Thứ Sáu ngày 19/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA VIỆT NAM

Chất lượng sản phẩm - dịch vụ ngày càng đóng một vai trò hết sức to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và sự phát triển bền vững của lĩnh vực ngành nghề kinh doanh. Logistics là một trong những ngành dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới và mỗi quốc gia, logistics quyết định sự lưu thông toàn bộ chuỗi cung ứng sản xuất - phân phối hàng hóa trong nền kinh tế thị trường. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, dịch vụ và chất lượng lượng dịch vụ ngày càng trở lên là một vũ khí cạnh tranh hữu hiệu đảm bảo cho sự thành công của doanh nghiệp. Ngành dịch vụ logistics Việt Nam với tốc độ tăng trưởng khá nhanh từ 14% ÷ 16%/năm và đóng góp khoảng 3% vào GDP của cả nước. Tuy nhiên, chi phí logistics của Việt Nam hiện nay vẫn cao so với thế giới và khu vực, theo thống kê WB năm 2018 (chi phí logistics của Việt Nam từ 20 ÷ 25 % trong GDP, cao hơn các nước phát triển khoảng 9% ÷ 15%), chi phí logistics cao đang là một trong những rào cản lớn ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo mô hình hệ thống điện năng lượng mặt trời theo phương pháp tự động dò bám

Sử dụng nguồn năng lượng sạch là giải pháp góp phần giải quyết hai vấn đề thời sự là bảo vệ môi trường và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng. Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng dồi dào và sạch được chuyển đổi thành điện năng cung cấp cho các thiết bị điện. Năng lượng mặt trời đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi, đặc biệt khi xuất hiện các lo ngại về mức độ an toàn của điện hạt nhân, sự cạn kiệt của các nguồn năng lượng hóa thạch, sự thay đổi dòng chảy và điều kiện tự nhiên của thủy điện cũng như các yếu tố chính trị ảnh hưởng đến an ninh năng lượng của mỗi quốc gia.
Hoàn thiện quy trình sản xuất và phát triển sản phẩm mới chè xanh viên nén phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu

Việt Nam là quốc gia đứng thứ năm thế giới về xuất khẩu chè, nhưng khoảng 90% sản lượng chè của nước ta xuất khẩu ở dạng thô, giá bán thấp và được tiêu thụ dưới thương hiệu của các nhà nhập khẩu. Trong bối cảnh cung vượt cầu, nếu không nâng cao giá trị xuất khẩu, ngành chè sẽ còn phải đối mặt với nhiều thách thức.
Nghiên cứu công nghệ tích hợp hóa sinh chế biến rượu vang chất lượng cao từ quả điều

Năm 2017, lần đầu tiên nước ta vươn lên là nước xuất khẩu điều đứng đầu thế giới với tổng sản lượng xuất khẩu đạt hơn 360 nghìn tấn hạt điều và giá trị đạt hơn 3 tỷ đô la Mỹ. Điều được xem là cây tỷ đô la, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của ngành nông nghiệp nước ta hiện nay. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là hạt điều sau chế biến. Sản phẩm khác được chế biến từ điều là dầu vỏ hạt điều, chiếm tỷ trọng rất thấp. Quả điều gồm hạt điều và cuống điều (hay còn gọi là quả điều giả, trong dân gian gọi là quả điều, ở đề tài này cũng gọi là quả điều). Sau khi thu hoạch lấy hạt điều để chế biến thì phần quả điều đang bị vứt bỏ, vừa lãng phí, vừa gây ô nhiễm môi trường. Ở Việt Nam, điều là cây kinh tế vườn quan trọng trong cơ cấu cây trồng của các tỉnh phía Nam như: Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Gia Lai, Bình Định... với tổng diện tích thu hoạch hơn 300 nghìn hecta, năng suất thu hoạch đạt khoảng 250 nghìn tấn hạt mỗi năm (QĐ579/BNNTT, 2015).
Nghiên cứu cải tiến và hoàn thiện công nghệ chọn tạo, phát triển sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả chủ lực ở Việt Nam

Trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt 76,1% (2014), đặc biệt những năm gần đây lĩnh vực này có bước chuyển dịch tích cực, giảm tỷ trọng nhóm cây lương thực, tăng tỷ trọng nhóm rau, hoa, quả. Giá trị sản xuất toàn ngành trồng trọt giai đoạn 2011-2015 tăng 3,9%, nhưng lĩnh vực rau tăng 5,8%, cây ăn quả tăng 7,4%, cây hoa tăng 11,2%. Việt Nam được đánh giá là nước rất có tiềm năng và nhiều lợi thế trong thị trường thương mại thế giới về lĩnh vực rau, hoa, quả và ngày càng có xu thế tăng mạnh, tuy nhiên giá trị xuất khẩu chiếm tỷ trọng nhỏ. Giá trị thương mại rau, quả, hoa trên toàn cầu đạt trên 150 tỷ USD, giá trị xuất khẩu ngành rau, quả, hoa ở Việt Nam năm 2016 đạt 2,45 tỷ USD, năm 2017 đạt 3,51 tỷ USD, năm 2018 đạt 3,52 tỷ USD. Ở Việt Nam, trong những năm qua đã có nhiều kết quả nghiên cứu có đóng góp tích cực trong lĩnh vực rau, hoa, quả với nhiều nội dung khác nhau như: lai, tạo giống mới, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác, thu hái, bảo quản nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng. Tuy nhiên, những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, kỹ thuật chưa cao, chưa được chú trọng đầu tư, nên chưa tạo ra khối lượng lớn các sản phẩm hàng hóa (là bộ giống, quy trình kỹ thuật), chưa có tính đột phá, khác biệt nhiều và tính ưu việt so với thế giới.
Hoàn thiện công nghệ và thiết bị cơ giới hóa đồng bộ sản xuất mía tại các vùng chuyên canh

Tại Việt Nam, mặc dù diện tích mía lớn, nhà máy đường nhiều nhưng tỷ lệ áp dụng cơ giới hóa (CGH) còn thấp và thiếu đồng đều giữa các vùng nguyên liệu và giữa các khâu trong sản xuất. Nhằm ứng dụng CGH đồng bộ tất cả các khâu trong sản xuất mía tại Việt Nam cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ từ nghiên cứu, triển khai ứng dụng và xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm để nhân rộng.
Nghiên cứu kinh nghiệm chuyển đổi số của các nước và đề xuất xây dựng chiến lược chuyển đổi số cho Việt Nam

Thế giới đang đứng trước tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) với nền tảng là công nghệ số, đang chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số. Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc công nghệ số đã và đang là nền tảng cho sự phát triển các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm phục vụ và nâng cao chất lượng sống của con người. Từ các ngành sản xuất hàng hoá, cho đến dịch vụ thông tin, văn hoá, giải trí, giao thông, y tế đều dần dần được số hoá. Bằng chứng thực tế đã chỉ ra rằng số hóa ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của GDP các quốc gia, tạo việc làm, đổi mới, minh bạch và phân phối hiệu quả dịch vụ công.
Chiến lược biển của một số quốc gia trên thế giới và gợi ý chính sách cho Việt Nam

Tại Việt Nam, biển đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Nằm ở khu vực biển Đông, Việt Nam đang được hưởng những lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên biển rất quan trọng bởi biển Đông là tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á. Ngoài Việt Nam, các quốc gia ven biển Đông còn có Trung Quốc, Philipin, Inđônêxia, Brunei, Malaixia, Singapo, Thái Lan và Campuchia. Biển Đông có trữ lượng dầu khí rất lớn, đặc biệt là các mỏ Bạch hổ, Đại Hùng, Hồng ngọc, Rạng Đông, Cái Nước, Lan Tây…
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa tin học trong việc lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh ở Việt Nam

