Thứ Năm ngày 08/12/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Ba, ngày 13/9/2022

Nghiên cứu công nghệ sản xuất 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy
Hỏa hoạn và các sự cố cháy nổ liên quan đến xăng dầu, hóa chất thường gây ra thiệt hại rất lớn về con người, tài sản và môi trường. Các chất chữa cháy thông thường hay được sử dụng như: nước, bột chữa cháy, khí CO2… không hiệu quả với các đám cháy dạng này, ngược lại trong một số trường hợp nó còn có tác dụng hỗ trợ sự lan rộng của đám cháy. Chính vì vậy, yêu cầu tạo ra một sản phẩm thay thế, có khả năng đáp ứng tốt công tác chữa cháy các đám cháy dạng này là việc làm hết sưc cần thiết.

Với mục tiêu tạo ra chất chữa cháy có thể dập tắt được các đám cháy có nguồn gốc là xăng dầu và các sản phẩm hóa chất từ dầu mỏ như: dung môi hữu cơ, hóa chất là chất lỏng phân cực dễ cháy… từ lâu các nước tiên tiến trên thế giới đã không ngừng tập trung đầu tư vào công tác nghiên cứu, chế tạo ra các thiết bị, sản phẩm bọt chữa cháy nhằm tìm ra giải pháp khắc chế các đám cháy mà các chất chữa cháy thông thường chưa giải quyết được. Các sản phẩm trên thế giới về bọt chữa cháy hiện nay có rất nhiều loại, phục vụ nhiều mục đích sử dụng khác nhau như:

- Chất tạo bọt chữa cháy protein: đây là loại chất tạo bọt mà tác nhân tạo bọt là các protein tự nhiên, động vật hoặc thực vât. Các chất tạo bọt dạng này có tính thân thiện với môi trường cao vì dễ bị phân hủy trong môi trường, bọt có độ bền cao tuy nhiên do tính linh động kém nên thời gian dập cháy lâu hơn các sản phẩm khác.

- Chất tạo bọt chữa cháy tổng hợp: Tác nhân tạo bọt là các chất hoạt động bề mặt (HĐBM) được tổng hợp nhân tạo, thông thương là các chất HĐBM hydrocacbon và hydrocacbon bị flo hóa tạo thành. Ưu điểm của các chất tạo bọt này là có tính linh động cao, đặc biệt là các sản phẩm có chứa các chất HĐBM hydrocacbon flo hóa, đây là tác nhân làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch tạo bọt tốt hơn rất nhiều so với các tác nhân tạo bọt khác, do vậy thời gian dập tắt đám cháy rất nhanh và giá thành tương đối rẻ

Ngoài ra theo sự phân loại về tính chất về độ nở của bọt, bọt chữa cháy còn được phân loại dựa trên độ nở của bọt hình thành như: bọt độ nở cao; độ nở trung bình và độ nở thấp.

Sản phẩm bọt chữa cháy tạo màng nước AFFF là chất tạo bọt chữa cháy tổng hợp có thành phần chất tạo bọt là hỗn hợp chất HĐBM hydrocacbon và hydrocacbon flo hóa. Mặc dù xu hướng hiện này là tạo ra các sản phẩm bọt chữa cháy để dần thay thế bọt AFFF, tuy nhiên các sản phẩm bọt này hiện nay vẫn là các sản phẩm có vai trò chủ đạo, phục vụ đắc lực cho công tác chữa cháy trên thế giới do giá thành hợp lý và quan trọng hơn cả là khả năng dập cháy rất tốt mà các sản phẩm thay thế chưa thể giải quyết được. Các sản phẩm bọt AFFF thường được cung cấp sử dụng dưới dạng bọt đậm đặc với nồng 2 độ sự dụng phổ biến là 6%, 3%, 1%.

Hiện nay, các phương tiện chữa cháy hiện có của lực lượng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy được trang cấp từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau với đa phần là xe chữa cháy thế hệ mới, thích hợp sử dụng với chất tạo bọt chữa cháy chất lượng cao như chất tạo bọt chữa cháy tạo màng nước, chất tạo bọt chữa cháy bền rượu, chất tạo bọt chữa cháy tổng hợp đa năng... Tuy nhiên, các số loại chất tạo bọt chữa cháy này đều phải nhập ngoại, do đó việc chủ động trong công tác phòng cháy, chữa cháy còn nhiều hạn chế...

Việc nghiên cứu và ứng dụng các sản phẩm thuộc dòng bọt chữa cháy chuyên biệt cho các đám cháy là nhiên liệu lỏng hòa tan và không hòa tan trong nước có nguồn gốc từ dầu mỏ là rất cần thiết. Trước thực tế như vậy, Trung tâm Phát triển công nghệ cao đã phối hợp với Chủ nhiệm đề tài TS. Đỗ Sơn Hải cùng thực hiện đề tài "Nghiên cứu công nghệ sản xuất 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy" với mục tiêu:  Xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới được Bộ Công an tiếp nhận và triển khai sản xuất phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy; Sản xuất và thử nghiệm 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới theo các tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Đã nghiên cứu, chế tạo và sản xuất thành công 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy là Chất tạo bọt chữa cháy sử dụng nước biển 3%; Chất tạo bọt chữa cháy sử dụng nước biển 1%; Chất tạo bọt chữa cháy tạo màng nước 0,5%; Chất tạo bọt chữa cháy tạo màng nước bền rượu 3% và Chất tạo bọt chữa cháy tạo màng nước bền rượu 1%. Với số lượng là 1.000 kg mỗi loại trong đó đã sử dụng hết 950 kg cho thử nghiệm các cấp độ. Các sản phẩm bọt chữa cháy đều đạt chất lượng so với đăng ký trong thuyết minh đề tài.

