Thứ Năm ngày 08/12/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 28/9/2022

Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên ép quặng cám cung cấp cho lò hoàn nguyên
Sắt xốp hay sắt hoàn nguyên tực tiếp (Direct-reduced iron DRI), được sản xuất từ quặng sắt hoàn nguyên trực tiếp dưới dạng cục (lumps - kẹp hàm) hoặc viên vê (pellets) từ quặng bột bằng chất hoàn nguyên thể rắn (than đá) hoặc bằng khí thiên nhiên. Công nghệ hoàn nguyên tực tiếp quặng sắt ở trạng thái rắn tạo ra sản phẩm được gọi là Sắt hoàn nguyên trực tiếp (direct reduction), còn lại công nghệ hoàn nguyên ở nhiệt độ cao hơn, tạo ra sản phẩm dạng lỏng, có hàm lượng C%>2%, không gọi là sắt xốp, mà được gọi tên chung là gang lỏng.

Công nghệ hoàn nguyên trực tiếp sản xuất sắt xốp là công nghệ mới đang được đầu tư tại các nước phát triển như Mỹ, Đức, Ý, Nga, Hàn Quốc... và các nước đang phát triển như Ấn Độ, Venezuêla, Iran, Trung Quốc... là một công nghệ không sử dụng than cốc, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, thân thiện môi trường và hiệu quả kinh tế cao. Sản phẩm của công nghệ dùng làm nguyên liệu cho công nghệ luyện kim bột, luyện các mác thép đặc biệt có tính dẻo tốt, độ bền cao thay thế cho các mác thép kinh điển.

Công ty Công ty CP Khoáng sản và Luyện kim Việt Nam (MIREX) đã xây dựng nhà máy sản xuất sắt xốp và đã sản xuất thử nghiệm được gần 10.000 tấn sắt xốp tại Bản Tấn - Cao Bằng, với công nghệ tiên tiến hoàn nguyên trực tiếp, không dùng than cốc, một công nghệ hiện đại của thế giới, có tính kinh tế - kỹ thuật và môi trường. Sản phẩm của công nghệ mới, gọi chung là “sắt hoàn nguyên trực tiếp (Direction Reduced Iron - DRI)”, ở dạng rắn được gọi là sắt xốp (Sponge Iron). Sắt xốp là nguyên liệu sạch, rất hữu ích dùng làm nguyên liệu luyện thép chất lượng cao, do chúng có hàm lượng C, tạp chất P và S thấp so với gang lò cao, thép phế và hầu như không có các nguyên tố lẫn mà đôi khi không mong muốn trong thép như Cu, Zn... đồng thời sắt xốp còn chứa một lượng nhỏ FeO với cấu trúc rỗng có chứa khí O2, nên tạo điều kiện làm sôi nước thép, khuấy đảo tạp chất nổi lên và đi vào xỉ, nhờ đó, đã giảm thiểu chi phí và thời gian luyện, khử cacbon và tạp chất, làm tăng chất lượng thép, làm cơ sở cho luyện các mác thép hợp kim và giảm giá thành sản phẩm. Sắt xốp đã được thế giới coi là một nguyên liệu chiến lược để luyện các mác thép hợp kim độ bền cao và siêu cao. Trong khi ngành thép Việt Nam đang đối mặt với một vấn đề nan giải là cần sản xuất được các loại thép hợp kim, thép chế tạo, nhất là các thép chất lượng cao phục vụ cơ khí xây dựng, cơ khí ô tô, sản xuất quốc phòng… sự xuất hiện một nguyên liệu mới - sắt xốp với rất nhiều ưu việt, đã từng bước chứng minh được vai trò của nó trong sản xuất thép chất lượng, cần phải được nghiên cứu hoàn thiện công nghệ, cũng như các giải pháp công nghệ chuyên biệt để luyện chúng thành thép.

