho Việt Nam cần có những cách tiếp cận phù hợp, đó là:

- Tiến hành khảo sát, đánh giá cấu hình thiết kế của các LPƯNC đa mục tiêu đương đại đang vận hành trên thế giới, đặc biệt là đối với các LPƯNC do Liên bang Nga thiết kế và xuất khẩu ra nước ngoài.

- Sử dụng các chương trình tính toán với số liệu thư viện mới nhất đã được kiểm chứng và hiệu lực hóa thông qua tính toán các bài toán chuẩn và so sánh với số liệu thực nghiệm để tính toán thiết kế về vật lý (neutronics), thủy nhiệt (thermohydraulics) và phân tích an toàn (safety analysis) cho một số cấu hình lò phản ứng sử dụng các loại nhiên liệu IRT và VVR của Liên bang Nga, cũng như nhiên liệu MTR thương mại với các loại vành phản xạ bằng berylli và nước nặng.

- Tranh thủ và tăng cường hợp tác quốc tế với các cơ sở nghiên cứu hạt nhân có kinh nghiệm trong việc tính toán thiết kế, vận hành và khai thác sử dụng các LPƯNC ở một số nước trên thế giới, như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Kazakhstan, Uzbekistan… để tiếp thu kiến thức và trao đổi kinh nghiệm.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Lựa chọn thư viện số liệu hạt nhân và các chương trình tính toán: Đã tạo thư viện số liệu hạt nhân cho các chương trình MCNP, WIMS-ANL, WIMD từ các thư viện JENDL4.0, ENDF/B7.1, JEFF3.1 và số liệu thư viện trong vùng năng lượng nhiệt từ thư viện ENDF/B; Cập nhật mới và biên dịch lại chương trình NJOY 2016 để xử lý số liệu tính toán; Kiểm chứng và hiệu lực hóa các chương trình tính toán nơtron, thủy nhiệt và phân tích an toàn dùng thư viện số liệu mới trên cơ sở số liệu thực nghiệm của Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt với nhiên liệu VVR-M2, của lò WWR-K với nhiên liệu VVR-KN, của lò WWW-SM với nhiên liệu IRT-4M và của lò JRR-3 với nhiên liệu MTR-M sửa đổi. Bộ chương trình và các thư viện đã lựa chọn là đầy đủ và đáng tin cậy để tính toán thiết kế lò phản ứng nghiên cứu mới.

Tính toán cấu hình tới hạn với lượng nhiên liệu U-235 tối thiểu: Khảo sát các đặc trưng của 4 loại nhiên liệu độ giàu thấp điển hình, bao gồm 3 loại dạng ống của Liên bang Nga đã xuất khẩu sang các nước (VVR-M2, VVR-KN và IRT-4M) và nhiên liệu dạng tấm MTR, hiện đang được dùng tại hầu hết các lò phản ứng nghiên cứu đa mục tiêu đương đại trên thế giới. Từ đó chọn ra 3 loại nhiên liệu để tính toán thiết kế các cấu hình vùng hoạt là IRT-4M, VVR-KN và MTR-M. Trong đó, các tính toán với nhiên liệu MTR-M chỉ dùng cho mục đích tham khảo vì Liên bang Nga không sản xuất loại nhiên liệu này; Khảo sát các loại vật liệu vành phản xạ (berylli, graphite và nước nặng) nhằm lựa chọn loại vật liệu để thiết kế với các loại nhiên liệu nêu trên. Tuy nhiên, do Liên bang Nga không xuất khẩu lò phản ứng nghiên cứu với vành phản xạ nước nặng nên các tính toán thiết kế chỉ dùng để tham khảo; Bốn cấu hình tới hạn với lượng nhiên liệu tối thiểu đã được tính toán, khảo sát gồm: nhiên liệu IRT-4M với vành phản xạ berylli, nhiên liệu VVR-KN với vành phản xạ berylli, nhiên liệu MTRM với vành phản xạ berylli và nhiên liệu MTR-M với vành phản xạ nước nặng.