Đã nâng cấp thành công hệ thống thiết bị có sẵn thành hệ pilot tích hợp để sản xuất 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy với công suất đạt 500 kg/mẻ. Thiết kế, chế tạo thành công 02 thiết bị phản ứng đồng hóa dung tích 550lít, vật liệu SUS inox 304 có trang bị cánh khuấy 2 tầng với mô tơ khấy công suất 2,2Kw; thiết kế, chế tạo được 02 thiết bị cân chính xác nguyên liệu lỏng Inox SUS 304, thể tích 90 lít được gắn hệ thống cân điện tử Loadcell tự động định lượng chính xác nguyên liệu đầu vào trước khi được phối trộn vào các thiết bị phản ứng; thiết kế, chế tạo 01 sàn thao tác đảm bảo yếu tố kỹ thuật, đồng bộ trong hệ thống dây chuyền sản xuất.

Đã thử nghiệm các sản phẩm chất tạo bọt chế tạo được để xác định hiệu quả dập cháy theo 02 cấp độ là quy mô bằng 1/10 và quy mô bằng ½ so với TCVN. Đã tiến hành kiểm nghiệm, phân tích các đặc tính kỹ thuật sản phẩm tại hiện trường thực tế với sự đánh giá của các cơ quan có thẩm quyền kết quả cho thấy các sản phẩm bọt chữa cháy của đề tài có khả năng chữa cháy tốt đám cháy giả định, nhiệt độ đám cháy sau khi phun bọt được giảm nhanh, thời gian dập cháy đáp ứng được TCVN và không có hiện tượng cháy lại.

