Chủ Nhật ngày 26/6/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai

NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ CHẾ TẠO THIẾT BỊ THỬ MỎI CÁP BÁN TỰ ĐỘNG

Ở nước ta hiện đang sử dụng cả hai loại cầu treo dây võng và cầu treo dây văng. Xu hướng hiện nay, với những công trình cầu lớn, số cầu treo dây văng được thiết kế và thi công mới ngày một nhiều như: cầu Nhật Tân, cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, cầu Bãi Cháy, cầu Rạch Miễu... Đối với các công trình cầu treo nhỏ thì số lượng cầu treo dây võng được thiết kế và thi công mới nhiều, điển hình là Dự án 186 cầu treo dân sinh.
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình thí nghiệm ảo PLC Mishubishi phục vụ công tác đào tạo

Hiện nay PLC được sử dụng rất phổ biến trong công nghiệp. Ở Việt Nam có rất nhiều nhà máy do Nhật đầu tư sản xuất, các dây chuyền sản xuất đều của Nhật nên việc sử dụng các PLC do Nhật sản xuất lại càng trở nên phổ biến.
Nghiên cứu tác dụng kháng vi khuẩn Streptococcus mutans và độc tính của phân đoạn chiết lá sim

Bệnh sâu răng là một trong những bệnh răng miệng phổ biến nhất hiện nay và đang có xu hướng ngày một tăng lên ở các nước đang phát triển. Theo số liệu mới nhất (09/2012) của Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam, thực tế có tới hơn 90% dân số Việt Nam đang đối mặt với các vấn đề về răng miệng, trong đó phổ biến nhất là sâu răng dẫn đến mất răng (Trần Văn Trường & cs, 2002, http://www.tienphong.vn/Suc-Khoe/546626/90-dan-so-mac-benh-rangmieng). Bệnh sâu răng là do vi khuẩn trên mảng bám răng gây ra. Phần lớn trong số hơn 700 loài vi khuẩn tồn tại trên mảng bám răng thuộc về nhóm liên cầu streptococci. Nghiên cứu trên mảng bám răng từ nhiều tộc người trên thế giới cho thấy 70-100% các chủng mutans streptococci thuộc nhóm S. mutans. Các nghiên cứu khác nhau cũng đã chỉ ra đây chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh sâu răng. Do vậy, vi khuẩn này thường được sử dụng như là đối tượng điển hình cho các Nghiên cứu về sâu răng (Loesche, 1986; Koo & cs, 2009; Klein & cs, 2013; Koo & cs, 2013).
Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam

Du lịch là ngành phát triển nhanh chóng trong vài thập kỷ qua (Stelios & Melisidou, 2010). Ngày nay, du lịch là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thế giới và là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh nhất. Du lịch có vô số tác động, cả tích cực và tiêu cực đối với các vấn đề văn hóa xã hội, kinh tế và môi trường (Cheng, Chiang, Yuan, & Huang, 2018; Stelios & Melisidou, 2010). Rõ ràng, du lịch đã trở thành một ngành công nghiệp tài chính toàn cầu, đạt được thành tựu lớn hơn nhiều lần so với các ngành kinh tế khác.
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và xây dựng phần mềm phân tích dữ liệu để hỗ trợ quyết định trong thương mại điện tử

Có thể thấy ngày nay dường như trong bất kì lĩnh vực nào cũng đã có sự xuất hiện của dữ liệu lớn (Big Data). Dữ liệu lớn đóng một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực khác nhau như khoa học, nghiên cứu, kỹ thuật, y học, chăm sóc sức khỏe, tài chính, kinh doanh và cuối cùng là xã hội. Dữ liệu lớn có thể được sử dụng để Phân tích mục tiêu của khách hàng; Hiểu và tối ưu hóa sản phẩm, quy trình kinh doanh; Chăm sóc sức khỏe cộng đồng; Nâng cao hiệu suất thể thao; Cải thiện an ninh và thực thi pháp luật; Xây dựng thành phố thông minh; Hoạt động tài chính - ngân hàng; ứng dụng trong thương mại điện tử, v.v…
Nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm nano thảo mộc phòng bệnh thán thư trên cây vải

