Thứ Năm ngày 08/12/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 19/9/2022

Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp quản lý bệnh cháy lá hại rừng trồng bạch đàn tại vùng Trung tâm Bắc Bộ
Những năm gần đây, dịch sâu, bệnh hại cây trồng lâm nghiệp thường xuyên xảy ra, gây tổn thất không nhỏ cho sản xuất. Việt Nam hiện có khoảng 350.000 ha rừng trồng các loài bạch đàn, trên các diện tích này thường bị bệnh cháy lá, khô cành ngọn, ong gây u bướu, bệnh chết héo… Bệnh cháy lá bạch đàn ở Việt Nam được xác định do nấm Cylindrocladium quinqueseptatum, là một trong những nguyên nhân gây suy giảm nghiêm trọng năng suất và chất lượng rừng trồng các loài bạch đàn ở Việt Nam.

Kết quả điều tra của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cho thấy: những năm gần đây diện tích rừng bạch đàn bị bệnh cháy lá, khô ngọn lên tới 50% tổng diện tích với các mức độ hại khác nhau. Báo cáo của các chi cục thực vật địa phương cũng cảnh báo nguy cơ gây hại lớn với các rừng bạch đàn trồng tập trung, đặc biệt là với loài bạch đàn trắng xuất xứ Petford. Chính vì những lý do này đã dẫn đến làm giảm diện tích trồng mới bạch đàn hàng năm của các địa phương.

Bệnh cháy lá (Cylindrocladium) ảnh hưởng đến cây con bạch đàn trong vườn ươm, cây chồi và rừng non. Khi trồng bạch đàn quy mô nhỏ, vào đầu những năm 1960, dường như không có nhiều vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, trong vòng vài năm gần đây, bệnh cháy lá đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong các vườn ươm, cá biệt có thể chiếm tới gần 100% tỷ lệ cây con bị chết. Như vậy, bệnh cháy lá nổi lên là một trong những bệnh nghiêm trọng nhất của bạch đàn ở Kerala và những nơi khác đòi hỏi có giải pháp quản lý ngay lập tức vì nó ảnh hưởng đến cây bạch đàn ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng (Mohanan, 1995).

Trong thời gian qua, bệnh cháy lá gây hại đối với rừng trồng bạch đàn cung cấp nguyên liệu giấy tại Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái khá phổ biến, tỷ lệ cây bị bệnh của một số giống bạch đàn, đặc biệt là giống PN14 đang được sử dụng trong trồng rừng nguyên liệu giấy có thể từ 90 - 100% và gần như toàn bộ tán lá bị bệnh, bắt đầu từ năm thứ hai sau khi trồng rừng. Cây đã bị nhiễm bệnh sinh trưởng kém, dẫn đến giảm năng suất và chất lượng rừng trồng. Do đó đề tài “Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp quản lý bệnh cháy lá hại rừng trồng bạch đàn tại vùng trung tâm Bắc Bộ” rất cần thiết, có ý nghĩa về khoa học và thực tế.

Xuất phát từ thực tiễn đó, Cơ quan chủ trì Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài KS. Bùi Đức Giang thực hiện Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp quản lý bệnh cháy lá hại rừng trồng bạch đàn tại vùng Trung tâm Bắc Bộ với mục tiêu: Xác định hiện trạng bệnh cháy lá rừng trồng bạch đàn ở vùng Trung tâm Bắc Bộ; Xác định được nguyên nhân gây bệnh cháy lá rừng trồng bạch đàn ở vùng Trung tâm Bắc Bộ; Đề xuất được giải pháp quản lý bệnh cháy lá rừng trồng bạch đàn.

Những năm gần đây, dịch sâu, bệnh hại cây trồng lâm nghiệp thường xuyên xảy ra, gây tổn thất không nhỏ cho sản xuất. Nấm Ceratocystis sp. là những loài nấm gây hại nguy hiểm cho nhiều loài cây, là nguyên nhân gây nên bệnh thối rễ, gốc, loét thân cành và gây thối quả trên nhiều loài cây trồng nhiệt đới (Kile, 1993). Đặc biệt là loài Ceratocystis fimbriata gây chết héo hàng loạt rừng trồng bạch đàn ở Brazil, Uruguay và các nước vùng Trung Phi (Roux et al., 2000). C. sublaevis gây bệnh chết héo bạch đàn deglupta ở Ecuador (Van Wyk et al., 2011). C. chinaeucensis và C. cercfabiensis gây bệnh chết héo rừng trồng bạch đàn tại Trung Quốc (Liu et al., 2015).