Kết quả tính toán chi phí nguyên vật liệu để chế tạo các sản phẩm của đề tài chỉ ra rằng 05 sản phẩm chất tạo bọt của đề tài có giá trị tương đương khi so sánh với sản phẩm cùng loại của nước ngoài và khi thử nghiệm đạt theo TCVN thì các sản phẩm của đề tài đáp ứng tốt về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế do đó có thể được áp dụng triển khai sản xuất ở thực tiễn. Đã đánh giá độ phân hủy sinh học của 05 chất tạo bọt chữa cháy trước và sau khi phun vào đám cháy. Các dung dịch chất tạo bọt này đều có giá trị BOD 2 ngày lớn hơn 0% và được coi là chất tạo bọt chữa cháy có khả năng phân hủy sinh học.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17525/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu tận dụng xỉ thải kim loại từ quá trình luyện kim loại màu và luyện thép làm xúc tác cho ozon để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ (28/11/2022)
Đánh giá tiềm năng thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần tiếp xúc với thực phẩm bằng sản phẩm giấy tại Việt Nam (28/11/2022)
Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 (28/11/2022)
Ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất ván ghép thanh từ gỗ rừng trồng tại tỉnh Hà Giang (28/11/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thành công máy kiểm tra tính chất cơ lý cao su và vật liệu polyme (25/11/2022)
Vật liệu tạo màu kích thước nano ứng dụng trong ngành sản xuất sơn (25/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp dịch vụ hành chính công cấp tỉnh trên cơ sở nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu cấp tỉnh (LGSP) (25/11/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết việc sử dụng mã số, mã vạch (25/11/2022)
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ gánh nặng biến chứng, chẩn đoán, điều trị và dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân phẫu thuật (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển phương pháp kiểm tra không phá hủy để đánh giá các đặc trưng của vật liệu sử dụng tương tác của bức xạ photon (23/11/2022)
Nghiên cứu các giải pháp cải thiện tính năng của bùn cát biển nạo vét ứng dụng trong xây dựng công trình (23/11/2022)
Chiết xuất thành công các hoạt chất có tác dụng chống loãng xương từ cây rừng (23/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình chiết, tách silymarin từ hạt cây cúc gai (Silybum marianum) làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng (23/11/2022)
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vi sinh vật thú y (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển công nghệ tăng cường thực tế trên thiết bị di dộng - Ứng dụng sản xuất phần mềm hỗ trợ giáo dục cho học sinh mầm non, tiểu học và TCHS (23/11/2022)
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc (23/11/2022)
Tổng hợp, nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất (bis-naphthalyl) azacrown ether (23/11/2022)
Nghiên cứu gắn bạc nano lên titandioxit bằng phương pháp chiếu xạ chùm tia điện tử làm xúc tác quang hóa xử lý phân hủy chất hữu cơ trong nước (23/11/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở pháp lý về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư và kiểm soát, giám sát môi trường các cơ sở sản xuất, kinh doanh (23/11/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất giống dừa Sáp (Makapuno coconut) bằng công nghệ nuôi cấy cứu phôi trên quy mô công nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình điều trị bệnh vảy nến thông thường thể vừa và nặng bằng tia cực tím dải hẹp (UVB - 311nm) tại Việt Nam (21/11/2022)
Nghiên cứu các mô hình giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo bi sinh học độn hốc mắt từ vật liệu polyether ether ketone (PEEK) dùng trong y tế (17/11/2022)
Phát triển cổng thông tin điện tử NeuroDrug Design ứng dụng trong thiết kế và tổng hợp các phối tử dùng trong chẩn đoán hình ảnh não bộ và dẫn truyền thuốc cho các bệnh thoái hoá thần kinh (17/11/2022)
Nghiên cứu chuyển hóa dầu cá phế thải và glycerol thô thành nhựa phân hủy sinh học (17/11/2022)
Nghiên cứu phân loại học và đánh giá khả năng sử dụng, vai trò dịch tễ của các loài bọ xít (Heteroptera: Reduviidae) ở Việt Nam (16/11/2022)
Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến (Scan ảnh rễ) trong nghiên cứu bón phân tối ưu cho rừng trồng Keo tại Việt Nam (16/11/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phát triển vùng nguyên liệu sản xuất tỏi đen ở các tỉnh phía Bắc (16/11/2022)
Nghiên cứu đặc tính, cơ chế hấp phụ của chất hoạt động bề mặt, polyme mang điện tích trên ôxit kim loại và đá ong với điện tích bề mặt khác nhau và ứng dụng để xử lý chất hữu cơ gây ô nhiễm (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc quần thể vi sinh vật dạ cỏ của bò trong những điều kiện nuôi dưỡng khác nhau (16/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo thiết bị đo liều nơtron nhằm kiểm soát liều lượng bức xạ nơtron được sử dụng trong công nghiệp (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc và tính chất của siêu vật liệu ứng dụng trong thiết kế anten và bộ hấp thụ sóng điện từ (16/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng kỹ thuật phân tích sai hình nhiễm sắc thể do tổn thương phân tử ADN ở pha G2 nhằm đánh giá độ nhạy cảm phóng xạ ở nhóm bệnh nhân ung thư vú trước xạ trị (16/11/2022)
Nghiên cứu khả năng điều trị nám da của cao chiết lá tía tô (14/11/2022)
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân tử của plasmid mang gen beta- lactamase phổ rộng (ESBL) của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có nguy cơ lây nhiễm giữa người và lợn (14/11/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống chuối có năng suất cao, chất lượng tốt chống chịu bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc (14/11/2022)
Xác định vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá của ốc nước ngọt tại một số tỉnh miền Bắc và Trung Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng công nghệ bức xạ chùm tia điện tử trong xử lý chất thải công nghiệp nguy hại (14/11/2022)
Hợp tác nghiên cứu áp dụng công nghệ chip ADN chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhanh vi khuẩn lao kháng thuốc ở Việt Nam, Lào và Campuchia (14/11/2022)
Sử dụng phương pháp Metagenetic (nghiên cứu hệ gen) trong nghiên cứu đa dạng tuyến trùng tự do ở Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sản xuất hoa chất lượng cao tại thành phố Cần Thơ (14/11/2022)
Nghiên cứu kết hợp các biện pháp xử lý và chiếu xạ để kiểm dịch vi khuẩn gây bệnh thối mục quả và nấm gây bệnh đốm đen trên vỏ quả có múi (14/11/2022)
Chế tạo cảm biến miễn dịch lai hóa dựa trên cơ chế ghi nhận song song điện hóa - cộng hưởng plasmon bề mặt để xác định một số chất ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước (14/11/2022)
Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học để phân hủy nhựa cây trong dăm mảnh gỗ keo, bạch đàn làm nguyên liệu sản xuất bột giấy thân thiện môi trường tại Việt Nam (10/11/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn gen Bạch đàn H1 và TTKT7 phục vụ trồng rừng cây nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Hoàn thiện và làm chủ công nghệ sản xuất mực in nano bạc dùng trong chế tạo linh kiện vi điện tử và hệ thống cảm biến nano đánh giá chất lượng nước ao nuôi trồng thủy hải sản (10/11/2022)
Nghiên cứu tạo giá thể ruột bầu cho sản xuất cây giống nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu lọc dạng hạt trên cơ sở điatomit và vỏ trấu sử dụng lọc nước cho nhà máy nước sinh hoạt (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ thu hồi các nguyên tố có ích trong xỉ đúc đồng thau (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ tuyển nâng cao thực thu Cr2O3 cấp hạt mịn, mỏ crômit Cổ Định, Thanh Hóa có sử dụng thiết bị tuyển ly tâm Knelson (09/11/2022)
Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ viên nén chuyên dùng cho cây lúa quy mô công nghiệp.
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.481
Hôm nay 7.176
Hôm qua 6.323
Tất cả 7.722.693
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!