Địa tin học là khoa học thu thập, quản lý, phân tích, hiển thị và chia sẻ dữ liệu và thông tin địa không gian. Cơ sở dữ liệu và thông tin địa không gian là cơ sở cho công tác quy hoạch bảo vệ môi trường. Trong nhiều nội dung của quy hoạch bảo vệ môi trường như xác định diễn biến sự biến động tài nguyên và môi trường, phân vùng, quy hoạch không gian, phân tích đa tiêu chí, lựa chọn phương án tối ưu v.v… đều cần đến công cụ hoặc dữ liệu thông tin của địa tin học.
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen

Các loại rau quả, hạt (vừng, lạc, đỗ tương) cần thiết không thể thiếu, rất có lợi cho sức khỏe con người. Việc xác định và thu nhận các chất có hoạt tính sinh học có trong nông sản thực phẩm gồm các hợp chất chống ôxy hoá, cũng như các hợp chất có khả năng ức chế, ngăn chặn và chữa được một số bệnh ung thư, cao huyết áp, tiểu đường... đã và đang được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm.
Nghiên cứu phương pháp mới gây đột biến ở ngô bằng xử lí hóa chất EMS trên hạt phấn và câu đột biến có định hướng (TILLING) phục vụ nghiên cứu và chọn giống ngô

Với mục tiêu tạo ra ngân hàng đột biến trên các dòng ngô nội để có thể dùng trực tiếp chọn tạo giống mà không cần backcross; thăm dò và nghiên cứu hoàn thiện công nghệ đột biến hạt phấn của ngô bằng hóa chất EMS trên các dòng ngô bản địa bố mẹ LVN10, VS36 để từ đó xây dựng được ngân hàng đột biến điểm bằng EMS ở ngô trên nền giống của ngô nội và tạo ra 1000 dòng M2 làm cơ sở để tiếp tục triền khai pha II có thể kết hợp với những trung tâm lớn trên thế giới; chọn lọc bằng kiểu hình đột biến từ ngân hàng đột biến đã thực hiện; trồng 1000 M2 families và kiểm tra kiểu hình đột biến dễ nhận biết như trổ cờ sớm, chiều cao cây, góc lá đứng, bắp có đỉnh sinh trưởng loe (fasciation); chọn lọc bằng kiểu gene (TILLING) và đánh giá tiềm năng của các đột biến TILLING trong chọn giống, đánh giá kiểu gene và kiều hình ở thế hệ F2.
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai)

Chi sâm Panax L., họ Ngũ gia bì (Araliaceae) gồm có 15 loài và dưới loài và hầu hết chúng là nguồn dược liệu cho y học cổ truyền như các loại Nhân sâm, Nhân sâm Hoa kỳ, Tam thất, Sâm Nhật bản và Sâm ngọc linh. Dân số tăng nhanh cùng với việc khai thác tài nguyên thực vật quá mức, nguồn cây thuốc thiên nhiên dần bị suy giảm nghiêm trọng. Sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var fuscidiscus K. Komatsu, S. Zhu & S.Q. Cai) có tên gọi khác là Tam thất hoang Mường Tè; Tam thất rừng; Tam thất đen. Năm 2003, Sâm Lai Châu lần đầu tiên được ghi nhận ở Vân Nam, Trung Quốc và công bố bởi Zhu và các cộng sự. Các tác giả đã mô tả đó là một thứ mới của Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv).
Nghiên cứu chế tạo KIT phát hiện nhanh Aflatoxin B1 trong thức ăn chăn nuôi và Aflatoxin M1 trong sữa tươi

Việt Nam là một nước nhiệt đới với khí hậu nóng ẩm nên sẽ là điều kiện thuận lợi cho các loài nấm mốc phát triển, trong đó có loài Aspergillus flavus có khả năng sinh độc tố Aflatoxin cao. Do đó, nguy cơ nhiễm độc tố này trong chuỗi các sản phẩm nông sản, thức ăn chăn nuôi, sữa và các sản phẩm từ vật nuôi là rất cao. Vì Aflatoxin là một độc tố nguy hiểm nên việc kiểm tra sự có mặt của độc tố này trong các sản phẩm nêu trên là rất cần thiết.
Thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ

6 tháng đầu năm, ngành Công Thương đã tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ, nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ.
Ứng dụng công nghệ sinh học đa dạng hóa sản phẩm từ nấm

Hiện nay, các nhà khoa học đã và đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ ngành y sinh và thực phẩm. Trong đó, nhiều công trình nghiên cứu đã cho ra đời các loại sản phẩm từ nấm, góp phần đa dạng hoá các sản phẩm cũng như nâng cao chất lượng và giá trị loại nông sản này.​​
Nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với biến đổi khí hậu

Ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam với diện tích 1,099 triệu ha, năng suất 4,67 tấn/ha và sản lượng đạt 5,13 triệu tấn. Cây ngô đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực, an ninh dinh dưỡng và làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, dược phẩm, công nghiệp nhẹ và thức ăn chăn nuôi. Mặc dù cây ngô đã có những bước tiến về giống, canh tác, diện tích và sản lượng, nhưng tình hình sản xuất ngô cũng như thị trường giống ngô trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn do biến đối khí hậu, diện tích canh tác giảm và sự cạnh tranh từ các tập đoàn đa quốc gia.
Nano Selen có vai trò như một Auxin mới trong ra rễ thực vật nuôi cấy in vitro

Nhóm nghiên cứu của GS.TS. Dương Tấn Nhựt, Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên đã có công bố trên tạp chí ISI uy tín (Q1) về vai trò mới của nano selen trong việc ra rễ của cây trồng trong nuôi cấy in vitro. Đây là công bố đầu tiên trên thế giới về tác dụng nano selen lên khả năng ra rễ của cây trồng nuôi cấy in vitro và có thể xem đây là một auxin mới (hay là Phytohormone mới). Kết quả của nghiên cứu này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong các nghiên cứu về sinh lý thực vật.
Quy trình kích tăng tỷ lệ hoa cái trên cây sacha inchi Plukenetia volubilis

Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu một số biện pháp trồng và thử nghiệm sơ chế hạt cây sacha inchi (Plukenetia volubilis) tại các huyện thuộc TP Hồ Chí Minh và vùng phụ cận”, nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã nghiên cứu và áp dụng thành công quy trình kích tăng tỷ lệ hoa cái trên cây sacha inchi Plukenetia volubilis.
Mở rộng tiềm năng kinh tế của Sacha inchi dựa trên khoa học và công nghệ

Sacha inchi được coi là loại cây “siêu thực phẩm” do chứa nhiều protein, axit béo, vitamin và khoáng chất. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy loại cây này có khả năng thích ứng tốt với một số vùng đất của Việt Nam. Đặc biệt, các nhà khoa học của Việt Nam đã nghiên cứu và xây dựng thành công quy trình kích tăng tỷ lệ hoa cái của Sacha inchi, qua đó giúp tăng năng suất đáng kể đối với loại cây này.
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu cacbon cấu trúc nano trong việc nâng cao các tính chất cơ học của lớp mạ điện công nghiệp

Ngành công nghiệp xi mạ ngày càng đóng vai trò quan trọng và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực để tạo ra lớp phủ bảo vệ bề mặt kim loại khỏi các tác nhân bên ngoài. Nhiều công trình đã bị ăn mòn và hư hỏng nặng sau 20 - 25 năm sử dụng, thậm chí nhiều kết cấu bị phá hủy nặng nề chỉ sau 10 - 15 năm sử dụng nguyên nhân chủ yếu do hiện tượng ăn mòn cốt thép gây ra. Thiệt hại do ăn mòn bê tông cốt thép gây ra rất nghiêm trọng, chi phí cho sửa chữa, khắc phục hậu quả ăn mòn có thể chiếm tới 30 - 70% mức đầu tư xây dựng công trình. Các thiệt hại sẽ không thể phục hồi được nếu không kiểm soát được hiện tượng ăn mòn và mài mòn.
Trang 2 / 27 |< << >> >|
Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 4.607
Hôm nay 2.959
Hôm qua 12.115
Tất cả 6.230.056
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!