Nấm Cryptosporiopsis eucalypti là loài nấm gây bệnh đốm lá, khô cành ngọn phổ biến trên các loài bạch đàn, xảy ra trên phạm vi địa lý rộng, từ các vùng khô đến rất ẩm ướt bao gồm ở Úc, Ấn Độ, Hawaii (Sankaran et al, 1995), New Zealand (Gadgil and Dick, 1999) Brazil (Ferreira et al., 1998), Nhật Bản, Lào, Indonesia, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam (Old and Yuan 1994, Old et al., 2003). Nấm có thể liên quan đến các triệu chứng bệnh khác nhau bao gồm các đốm lá, bệnh rám nắng, bệnh trên các mô gỗ, sự tàn phá và thậm chí là chết cây (Cheewangkoon et al., 2010). Trong khi đó điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển và gây bệnh của nấm bệnh C. eucalypti lại có biên độ rất rộng. Nấm có thể phát sinh phát triển trên các vùng có lượng mưa bình quân năm rất thấp đến những vùng có lượng mưa cao, thường trong giới hạn 700mm-2.500mm. Loài nấm này thường xâm nhiễm vào cành và thân xuyên qua lớp vỏ, phá hủy, làm chết cành và ngọn cây từ vị trí nấm xâm nhiễm. Cây ở mọi lứa tuổi đều có thể bị nấm xâm nhiễm. Nấm Cryptosporiopsis eucalypti được đánh giá là một trong những loài sinh vật bệnh gây hại nguy hiểm nhất đối với rừng trồng bạch đàn. Khi gây bệnh trên cây bạch đàn, nó gây ra triệu chứng điển hình trên lá cây là đốm lá, đôi khi các lá bị bệnh hình thành các u nhỏ, trên bề mặt lá sần sùi, làm cho lá bị rụng, khi tấn công lên cành hoặc ngọn bạch đàn nó làm cho cành ngọn bị khô héo, sau đó mọc lên các chồi và lá non với kích thước rất nhỏ vào cuối mùa mưa, đôi khi còn làm cho ngọn và cành ngọn bị chết (Old et al., 2000).

Bạch đàn là một trong những loài cây trồng rừng chủ lực để lấy gỗ xẻ, nguyên liệu dăm và giấy ở Việt Nam. Việt Nam hiện có khoảng 350.000 ha rừng trồng các loài bạch đàn, trên các diện tích này thường bị bệnh ong đen gây u bướu, bệnh cháy lá, khô ngọn, bệnh đốm lá, khô cành ngọn (Phạm Quang Thu, 2005; Phạm Quang Thu, 2016). Những năm gần đây, dịch sâu, bệnh hại cây trồng lâm nghiệp thường xuyên xảy ra, 5 gây tổn thất không nhỏ cho sản xuất. Hiện nay, bạch đàn cũng như các loài cây rừng khác đang phải đối mặt với các vấn đề về bệnh hại lá có mức độ nguy hiểm đối với vườn ươm cây con bạch đàn thường bị ong gây u bướu gân lá (Leptocybe invasa) và loài Ong gây u bướu phiến lá bạch đàn (O. maskelli) gây hại, 2 loài ong này đều thuộc họ Eulophidae, bộ Hymenoptera. Ngoài ra, còn ghi nhận Bệnh đốm lá do nấm Cryptospriopsis eucalypti, Bệnh cháy lá do nấm Calonectria quiqueseptata, tuyến trùng gây u rễ (Meloidogyne sp.) (Phạm Quang Thu, 2016)

Tại Việt Nam diện tích rừng trồng các loài bạch đàn ngày càng cao và tỉ lệ mắc bệnh ngày càng lớn, năm 2016 đã ghi nhận bệnh chết héo Bạch đàn urô và Bạch đàn camal, nguyên nhân gây bệnh được xác định do nấm Ceratocystis sp. đã được phát hiện và thu thập lần đầu tiên tại 8 tỉnh, thành phố thuộc miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Triệu chứng điển hình của bệnh chết héo bạch đàn do nấm Ceratocystis sp. là trên vỏ của thân cây hoặc cành cây bị bệnh có những vết loét, thâm hoặc vết lõm. Vỏ và gỗ xung quanh vết bệnh thường bị chuyển màu nâu đen hoặc xanh đen, có thể chảy nhựa. Khi cây bị bệnh, tán lá bắt đầu héo từ trên ngọn xuống và sau đó cây sẽ bị chết. Đặc điểm hiển vi của nấm Ceratocystis sp. gây bệnh chết héo bạch đàn được so sánh với các loài nấm khác như C. manginecans gây bệnh cho keo ở Việt Nam và C. cercfabiensis gây bệnh cho bạch đàn ở Trung Quốc (Nguyễn Minh Chí et al., 2016) nấm sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ 25o-28oC, nấm ngừng phát triển ở nhiệt độ dưới 5oC, phát triển chậm ở nhiệt độ dưới 10oC và trên 35oC (Phạm Quang Thu et al., 2012). là một loại bệnh nguy hiểm gây bệnh cho nhiều cây trồng như: cây bạch đàn, cây cà phê, cây keo và nhiều loại cây trồng khác. Nên cần có có các nghiên về phòng trừ để hạn bệnh và sự lây lan.