Từ đòi hỏi cấp bách của ngành thép, Công ty CP Khoáng sản và Luyện kim Việt Nam do KS. Nguyễn Xuân Liêu làm chủ nhiệm đã đề xuất thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên ép quặng cám cung cấp cho lò hoàn nguyên” nhằm hoàn thiện công nghệ sản xuất được sắt xốp có chất lượng, đủ tiêu chuẩn luyện thép, đưa sắt xốp thành một nguyên liệu chiến lược - nguyên liệu tương lai cho ngành thép Việt Nam; Sắt xốp MIREX phải được luyện thành thép hợp kim, từ thép hợp kim thông dụng phục vụ kinh tế đến thép hợp kim đặc biệt phục vụ công nghiệp quốc phòng.

Để hoàn thiện được công nghệ sản xuất sắt xốp, cần phải giải quyết hàng loạt các bài toán khác nhau, trong đó, cần phải giải quyết bài toán viên ép quặng cám để sản xuất viên quặng độ bền cao để chịu được áp lực nén do chiều cao cột quặng gây ra trong lò hoàn nguyên kiểu đứng, từ đó, có thể khai thác và sử dụng nguồn quặng sắt nghèo ở Việt Nam phục vụ cho sản xuất luyện kim.

Sau một thời gian triển khai thực hiện, đề tài đã thu được những kết quả sau:

1. Đề tài đã hoàn thành đúng mục tiêu, yêu cầu và nội dung được đặt ra theo yêu cầu của hợp đồng nghiên cứu khoa học, đã làm đầy đủ các nội dung đăng ký, làm đầy đủ các dạng sản phẩm theo yêu cầu: Các chuyên đề khoa học, các sản phẩm ép viên quặng đúng và đủ số lượng và chất lượng theo đăng ký.

2. Đề tài đã tiến hành các nghiên cứu phòng thí nghiệm từ nghiên cứu sử dụng 3 loại chất kết dính (của Trung quốc và của đề tài 03), nghiên cứu ép và sấy viên quặng đến kỹ thuật bọc chất chống dính… để xác định quy luật ảnh hưởng của các thông số công nghệ này đến độ bền nén viên quặng. Kết quả đã xác định được bộ thông số công nghệ phù hợp để áp vào dây chuyền công nghệ hiện có của nhà máy, quy trình công nghệ sản xuất viên quặng được hoàn thiện đảm bảo ép được viên quặng đủ điều kiện dùng cho lò hoàn nguyên với tỷ lệ vỡ viên quặng thấp (~12%), viên quặng được bọc chất chống dính có tính bám dính tốt với viên quặng, nhưng lại có khả năng chống dính tốt khi hoàn nguyên. Từ quy trình công nghệ, nhóm đề tài đã vận dụng nhiều giải pháp kỹ thuật vào dây chuyền ép viên quặng đã có để hoàn chỉnh hệ thống thiết bị đảm bảo hệ thống vận hành ổn định với công suất ép viên quặng 20 tấn/h.

3. Một số kết quả khoa học chính đạt được:

- Độ hạt quặng đang sản xuất tại nhà máy d £ 0,074 mm dùng được để ép viên quặng cho tỷ trọng cao và độ bền nén tốt;

- Chất kết dính dùng ép viên quặng, nên dùng chất kết dính B2 (là loại chất kết dính được phốt phát hóa từ tinh bột sắn loại I - loại dùng làm thực phẩm) với tỷ lệ sử dụng 5%, độ ẩm 10-11% để viên quặng có độ bền nén cao. Cần nghiên cứu thêm về chất kết dính B3 (loại chất kết dính được phốt phát hóa từ tinh bột phế phẩm) để giảm giá thành;

 - Chế độ sấy cho độ bền viên quặng tối ưu: nhiệt độ 150-200oC, thời gian sấy 30 phút;

- Chất bọc chống dính viên quặng nên sử dụng hỗn hợp Vôi: Chất kết dính B2: nước theo tỷ lệ 100 : 3 : 180 (% trong lượng) để đảm bảo khả năng bám chắc với viên quặng và chống dính tốt trong lò hoàn nguyên;

- Viên quặng trước khi bọc chất chống dính cần được sấy để tăng khả năng hút chất bọc, nhưng thời gian ngâm tẩm trong dung dịch chất bọc phải 93 nhanh để viên quặng không bị nguội hoàn toàn. Có thể kết hợp sấy viên quặng để tăng độ bền và sấy nóng để tăng độ bám dính chất bọc trong một công đoạn – thực tế đã áp dụng tại nhà máy.