Đề tài “Nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm nano thảo mộc (từ củ nghệ) phòng bệnh thán thư trên cây vải tại tỉnh Bắc Giang” do nhóm nghiên cứu đến từ Trung tâm Phát triển công nghệ cao (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) triển khai thực hiện từ tháng 3/2019 đến tháng 3/2022, với mục tiêu ứng dụng thành công công nghệ bào chế chế phẩm nano thảo mộc (từ củ nghệ) phòng trừ bệnh thán thư có hiệu quả trên cây vải. Đồng thời xây dựng thành công mô hình sử dụng chế phẩm nano thảo mộc (từ củ nghệ) phòng trừ bệnh thán thư, trên cây vải sớm tại huyện Tân Yên và vải chính vụ tại huyện Lục Ngạn, hiệu quả phòng trừ bệnh tối thiểu 50%.
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Dân số Việt Nam năm 2018 là 96,96 triệu người, dự tính sẽ là 97,5 triệu người vào đầu 2020. Năm 2018, chúng ta đã nhập khẩu hơn 9,5 triệu tấn ngô (USDA, 2019). Năng suất ngô ở Việt Nam đạt 4,6 tấn/ha (2018), thấp hơn trung bình thế giới (5,75 tấn/ha), vì hơn 80% diện tích ngô ở Việt Nam canh tác trong điều kiện nhờ nước trời, trong đó hơn 60% trên đất dốc, đất chua, đất nhiễm phèn.
Ứng dụng giải pháp PACS-Cloud phục vụ kết nối dữ liệu giữa các bệnh viện

Với mục đích kết nối dữ liệu thông tin bệnh nhân giữa các bệnh viện, giải quyết vấn đề quá tải và cơ sở hạ tầng, TS. Nguyễn Chí Ngọc cùng các cộng sự đã thực hiện dự án “Ứng dụng công nghệ ảo hóa và điện toán đám mây để xây dựng hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh phục vụ kết nối liên thông dữ liệu giữa các bệnh viện”.
Nghiên cứu công nghệ sản xuất dịch vải cô đặc và chất thơm từ nguyên liệu vải Việt Nam bằng các quá trình màng

Trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2017, PGS. TS. Cung Thị Tố Quỳnh cùng các cộng sự tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu công nghệ sản xuất dịch vải cô đặc và chất thơm từ nguyên liệu vải Việt Nam bằng các quá trình màng”.
Nghiên cứu dự báo rủi ro dự án BOT công trình giao thông ở Việt Nam bằng phương pháp mạng Nơ ron nhân tạo (Artifical Neural Network – ANN)

Các dự án công trình giao thông áp dụng mô hình dự án BOT đã và đang được áp dụng rộng rãi ở nước ta từ nhiều năm nay đã khẳng định được sự đúng đắn của mô hình dự án này trong lĩnh vực giao thông vận tải, các dự án này có đặc trưng là có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng và vận hành dài, phạm vi ảnh hưởng và đối tượng tham gia dự án nhiều v.v…, do đó ngay từ khi bắt đầu giai đoạn lập dự án đến lúc đưa vào sử dụng đều nảy sinh các rủi ro nhất định. Các rủi ro của dự án BOT công trình giao thông luôn có tính chất phức tạp, phụ thuộc vào đặc tính dự án, địa phương thực hiện dự án, chủ thể phát sinh rủi ro, mang tính hệ thống và phi hệ thống…Rủi ro có thể là về mặt chính sách, pháp luật, kinh tế vĩ mô, thực hiện hợp đồng, hoàn công, tác động môi trường, rủi ro vận hành và thị trường... Tuy nhiên, cho đến nay, ở nước ta chưa có nhiều các công trình khoa học nghiên cứu tổng quát ở quy mô lớn về quản lý rủi ro trong dự án BOT công trình giao thông. Hơn nữa, các đề tài đã thực hiện chủ yếu là nghiên cứu các dự án đơn lẻ, chưa sử dụng dữ liệu lớn và tận dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý rủi ro dự án BOT.
Nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên nước biển sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh mắt, xoang, miệng