Năm 2019 đề tài đã thực hiện đầy đủ nội dung nghiên cứu đáp ứng được mục tiêu đề ra, hoàn thành đúng tiến độ hợp đồng, cụ thể:

- Đã xác định được hiện trạng diện tích rừng trồng bạch đàn tại vùng Trung tâm Bắc Bộ là 42.403 ha, xác định cụ thể diện tích bị bệnh cháy lá tại 4 địa điểm điều tra nghiên cứu: Phù Ninh - Phú Thọ (9.005 ha), Yên Lập - Phú Thọ (17.56 ha), Tân Sơn - Phú Thọ (17.7 ha) và Lập Thạch - Vĩnh Phúc (39,3 ha).

- Đánh giá được tình hình bệnh cháy lá trên các giống giống bạch đàn ở vườn ươm và rừng trồng.

- Đã xác định được mức độ bị bệnh bị bệnh cháy lá bạch đàn tại khu vực điều tra: Phù Ninh 30,2%, Yên Lập 53,4%, Tân Sơn 40,5% và Lập Thạch 42,5%. Bệnh cháy lá bạch đàn xuất hiện vào tất cả các thời điểm trong năm, tập trung nhiều nhất vào mùa mưa từ tháng 8 đến tháng11. Triệu chứng của bệnh lá bị nhiễm bệnh ban đầu xuất hiện những đốm nhỏ màu nâu hoặc màu xám ở mép lá hoặc gần mép lá, sau đó những đốm nhỏ này lan ra thành đốm lớn cuối cùng làm cho lá bị khô và quăn lại dẫn đến rụng lá.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17528/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu tận dụng xỉ thải kim loại từ quá trình luyện kim loại màu và luyện thép làm xúc tác cho ozon để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ (28/11/2022)
Đánh giá tiềm năng thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần tiếp xúc với thực phẩm bằng sản phẩm giấy tại Việt Nam (28/11/2022)
Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 (28/11/2022)
Ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất ván ghép thanh từ gỗ rừng trồng tại tỉnh Hà Giang (28/11/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thành công máy kiểm tra tính chất cơ lý cao su và vật liệu polyme (25/11/2022)
Vật liệu tạo màu kích thước nano ứng dụng trong ngành sản xuất sơn (25/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp dịch vụ hành chính công cấp tỉnh trên cơ sở nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu cấp tỉnh (LGSP) (25/11/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết việc sử dụng mã số, mã vạch (25/11/2022)
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ gánh nặng biến chứng, chẩn đoán, điều trị và dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân phẫu thuật (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển phương pháp kiểm tra không phá hủy để đánh giá các đặc trưng của vật liệu sử dụng tương tác của bức xạ photon (23/11/2022)
Nghiên cứu các giải pháp cải thiện tính năng của bùn cát biển nạo vét ứng dụng trong xây dựng công trình (23/11/2022)
Chiết xuất thành công các hoạt chất có tác dụng chống loãng xương từ cây rừng (23/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình chiết, tách silymarin từ hạt cây cúc gai (Silybum marianum) làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng (23/11/2022)
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vi sinh vật thú y (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển công nghệ tăng cường thực tế trên thiết bị di dộng - Ứng dụng sản xuất phần mềm hỗ trợ giáo dục cho học sinh mầm non, tiểu học và TCHS (23/11/2022)
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc (23/11/2022)
Tổng hợp, nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất (bis-naphthalyl) azacrown ether (23/11/2022)
Nghiên cứu gắn bạc nano lên titandioxit bằng phương pháp chiếu xạ chùm tia điện tử làm xúc tác quang hóa xử lý phân hủy chất hữu cơ trong nước (23/11/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở pháp lý về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư và kiểm soát, giám sát môi trường các cơ sở sản xuất, kinh doanh (23/11/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất giống dừa Sáp (Makapuno coconut) bằng công nghệ nuôi cấy cứu phôi trên quy mô công nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình điều trị bệnh vảy nến thông thường thể vừa và nặng bằng tia cực tím dải hẹp (UVB - 311nm) tại Việt Nam (21/11/2022)
Nghiên cứu các mô hình giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo bi sinh học độn hốc mắt từ vật liệu polyether ether ketone (PEEK) dùng trong y tế (17/11/2022)