Sự thành công của đề tài đã thúc đẩy hoàn thiện công nghệ sản xuất sắt xốp trong nước và góp phần phát triển ngành luyện thép Việt Nam

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 17476/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu tận dụng xỉ thải kim loại từ quá trình luyện kim loại màu và luyện thép làm xúc tác cho ozon để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ (28/11/2022)
Đánh giá tiềm năng thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần tiếp xúc với thực phẩm bằng sản phẩm giấy tại Việt Nam (28/11/2022)
Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 (28/11/2022)
Ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất ván ghép thanh từ gỗ rừng trồng tại tỉnh Hà Giang (28/11/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thành công máy kiểm tra tính chất cơ lý cao su và vật liệu polyme (25/11/2022)
Vật liệu tạo màu kích thước nano ứng dụng trong ngành sản xuất sơn (25/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp dịch vụ hành chính công cấp tỉnh trên cơ sở nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu cấp tỉnh (LGSP) (25/11/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết việc sử dụng mã số, mã vạch (25/11/2022)
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ gánh nặng biến chứng, chẩn đoán, điều trị và dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân phẫu thuật (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển phương pháp kiểm tra không phá hủy để đánh giá các đặc trưng của vật liệu sử dụng tương tác của bức xạ photon (23/11/2022)
Nghiên cứu các giải pháp cải thiện tính năng của bùn cát biển nạo vét ứng dụng trong xây dựng công trình (23/11/2022)
Chiết xuất thành công các hoạt chất có tác dụng chống loãng xương từ cây rừng (23/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình chiết, tách silymarin từ hạt cây cúc gai (Silybum marianum) làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng (23/11/2022)
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vi sinh vật thú y (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển công nghệ tăng cường thực tế trên thiết bị di dộng - Ứng dụng sản xuất phần mềm hỗ trợ giáo dục cho học sinh mầm non, tiểu học và TCHS (23/11/2022)
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc (23/11/2022)
Tổng hợp, nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất (bis-naphthalyl) azacrown ether (23/11/2022)
Nghiên cứu gắn bạc nano lên titandioxit bằng phương pháp chiếu xạ chùm tia điện tử làm xúc tác quang hóa xử lý phân hủy chất hữu cơ trong nước (23/11/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở pháp lý về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư và kiểm soát, giám sát môi trường các cơ sở sản xuất, kinh doanh (23/11/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất giống dừa Sáp (Makapuno coconut) bằng công nghệ nuôi cấy cứu phôi trên quy mô công nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình điều trị bệnh vảy nến thông thường thể vừa và nặng bằng tia cực tím dải hẹp (UVB - 311nm) tại Việt Nam (21/11/2022)
Nghiên cứu các mô hình giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo bi sinh học độn hốc mắt từ vật liệu polyether ether ketone (PEEK) dùng trong y tế (17/11/2022)
Phát triển cổng thông tin điện tử NeuroDrug Design ứng dụng trong thiết kế và tổng hợp các phối tử dùng trong chẩn đoán hình ảnh não bộ và dẫn truyền thuốc cho các bệnh thoái hoá thần kinh (17/11/2022)
Nghiên cứu chuyển hóa dầu cá phế thải và glycerol thô thành nhựa phân hủy sinh học (17/11/2022)
Nghiên cứu phân loại học và đánh giá khả năng sử dụng, vai trò dịch tễ của các loài bọ xít (Heteroptera: Reduviidae) ở Việt Nam (16/11/2022)
Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến (Scan ảnh rễ) trong nghiên cứu bón phân tối ưu cho rừng trồng Keo tại Việt Nam (16/11/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phát triển vùng nguyên liệu sản xuất tỏi đen ở các tỉnh phía Bắc (16/11/2022)
Nghiên cứu đặc tính, cơ chế hấp phụ của chất hoạt động bề mặt, polyme mang điện tích trên ôxit kim loại và đá ong với điện tích bề mặt khác nhau và ứng dụng để xử lý chất hữu cơ gây ô nhiễm (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc quần thể vi sinh vật dạ cỏ của bò trong những điều kiện nuôi dưỡng khác nhau (16/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo thiết bị đo liều nơtron nhằm kiểm soát liều lượng bức xạ nơtron được sử dụng trong công nghiệp (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc và tính chất của siêu vật liệu ứng dụng trong thiết kế anten và bộ hấp thụ sóng điện từ (16/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng kỹ thuật phân tích sai hình nhiễm sắc thể do tổn thương phân tử ADN ở pha G2 nhằm đánh giá độ nhạy cảm phóng xạ ở nhóm bệnh nhân ung thư vú trước xạ trị (16/11/2022)
Nghiên cứu khả năng điều trị nám da của cao chiết lá tía tô (14/11/2022)
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân tử của plasmid mang gen beta- lactamase phổ rộng (ESBL) của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có nguy cơ lây nhiễm giữa người và lợn (14/11/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống chuối có năng suất cao, chất lượng tốt chống chịu bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc (14/11/2022)
Xác định vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá của ốc nước ngọt tại một số tỉnh miền Bắc và Trung Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng công nghệ bức xạ chùm tia điện tử trong xử lý chất thải công nghiệp nguy hại (14/11/2022)
Hợp tác nghiên cứu áp dụng công nghệ chip ADN chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhanh vi khuẩn lao kháng thuốc ở Việt Nam, Lào và Campuchia (14/11/2022)
Sử dụng phương pháp Metagenetic (nghiên cứu hệ gen) trong nghiên cứu đa dạng tuyến trùng tự do ở Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sản xuất hoa chất lượng cao tại thành phố Cần Thơ (14/11/2022)
Nghiên cứu kết hợp các biện pháp xử lý và chiếu xạ để kiểm dịch vi khuẩn gây bệnh thối mục quả và nấm gây bệnh đốm đen trên vỏ quả có múi (14/11/2022)
Chế tạo cảm biến miễn dịch lai hóa dựa trên cơ chế ghi nhận song song điện hóa - cộng hưởng plasmon bề mặt để xác định một số chất ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước (14/11/2022)
Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học để phân hủy nhựa cây trong dăm mảnh gỗ keo, bạch đàn làm nguyên liệu sản xuất bột giấy thân thiện môi trường tại Việt Nam (10/11/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn gen Bạch đàn H1 và TTKT7 phục vụ trồng rừng cây nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Hoàn thiện và làm chủ công nghệ sản xuất mực in nano bạc dùng trong chế tạo linh kiện vi điện tử và hệ thống cảm biến nano đánh giá chất lượng nước ao nuôi trồng thủy hải sản (10/11/2022)
Nghiên cứu tạo giá thể ruột bầu cho sản xuất cây giống nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu lọc dạng hạt trên cơ sở điatomit và vỏ trấu sử dụng lọc nước cho nhà máy nước sinh hoạt (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ thu hồi các nguyên tố có ích trong xỉ đúc đồng thau (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ tuyển nâng cao thực thu Cr2O3 cấp hạt mịn, mỏ crômit Cổ Định, Thanh Hóa có sử dụng thiết bị tuyển ly tâm Knelson (09/11/2022)
Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ viên nén chuyên dùng cho cây lúa quy mô công nghiệp.
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 1.448
Hôm nay 7.072
Hôm qua 6.323
Tất cả 7.722.589
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!