Nước biển sâu từ lâu đã được biết đến là một nguồn nước tốt và có chất lượng, có thể cung cấp nhiều khoáng chất cần thiết cho sức khỏe của con người và sinh vật. Nước biển sâu thông thường là nước biển được bơm lên từ độ sâu nhất định tùy theo đặc trưng vùng miền và kết quả của các quá trình các tác động khác nhau đến chất lượng nước biển. Với chiều dài hơn 3.260 km đường bờ biển và thềm lục địa ở độ sâu dưới 200m chiếm hơn nửa diện tích biển, Việt Nam có nhiều tiềm năng để trở thành một quốc gia khai thác nước biển sâu trong chiến lược kinh tế biển của mình. Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các công trình nghiên cứu về biển mới chỉ chủ yếu liên quan đến các vấn đề bề mặt của biển, quy hoạch không gian biển, trong khi cả kho báu dưới biển sâu ít được đề cập. Hiện nay, theo các nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho thấy nguồn nước biển sâu giàu nguyên tố vi lượng như đồng, kẽm… cùng các chất dinh dưỡng phong phú có thể sử dụng để vệ sinh mắt mũi miệng bằng cách loại bỏ bụi bẩn, gỉ mũi giúp làm giảm số lần và giảm độ nặng của viêm mũi ở cả người lớn và trẻ em.
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị phục vụ đào tạo về IoT

Hiện nay, nhiều trường đại học trong nước như Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Bách khoa, Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), Đại học Quốc tế, Đại học FPT, Đại học Công nghệ TP. HCM… đã đưa môn học Internet kết nối vạn vật (Internet of Things - IoT) vào chương trình đào tạo.
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất bia gừng lên men

Củ gừng là loại gia vị quen thuộc với người Việt. Củ gừng cũng được ứng dụng để sản xuất nhiều sản phẩm hữu ích trong cuộc sống. Song hiện nay, công nghệ chế biến gừng chủ yếu là sản xuất dầu gừng, tinh dầu gừng ở quy mô nhỏ. Thực tế, nước ta phải xuất khẩu gừng thô nguyên liệu và tốn hàng chục triệu đô nhập khẩu dầu gừng cho các ngành sản xuất thực phẩm và dược phẩm. Việc chế biến, đa dạng hóa các sản phẩm từ gừng tươi hiện còn chưa xứng tầm với nguồn nguyên liệu dồi dào và thị trường tiêu thụ của Việt Nam, đặc biệt đối với các sản phẩm đồ uống và lên men.
Nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây ngô

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều các sản phẩm phân hữu cơ vi sinh dạng bột nhưng chưa có sản phẩn phân bón hữu cơ vi sinh dạng lỏng nào do Việt Nam sản xuất, mà chỉ có lưu hành một số sản phẩm phân bón hữu cơ vi sinh dạng lỏng nhập khẩu từ Mỹ với giá thành rất cao 840.000 đồng/lít phân bón. Nhận thấy tiềm năng ứng dụng to lớn này, nhóm nghiên cứu tại Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam do ThS. Nguyễn Thị Lan Anh dẫn đầu, đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây ngô” từ năm 2018 đến năm 2019.
Xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước nhiễm phèn phục vụ sinh hoạt cho các vùng bị tác động của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại tỉnh Bình Thuận

Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu và điều kiện cơ bản của cuộc sống con người; là một trong số các tiêu chí của xã hội văn hóa, văn minh và Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới; là một trong số các nội dung cơ bản trong Chỉ số phát triển con người (HDI - Human Development Index) được Liên Hiệp Quốc xác định là mục tiêu thiên niên kỷ.
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Dân số Việt Nam năm 2018 là 96,96 triệu người, dự tính sẽ là 97,5 triệu người vào đầu 2020. Năm 2018, chúng ta đã nhập khẩu hơn 9,5 triệu tấn ngô (USDA, 2019). Năng suất ngô ở Việt Nam đạt 4,6 tấn/ha (2018), thấp hơn trung bình thế giới (5,75 tấn/ha), vì hơn 80% diện tích ngô ở Việt Nam canh tác trong điều kiện nhờ nước trời, trong đó hơn 60% trên đất dốc, đất chua, đất nhiễm phèn.
Nghiên cứu tác động bảo vệ thận in vitro và in vivo của Sâm Việt Nam và thành phần hoạt tính

