Thứ Năm ngày 08/12/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 19/9/2022

Nghiên cứu dự báo nguy cơ tai biến trượt lở mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm miền núi tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp ứng phó
Tỉnh Quảng Nam với sáu huyện miền núi có địa hình rất đa dạng và cấu trúc địa chất rất phức tạp và xung yếu, đặc biệt là các hoạt động tân kiến tạo gây ra sự phân cắt địa hình mạnh mẽ. Do địa bàn rộng lớn, nhiều núi cao lại có nhiều hồ chứa thủy lợi, thủy điện, sông ngòi chia cắt, nên về mùa mưa lũ, một số tuyến giao thông miền núi phải đối mặt với tình trạng bị chia cắt do trượt lở mái dốc. Tương tự như nhiều khu vực khác ở Việt Nam, tình trạng trượt lở mái dốc thường xuyên xảy ra trong mùa mưa và có xu hướng trở nên trầm trọng hơn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Thực tế này cùng với những ảnh hưởng bất lợi của hoạt động nhân sinh, ở tỉnh Quảng Nam nói chung, các tuyến giao thông huyết mạch miền núi nói riêng luôn có nguy cơ về trượt lở mái dốc. Những năm gần đây, hiện tượng trượt lở mái dốc xảy ra đặc biệt nghiêm trọng tại một số đoạn thuộc đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 40B, Trường Sơn Đông, 14D, 14E, 14B, tỉnh lộ 604, 610, 611, 616. Tại Quảng Nam, mưa lớn trong các ngày 3 đến 6 tháng 11 năm 2017 đã gây thiệt hại nghiêm trọng mang tính lịch sử về người và cơ sở vật chất, đặc biệt các các đường giao thông. Các thực tế trên cho thấy, rất cần thiết phát triển hệ phương pháp nghiên cứu và các công cụ thích hợp để giảm thiểu mức độ tổn thương liên quan đến tai biến trượt lở. Rõ ràng, biến đổi khí hậu đang mang đến nhiều nguy cơ và thiệt hại hơn liên quan đến trượt lở. Một số khu vực định cư an toàn của con người sẽ bị thu hẹp. Bên cạnh đó, các hoạt động nhân sinh như khai đào mái dốc, xây dựng hồ chứa phục vụ phát triển thủy điện đã và đang gây ra các hiện tượng động đất kích thích, làm gia tăng nguy cơ mất ổn định mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm miền núi tỉnh Quảng Nam. Do vậy việc nghiên cứu hiện trạng, nguyên nhân và từ đó dự báo nguy cơ trượt lở mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm miền núi tỉnh Quảng Nam là rất cần thiết.

Trên cơ sở các nhận định trên, việc tiến hành đề tài độc lập cấp Nhà nước Nghiên cứu dự báo nguy cơ tai biến trượt lở mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm miền núi tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp ứng phó” do Cơ quan chủ trì Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Đại học Quốc gia Hà Nội cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài PGS.TS. Đỗ Minh Đức thực hiện là rất cần thiết. Với mục tiêu: Đánh giá được hiện trạng, xác định nguyên nhân và dự báo nguy cơ trượt lở mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm miền núi tỉnh Quảng Nam; Đề xuất các giải pháp ứng phó, giảm thiểu thiệt hại do tai biến trượt lở mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm vùng nghiên cứu. Các giải pháp này có khả năng áp dụng cho các vùng có điều kiện tương tự.

Ủy ban xúc tiến toàn cầu của Chương trình trượt lở đất quốc tế (International Programme on Landslides-IPL) bao gồm Hiệp hội quốc tế về lở đất (ICL), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO), cùng nhiều tổ chức, cơ quan khác tiến hành tổ chức “Diễn đàn trượt lở thế giới lần thứ hai” (The Second World Landslide Forum) từ ngày 3 đến ngày 9/10/2011 tại Rome Italia. Diễn đàn đã cung cấp một thông tin xuyên suốt toàn cầu và tạo nền tảng hợp tác với tất cả các tổ chức nghiên cứu, các tổ chức của Liên Hợp Quốc, các chính phủ, doanh nghiệp tư nhân và cá nhân đóng góp vào nghiên cứu, thực hành, giáo dục về trượt lở và các hệ thống chiến lược giảm thiểu rủi ro toàn cầu. Tuy nhiên, mặc dù đạt được nhiều bước tiến về phát hiện, dự báo, cảnh báo, các biện pháp giảm thiểu thì các tác động của trượt lở trên toàn thế giới vẫn tăng lên: Gia tăng đô thị hóa và phát triển ở khu vực dễ bị trượt lở; Tiếp tục phá rừng ở các khu vực dễ bị trượt lở; Gia tăng lượng mưa cực đoan do biến đổi khí hậu. Các hướng nghiên cứu tai biến trượt lở bao gồm: Nghiên cứu về nguyên nhân, cơ chế phát sinh trượt, thành lập bản đồ tai biến, dự báo, quan trắc và cảnh báo sớm trượt lở, các giải pháp công trình và phi công trình phòng chống trượt lở.