Phát triển cổng thông tin điện tử NeuroDrug Design ứng dụng trong thiết kế và tổng hợp các phối tử dùng trong chẩn đoán hình ảnh não bộ và dẫn truyền thuốc cho các bệnh thoái hoá thần kinh (17/11/2022)
Nghiên cứu chuyển hóa dầu cá phế thải và glycerol thô thành nhựa phân hủy sinh học (17/11/2022)
Nghiên cứu phân loại học và đánh giá khả năng sử dụng, vai trò dịch tễ của các loài bọ xít (Heteroptera: Reduviidae) ở Việt Nam (16/11/2022)
Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến (Scan ảnh rễ) trong nghiên cứu bón phân tối ưu cho rừng trồng Keo tại Việt Nam (16/11/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phát triển vùng nguyên liệu sản xuất tỏi đen ở các tỉnh phía Bắc (16/11/2022)
Nghiên cứu đặc tính, cơ chế hấp phụ của chất hoạt động bề mặt, polyme mang điện tích trên ôxit kim loại và đá ong với điện tích bề mặt khác nhau và ứng dụng để xử lý chất hữu cơ gây ô nhiễm (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc quần thể vi sinh vật dạ cỏ của bò trong những điều kiện nuôi dưỡng khác nhau (16/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo thiết bị đo liều nơtron nhằm kiểm soát liều lượng bức xạ nơtron được sử dụng trong công nghiệp (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc và tính chất của siêu vật liệu ứng dụng trong thiết kế anten và bộ hấp thụ sóng điện từ (16/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng kỹ thuật phân tích sai hình nhiễm sắc thể do tổn thương phân tử ADN ở pha G2 nhằm đánh giá độ nhạy cảm phóng xạ ở nhóm bệnh nhân ung thư vú trước xạ trị (16/11/2022)
Nghiên cứu khả năng điều trị nám da của cao chiết lá tía tô (14/11/2022)
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân tử của plasmid mang gen beta- lactamase phổ rộng (ESBL) của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có nguy cơ lây nhiễm giữa người và lợn (14/11/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống chuối có năng suất cao, chất lượng tốt chống chịu bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc (14/11/2022)
Xác định vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá của ốc nước ngọt tại một số tỉnh miền Bắc và Trung Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng công nghệ bức xạ chùm tia điện tử trong xử lý chất thải công nghiệp nguy hại (14/11/2022)
Hợp tác nghiên cứu áp dụng công nghệ chip ADN chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhanh vi khuẩn lao kháng thuốc ở Việt Nam, Lào và Campuchia (14/11/2022)
Sử dụng phương pháp Metagenetic (nghiên cứu hệ gen) trong nghiên cứu đa dạng tuyến trùng tự do ở Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sản xuất hoa chất lượng cao tại thành phố Cần Thơ (14/11/2022)
Nghiên cứu kết hợp các biện pháp xử lý và chiếu xạ để kiểm dịch vi khuẩn gây bệnh thối mục quả và nấm gây bệnh đốm đen trên vỏ quả có múi (14/11/2022)
Chế tạo cảm biến miễn dịch lai hóa dựa trên cơ chế ghi nhận song song điện hóa - cộng hưởng plasmon bề mặt để xác định một số chất ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước (14/11/2022)
Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học để phân hủy nhựa cây trong dăm mảnh gỗ keo, bạch đàn làm nguyên liệu sản xuất bột giấy thân thiện môi trường tại Việt Nam (10/11/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn gen Bạch đàn H1 và TTKT7 phục vụ trồng rừng cây nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Hoàn thiện và làm chủ công nghệ sản xuất mực in nano bạc dùng trong chế tạo linh kiện vi điện tử và hệ thống cảm biến nano đánh giá chất lượng nước ao nuôi trồng thủy hải sản (10/11/2022)
Nghiên cứu tạo giá thể ruột bầu cho sản xuất cây giống nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu lọc dạng hạt trên cơ sở điatomit và vỏ trấu sử dụng lọc nước cho nhà máy nước sinh hoạt (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ thu hồi các nguyên tố có ích trong xỉ đúc đồng thau (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ tuyển nâng cao thực thu Cr2O3 cấp hạt mịn, mỏ crômit Cổ Định, Thanh Hóa có sử dụng thiết bị tuyển ly tâm Knelson (09/11/2022)
Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ viên nén chuyên dùng cho cây lúa quy mô công nghiệp.
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.521
Hôm nay 7.712
Hôm qua 6.323
Tất cả 7.723.229
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!