Tính toán các cấu hình vùng hoạt và phân tích đánh giá nhằm đưa ra cấu hình vùng hoạt và các kênh thực nghiệm phù hợp với nhu cầu ứng dụng và phát triển năng lượng nguyên tử của Việt Nam trong tương lai: Tính toán, khảo sát cấu hình vùng hoạt nhỏ gọn để có thông lượng nơtron cực đại cho các kênh chiếu xạ đứng trong vùng vành phản xạ, có kênh chiếu xạ để thử nghiệm vật liệu tại tâm vùng hoạt, và có thông lượng tối ưu tại các kênh chiếu xạ nằm ngang đối với 4 cấu hình nêu trên. Từ các kết quả tính toán thu được, đã phân tích, đánh giá nhằm đưa ra 2 cấu hình vùng hoạt và các kênh chiếu xạ phù hợp, đáp ứng nhu cầu ứng dụng của Việt Nam trong tương lai là vùng hoạt sử dụng nhiên liệu IRT-4M với vành phản xạ berylli, và nhiên liệu VVRKN với vành phản xạ berylli, trong đó, cấu hình thứ nhất được ưu tiên lựa chọn từ quan điểm cần có vùng hoạt nhỏ gọn, tính phổ biến và kiểm chứng về nhiên liệu cũng như tính thuận lợi khi có nhu cầu thay thế bằng nhiên liệu MTR trong tương lai.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17517/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu tận dụng xỉ thải kim loại từ quá trình luyện kim loại màu và luyện thép làm xúc tác cho ozon để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ (28/11/2022)
Đánh giá tiềm năng thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần tiếp xúc với thực phẩm bằng sản phẩm giấy tại Việt Nam (28/11/2022)
Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 (28/11/2022)
Ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất ván ghép thanh từ gỗ rừng trồng tại tỉnh Hà Giang (28/11/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thành công máy kiểm tra tính chất cơ lý cao su và vật liệu polyme (25/11/2022)
Vật liệu tạo màu kích thước nano ứng dụng trong ngành sản xuất sơn (25/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp dịch vụ hành chính công cấp tỉnh trên cơ sở nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu cấp tỉnh (LGSP) (25/11/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết việc sử dụng mã số, mã vạch (25/11/2022)
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ gánh nặng biến chứng, chẩn đoán, điều trị và dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân phẫu thuật (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển phương pháp kiểm tra không phá hủy để đánh giá các đặc trưng của vật liệu sử dụng tương tác của bức xạ photon (23/11/2022)
Nghiên cứu các giải pháp cải thiện tính năng của bùn cát biển nạo vét ứng dụng trong xây dựng công trình (23/11/2022)
Chiết xuất thành công các hoạt chất có tác dụng chống loãng xương từ cây rừng (23/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình chiết, tách silymarin từ hạt cây cúc gai (Silybum marianum) làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng (23/11/2022)
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vi sinh vật thú y (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển công nghệ tăng cường thực tế trên thiết bị di dộng - Ứng dụng sản xuất phần mềm hỗ trợ giáo dục cho học sinh mầm non, tiểu học và TCHS (23/11/2022)
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc (23/11/2022)
Tổng hợp, nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất (bis-naphthalyl) azacrown ether (23/11/2022)
Nghiên cứu gắn bạc nano lên titandioxit bằng phương pháp chiếu xạ chùm tia điện tử làm xúc tác quang hóa xử lý phân hủy chất hữu cơ trong nước (23/11/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở pháp lý về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư và kiểm soát, giám sát môi trường các cơ sở sản xuất, kinh doanh (23/11/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất giống dừa Sáp (Makapuno coconut) bằng công nghệ nuôi cấy cứu phôi trên quy mô công nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình điều trị bệnh vảy nến thông thường thể vừa và nặng bằng tia cực tím dải hẹp (UVB - 311nm) tại Việt Nam (21/11/2022)
Nghiên cứu các mô hình giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo bi sinh học độn hốc mắt từ vật liệu polyether ether ketone (PEEK) dùng trong y tế (17/11/2022)
Phát triển cổng thông tin điện tử NeuroDrug Design ứng dụng trong thiết kế và tổng hợp các phối tử dùng trong chẩn đoán hình ảnh não bộ và dẫn truyền thuốc cho các bệnh thoái hoá thần kinh (17/11/2022)