Do nhiều đặc điểm bất lợi về khí hậu và địa hình, Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tai biến thiên nhiên, đặc biệt là trượt lở. Theo số liệu thống kê, mỗi năm nước ta thiệt hại tới 4.000 tỷ đồng và khoảng 750 người chết. Sự phát triển nhanh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay có thể bị ảnh hưởng đáng kể nếu các tai biến như trượt lở, đá đổ, động đất, xói lở bờ biển và sụt lún mặt đất đang diễn ra tại nhiều khu vực không được ngăn ngừa hay giảm thiểu một cách thích hợp. Đặc biệt, tai biến trượt lở gây ra những tổn thất không nhỏ cho đời sống, xã hội, sản xuất và giao thông của các địa phương. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và hoạt động nhân sinh đã và đang cường hóa tai biến trượt lở, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hơn. Việc nghiên cứu trượt lở ở Việt Nam khởi đầu từ những thập niên cuối của thế kỷ 20, cho đến nay đã đạt được một số thành tựu bước đầu. Trong những năm gần đây Nhà nước và Chính phủ đã tập trung đầu tư vốn cho việc nghiên cứu phòng chống, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, coi đây là một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Nhìn chung, các kết quả đạt được trong thời kỳ này có chất lượng khoa học là nhờ đã áp dụng các phương tiện, các thiết bị tiên tiến trong nghiên cứu.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, lớp phủ thực vật rất phong phú về mặt chủng loại và chất lượng. Đặc tính của chúng phụ thuộc vào từng vùng địa hình. Sơ đồ thảm thực vật được xây dựng trên cơ sở phân tích ảnh viễn thám LANDSAT 8 và kiểm định, hiệu chỉnh theo thực tế trong các đợt khảo sát thực địa tại khu vực nghiên cứu. Bản đồ thảm thực vật đã nhóm gọn lại thành 7 nhóm: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, đất sản xuất nông nghiệp, mặt nước, dân cư và khu vực đất trống/ đất chưa sử dụng. Kết quả chồng chập các vị trí trượt lở và sơ đồ thảm thực vật của khu vực nghiên cứu cho thấy, đối tượng có thể có ảnh hưởng nhiều nhất đối với hiện tượng trượt lở là rừng sản xuất nói chung (trồng keo lai, quế,…). Thống kê cũng đưa ra kết quả rằng 42% điểm trượt lở trồng keo cao 3m, 21% điểm trượt lở trồng keo thấp hơn 3 m và chỉ 37% điểm trượt vỏ thực vật trồng các loại cây khác, hoặc rừng nguyên sinh. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các khu vực mái dốc có thời gian nhất định không được che phủ bởi thảm thực vật đã dẫn đến sự hình thành các khe nứt tách (tension crack) phía trên mái dốc. Với lớp đất phong hóa dày và hàm lượng sét đáng kể ở nhiều khu vực trong tỉnh Quảng Nam, các khe nứt này phát triển đến chiều sâu lớn, tạo điều kiện cho sự hình thành các khối trượt quy mô lớn đến cực lớn. Do vậy, các khối trượt lớn thường xuất hiện tại các mái dốc có hoạt động xây dựng ở phía trên (xây dựng cột trụ đường dây điện, cột viễn thông, làm đường…) hoặc trồng và khai thác cây keo đã dẫn đến bề mặt mái dốc bị xáo trộn và có những khoảng thời gian nhất định là đất trống, đồi trọc.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Trượt lở các mái dốc đường giao thông tỉnh Quảng Nam diễn ra trầm trọng vào mùa mưa bão, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Với các phương pháp khảo sát hiện trường, thí nghiệm trong phòng và tính toán hiện đại, đề tài đã khảo sát và đo vẽ chi tiết 375 khối trượt dọc các tuyến đường giao thông trọng điểm tỉnh Quảng Nam. Các khối trượt được phân chia thành 11 loại theo đặc điểm dịch chuyển và vật liệu trượt. Các khối trượt có thể tích lớn đến cực kỳ lớn chiếm tới 32%.