Cisplatin là hợp chất có chứa platin để điều trị nhiều loại ung thư mô cứng. Một trong những tác dụng phụ của hợp chất này là độc tính nghiêm trọng trên thận làm giới hạn liều sử dụng của cisplatin. Vì vậy, có nhiều nghiên cứu trên hợp chất tự nhiên để làm làm giảm độc tính của hợp chất này. Theo xu hướng đó, nhóm nghiên cứu của GS. TS. Nguyễn Minh Đức tại trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác động bảo vệ thận in vitro và in vivo của Sâm Việt Nam và thành phần hoạt tính” từ năm 2016 đến năm 2019.
Nghiên cứu công nghệ luyện và đúc thép mangan cao từ sắt xốp để chế tạo búa nghiền quặng sắt và sắt xốp

Sắt xốp là nguyên liệu đang được phổ biến dùng để luyện thép hợp kim trên thế giới, đến nay Việt Nam đã có MIREX, MATEXIM sản xuất được hàng chục ngàn tấn sắt xốp, nhưng rất tiếc, sắt xốp Việt Nam rất khó tiêu thụ vì lý do kỹ thuật và kinh tế. Thép 110Mn13Đ là một mác thép tương đối phổ biến trên thế giới dùng để đúc các chi tiết chịu mài mòn, được đề tài chọn làm đối tượng nấu luyện một mác thép hợp kim nhằm tìm hướng giải quyết bài toán công nghệ luyện và hợp kim hóa sản phẩm ứng dụng sắt xốp đầu tiên tại Việt Nam luyện đúc thép hợp kim cao. Búa nghiền quặng sắt và sắt xốp rất chóng hỏng do độ cứng cao hơn đá, đã được nhiều cơ sở sản xuất, các công nghệ luyện đúc búa cũng đã tương đối ổn định do đó nhóm đề tài đã chọn để thuận lợi trong nghiên cứu tính đúc của thép hợp kim luyện từ sắt xốp và so sánh kết quả nghiên cứu về tổ chức và tính chất hợp kim.
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao khô bán thành phẩm và thuốc Phong tê thấp Bà Giằng

Thuốc Phong tê thấp Bà Giằng là bài thuốc gia truyền đã có cách đây gần 100 năm do bà lang Giằng quê ở huyện Thiệu hóa, Thanh hóa truyền lại từ đời trước. Bài thuốc đã được Giáo sư, TS. Đỗ Tất Lợi dày công nghiên cứu và giới thiệu trong tập sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam (Nhà xuất bản Y học – năm 1969). Thuốc có công dụng điều trị viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa xương khớp, đau thần kinh tọa, thần kinh liên sườn, đau vai gáy, đau nhức xương, mỏi, tê buồn chân tay, sưng các khớp. Thuốc Phong tê thấp bà Giằng đã được Bộ Y tế cấp Giấy đăng ký số: V1664-H12-10 và được đưa vào danh mục thuốc bảo hiểm y tế Việt Nam (Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế).
Nghiên cứu sản xuất pyruvate từ vi khuẩn Halomonas với nguồn carbon từ rong biển Ulva của Việt Nam

Pyruvate là một axit α-oxocarboxylic quan trọng, đóng vai trò trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng ở cơ thể sống. Chúng được sử dụng làm nguồn nguyên liệu ban đầu cho quá trình sinh tổng hợp các dược chất như alanin, L-tyrosine, phenylalanine và L-tryptophan. Bên cạnh đó, chúng cũng được sử dụng trong quá trình sản xuất các thuốc bảo vệ thực vật, polymer, mỹ phẩm, phụ gia thực phẩm và thực phẩm chức năng. Gần đây, chủng vi khuẩn hoang dại Halomonas sp. KM-1 đã được chứng minh là có khả năng tổng hợp lượng lớn pyruvate tương đương với các chủng nấm men đột biến hoặc E. coli tái tổ hợp. Bên cạnh đó, do chi Halomonas thuộc nhóm sinh vật ưa muối với đặc điểm chịu được môi trường có nồng độ muối, pH cao nên khả năng tạp nhiễm trong quá trình nuôi thấp. Nhiều chủng có thể nuôi trồng trong các hệ thống lên men hở, liên tục và không cần khử trùng. Điều này cũng góp phần làm giảm chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, nếu lựa chọn được nguồn carbon rẻ tiền sẽ giúp giảm giá thành nguyên liệu đầu vào.
Trang 1 / 24 |< << >> >|
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo lịch tiếp công dân 6 tháng cuối năm của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức Cuộc thi: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 620
Hôm nay 4.546
Hôm qua 5.081
Tất cả 5.790.292
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!