Nghiên cứu chuyển hóa dầu cá phế thải và glycerol thô thành nhựa phân hủy sinh học (17/11/2022)
Nghiên cứu phân loại học và đánh giá khả năng sử dụng, vai trò dịch tễ của các loài bọ xít (Heteroptera: Reduviidae) ở Việt Nam (16/11/2022)
Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến (Scan ảnh rễ) trong nghiên cứu bón phân tối ưu cho rừng trồng Keo tại Việt Nam (16/11/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phát triển vùng nguyên liệu sản xuất tỏi đen ở các tỉnh phía Bắc (16/11/2022)
Nghiên cứu đặc tính, cơ chế hấp phụ của chất hoạt động bề mặt, polyme mang điện tích trên ôxit kim loại và đá ong với điện tích bề mặt khác nhau và ứng dụng để xử lý chất hữu cơ gây ô nhiễm (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc quần thể vi sinh vật dạ cỏ của bò trong những điều kiện nuôi dưỡng khác nhau (16/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo thiết bị đo liều nơtron nhằm kiểm soát liều lượng bức xạ nơtron được sử dụng trong công nghiệp (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc và tính chất của siêu vật liệu ứng dụng trong thiết kế anten và bộ hấp thụ sóng điện từ (16/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng kỹ thuật phân tích sai hình nhiễm sắc thể do tổn thương phân tử ADN ở pha G2 nhằm đánh giá độ nhạy cảm phóng xạ ở nhóm bệnh nhân ung thư vú trước xạ trị (16/11/2022)
Nghiên cứu khả năng điều trị nám da của cao chiết lá tía tô (14/11/2022)
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân tử của plasmid mang gen beta- lactamase phổ rộng (ESBL) của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có nguy cơ lây nhiễm giữa người và lợn (14/11/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống chuối có năng suất cao, chất lượng tốt chống chịu bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc (14/11/2022)
Xác định vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá của ốc nước ngọt tại một số tỉnh miền Bắc và Trung Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng công nghệ bức xạ chùm tia điện tử trong xử lý chất thải công nghiệp nguy hại (14/11/2022)
Hợp tác nghiên cứu áp dụng công nghệ chip ADN chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhanh vi khuẩn lao kháng thuốc ở Việt Nam, Lào và Campuchia (14/11/2022)
Sử dụng phương pháp Metagenetic (nghiên cứu hệ gen) trong nghiên cứu đa dạng tuyến trùng tự do ở Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sản xuất hoa chất lượng cao tại thành phố Cần Thơ (14/11/2022)
Nghiên cứu kết hợp các biện pháp xử lý và chiếu xạ để kiểm dịch vi khuẩn gây bệnh thối mục quả và nấm gây bệnh đốm đen trên vỏ quả có múi (14/11/2022)
Chế tạo cảm biến miễn dịch lai hóa dựa trên cơ chế ghi nhận song song điện hóa - cộng hưởng plasmon bề mặt để xác định một số chất ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước (14/11/2022)
Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học để phân hủy nhựa cây trong dăm mảnh gỗ keo, bạch đàn làm nguyên liệu sản xuất bột giấy thân thiện môi trường tại Việt Nam (10/11/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn gen Bạch đàn H1 và TTKT7 phục vụ trồng rừng cây nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Hoàn thiện và làm chủ công nghệ sản xuất mực in nano bạc dùng trong chế tạo linh kiện vi điện tử và hệ thống cảm biến nano đánh giá chất lượng nước ao nuôi trồng thủy hải sản (10/11/2022)
Nghiên cứu tạo giá thể ruột bầu cho sản xuất cây giống nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu lọc dạng hạt trên cơ sở điatomit và vỏ trấu sử dụng lọc nước cho nhà máy nước sinh hoạt (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ thu hồi các nguyên tố có ích trong xỉ đúc đồng thau (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ tuyển nâng cao thực thu Cr2O3 cấp hạt mịn, mỏ crômit Cổ Định, Thanh Hóa có sử dụng thiết bị tuyển ly tâm Knelson (09/11/2022)
Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ viên nén chuyên dùng cho cây lúa quy mô công nghiệp.
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.532
Hôm nay 7.684
Hôm qua 6.323
Tất cả 7.723.201
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!