Nguyên nhân trực tiếp gây trượt lở là mưa lớn, tẩm ướt đất đá làm suy giảm sức chống cắt của đất không bão hòa. Đối với các khối trượt lớn, mực nước ngầm dâng cao, tạo áp lực lỗ rỗng dư trong các tầng đá phong hóa nứt nẻ dẫn đến trượt đất đá. Trên cơ sở các phân tích thống kê và tính toán định lượng bằng mô hình toán, 480 đoạn đường đã được xác định có nguy cơ trượt lở, 47 đoạn có nguy cơ trượt lở cao và 189 đoạn có nguy cơ trượt lở rất cao.

Hiện tượng trượt lở chịu ảnh hưởng rõ rệt của độ dốc mái khi khai đào, các đới phá hủy kiến tạo, tầng đất phong hóa dày và các hoạt động nhân sinh trên mái dốc. Động đất kích thích do hồ chứa Sông Tranh 2, đánh giá qua hệ số gia tốc ngang (kh), làm giảm hệ số ổn định của mái dốc 5-15% tùy thuộc đặc điểm đất đá.

Khu vực nghiên cứu dọc các tuyến giao thông trọng điểm, qua phân tích bằng các mô hình học máy (hồi quy logistic, mạng nơron nhân tạo) được phân thành 5 vùng có nguy cơ trượt lở từ rất thấp đến rất cao, trong đó diện tích vùng trượt lở cao và rất cao chiếm khoảng 5% và 3%.

Với các phương pháp phân tích thống kê và mô hình học máy, đề tài đã xây dựng được ma trận cảnh báo sớm nguy cơ trượt lở kết hợp giữa nguy cơ trượt lở của các đoạn đường với ngưỡng mưa gây trượt lở (xây dựng trên cơ sở lượng mưa ngày, mưa tích lũy trong 6 và 12 ngày). Các cấp độ cảnh báo được phân thành 5 bậc từ rất thấp đến rất cao cùng các khuyến nghị giải pháp ứng phó.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17529/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu tận dụng xỉ thải kim loại từ quá trình luyện kim loại màu và luyện thép làm xúc tác cho ozon để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ (28/11/2022)
Đánh giá tiềm năng thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần tiếp xúc với thực phẩm bằng sản phẩm giấy tại Việt Nam (28/11/2022)
Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 (28/11/2022)
Ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất ván ghép thanh từ gỗ rừng trồng tại tỉnh Hà Giang (28/11/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thành công máy kiểm tra tính chất cơ lý cao su và vật liệu polyme (25/11/2022)
Vật liệu tạo màu kích thước nano ứng dụng trong ngành sản xuất sơn (25/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp dịch vụ hành chính công cấp tỉnh trên cơ sở nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu cấp tỉnh (LGSP) (25/11/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết việc sử dụng mã số, mã vạch (25/11/2022)
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ gánh nặng biến chứng, chẩn đoán, điều trị và dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân phẫu thuật (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển phương pháp kiểm tra không phá hủy để đánh giá các đặc trưng của vật liệu sử dụng tương tác của bức xạ photon (23/11/2022)
Nghiên cứu các giải pháp cải thiện tính năng của bùn cát biển nạo vét ứng dụng trong xây dựng công trình (23/11/2022)
Chiết xuất thành công các hoạt chất có tác dụng chống loãng xương từ cây rừng (23/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình chiết, tách silymarin từ hạt cây cúc gai (Silybum marianum) làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng (23/11/2022)
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vi sinh vật thú y (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển công nghệ tăng cường thực tế trên thiết bị di dộng - Ứng dụng sản xuất phần mềm hỗ trợ giáo dục cho học sinh mầm non, tiểu học và TCHS (23/11/2022)
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc (23/11/2022)
Tổng hợp, nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất (bis-naphthalyl) azacrown ether (23/11/2022)
Nghiên cứu gắn bạc nano lên titandioxit bằng phương pháp chiếu xạ chùm tia điện tử làm xúc tác quang hóa xử lý phân hủy chất hữu cơ trong nước (23/11/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở pháp lý về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư và kiểm soát, giám sát môi trường các cơ sở sản xuất, kinh doanh (23/11/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất giống dừa Sáp (Makapuno coconut) bằng công nghệ nuôi cấy cứu phôi trên quy mô công nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình điều trị bệnh vảy nến thông thường thể vừa và nặng bằng tia cực tím dải hẹp (UVB - 311nm) tại Việt Nam (21/11/2022)
Nghiên cứu các mô hình giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo bi sinh học độn hốc mắt từ vật liệu polyether ether ketone (PEEK) dùng trong y tế (17/11/2022)
Phát triển cổng thông tin điện tử NeuroDrug Design ứng dụng trong thiết kế và tổng hợp các phối tử dùng trong chẩn đoán hình ảnh não bộ và dẫn truyền thuốc cho các bệnh thoái hoá thần kinh (17/11/2022)
Nghiên cứu chuyển hóa dầu cá phế thải và glycerol thô thành nhựa phân hủy sinh học (17/11/2022)
Nghiên cứu phân loại học và đánh giá khả năng sử dụng, vai trò dịch tễ của các loài bọ xít (Heteroptera: Reduviidae) ở Việt Nam (16/11/2022)
Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến (Scan ảnh rễ) trong nghiên cứu bón phân tối ưu cho rừng trồng Keo tại Việt Nam (16/11/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phát triển vùng nguyên liệu sản xuất tỏi đen ở các tỉnh phía Bắc (16/11/2022)
Nghiên cứu đặc tính, cơ chế hấp phụ của chất hoạt động bề mặt, polyme mang điện tích trên ôxit kim loại và đá ong với điện tích bề mặt khác nhau và ứng dụng để xử lý chất hữu cơ gây ô nhiễm (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc quần thể vi sinh vật dạ cỏ của bò trong những điều kiện nuôi dưỡng khác nhau (16/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo thiết bị đo liều nơtron nhằm kiểm soát liều lượng bức xạ nơtron được sử dụng trong công nghiệp (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc và tính chất của siêu vật liệu ứng dụng trong thiết kế anten và bộ hấp thụ sóng điện từ (16/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng kỹ thuật phân tích sai hình nhiễm sắc thể do tổn thương phân tử ADN ở pha G2 nhằm đánh giá độ nhạy cảm phóng xạ ở nhóm bệnh nhân ung thư vú trước xạ trị (16/11/2022)
Nghiên cứu khả năng điều trị nám da của cao chiết lá tía tô (14/11/2022)
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân tử của plasmid mang gen beta- lactamase phổ rộng (ESBL) của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có nguy cơ lây nhiễm giữa người và lợn (14/11/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống chuối có năng suất cao, chất lượng tốt chống chịu bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc (14/11/2022)
Xác định vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá của ốc nước ngọt tại một số tỉnh miền Bắc và Trung Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng công nghệ bức xạ chùm tia điện tử trong xử lý chất thải công nghiệp nguy hại (14/11/2022)
Hợp tác nghiên cứu áp dụng công nghệ chip ADN chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhanh vi khuẩn lao kháng thuốc ở Việt Nam, Lào và Campuchia (14/11/2022)
Sử dụng phương pháp Metagenetic (nghiên cứu hệ gen) trong nghiên cứu đa dạng tuyến trùng tự do ở Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sản xuất hoa chất lượng cao tại thành phố Cần Thơ (14/11/2022)
Nghiên cứu kết hợp các biện pháp xử lý và chiếu xạ để kiểm dịch vi khuẩn gây bệnh thối mục quả và nấm gây bệnh đốm đen trên vỏ quả có múi (14/11/2022)
Chế tạo cảm biến miễn dịch lai hóa dựa trên cơ chế ghi nhận song song điện hóa - cộng hưởng plasmon bề mặt để xác định một số chất ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước (14/11/2022)
Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học để phân hủy nhựa cây trong dăm mảnh gỗ keo, bạch đàn làm nguyên liệu sản xuất bột giấy thân thiện môi trường tại Việt Nam (10/11/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn gen Bạch đàn H1 và TTKT7 phục vụ trồng rừng cây nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Hoàn thiện và làm chủ công nghệ sản xuất mực in nano bạc dùng trong chế tạo linh kiện vi điện tử và hệ thống cảm biến nano đánh giá chất lượng nước ao nuôi trồng thủy hải sản (10/11/2022)
Nghiên cứu tạo giá thể ruột bầu cho sản xuất cây giống nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu lọc dạng hạt trên cơ sở điatomit và vỏ trấu sử dụng lọc nước cho nhà máy nước sinh hoạt (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ thu hồi các nguyên tố có ích trong xỉ đúc đồng thau (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ tuyển nâng cao thực thu Cr2O3 cấp hạt mịn, mỏ crômit Cổ Định, Thanh Hóa có sử dụng thiết bị tuyển ly tâm Knelson (09/11/2022)
Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ viên nén chuyên dùng cho cây lúa quy mô công nghiệp.
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.331
Hôm nay 6.907
Hôm qua 6.323
Tất cả 7.722.424
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!