Thứ Sáu ngày 19/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai

NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO THỬ NGHIỆM MÀNG LỌC POLY (ETE SUNPHON) (PES) DẠNG SỢI RỖNG ỨNG DỤNG TRONG XỬ LÝ NƯỚC VÀ NƯỚC THẢI

Nước sạch là một trong những yếu tố thiết yếu để duy trì sự sống của con người và các sinh vật. Do vậy, đảm bảo chất lượng môi trường nước là một vấn đề quan trọng. Công nghệ màng lọc đã được ứng dụng rộng rãi trong các quá trình xử lý nước, loại bỏ các chất gây ô nhiễm, chất rắn lơ lửng một cách có hiệu quả, mà không sử dụng hóa chất hoặc phụ gia độc hại và ít tổn hao năng lượng hơn các phương pháp thông thường. Trong hai thập niên trở lại đây, màng lọc nói chung và màng vi lọc, siêu lọc nói riêng đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như xử lý nước thải, tách loại chất tan, tinh chế các chất hòa tan… Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của việc ứng dụng rộng rãi màng lọc là thời gian sử dụng của màng chưa cao, cũng như sự tắc nghẽn màng xảy ra dẫn đến giảm hiệu suất của màng lọc. Màng lọc có thể được chế tạo từ các vật liệu gốc hữu cơ hoặc vô cơ, tuy nhiên hiện nay hầu hết các nghiên cứu về vật liệu màng lọc đều xuất phát từ vật liệu polyme do các tính chất phù hợp (độ bền cơ lý, độ bền hóa chất và tính mềm dẻo) có thể kể đến như: polysunphon, poly (ete sunphon) (PES), Poly (vinyliden diflorit) (PVDF), polypropylen, polyetylen,..., trong đó các vật liệu màng chế tạo từ các polyme có các nhóm chức năng đã thu hút được nhiều sự chú ý
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật chính đến sinh trưởng rừng trồng 3 dòng bạch đàn (CT3, PN10, CTIV) và 2 dòng keo lai (KL20, KLTA3)

Năng suất rừng trồng trong những năm qua đã được nâng cao đáng kể nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật. Bên cạnh những giống mới bạch đàn và keo được chọn tạo, hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như làm đất, bón phân và mật độ trồng rừng phù hợp cũng đã được nghiên cứu nhằm từng bước hoàn thiện quy trình trồng rừng cho các giống mới đó, góp phần đưa năng suất, chất lượng rừng trồng lên cao nhất.
Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị hàn Orbital tự động

Trên thế giới, thiết bị hàn Orbital đã được nghiên cứu và ứng dụng từ những năm 80 của thế kỷ XX nhằm tự động hóa quá trình hàn nối ống ở các vị trí khó thực hiện trong không gian, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, giảm giá thành chế tạo và tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và để thay thế và hỗ trợ thực hiện ở các vị trí hàn khó, nguy hiểm, điều kiện thao tác của người thợ bị hạn chế hoặc bị ảnh hưởng. Thiết bị hàn Orbital chủ yếu được nhập về Việt Nam từ các nước có nền công nghiệp phát triển để ứng dụng vào quá trình sản xuất các sản phẩm dạng ống. Quá trình hàn ống truyền thống chủ yếu được thực hiện thủ công nên yêu cầu tay nghề thợ hàn là rất cao. Điều này làm tiến độ thực hiện công việc, hiệu quả sản xuất, tính cạnh tranh của doanh nghiệp giảm, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tăng lên. Quá trình thi công hoặc sửa chữa các đường ống hoặc hệ thống đường ống (dàn ống) gồm nhiều ống bố trí gần nhau bằng phương pháp hàn gặp rất nhiều khó khăn do ống thường đặt cố định, không gian tiếp cận bị hạn chế, vị trí hàn không thuận lợi, ở vị trí khó thực hiện như dưới lòng đất, dưới nước hoặc trên không….
Nghiên cứu công nghệ in lưới và chế tạo thiết bị in 06 màu tự động phục vụ ngành công nghiệp may

Quá trình khảo sát thấy rằng, các thiết bị in lưới đang được cung cấp bởi một số hãng sản xuất trên thế giới. Kiểu dáng, chất lượng và giá thành của thiết bị in lưới cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu và mục đích sử dụng của khách hàng. Xét về điều khiển, các thiết bị in lưới có 02 dạng đó là bán tự động và tự động: làm việc dạng dây truyền và dạng quay theo chu kỳ, số lượng màu in tối đa là 06 màu, số lượng sản phẩm trên một lần in là 01 sản phẩm. Giá thành sản phẩm của thiết bị in lưới ngoại nhập đắt, bộ điều khiển kín, khó can thiệp. Các tài liệu khoa học sử dụng cho nghiên cứu và thông tin về thiết bị in lưới còn rất hạn chế. Trước đây, nhu cầu sử dụng các sản phẩm của quá trình in lưới không quá lớn nên in lưới chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp thủ công. Đây là phương pháp làm truyền thống sử dụng nguồn lao động nông nghiệp dôi dư, nên năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm không ổn định. Thiết bị in lưới tại các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về kiểu dáng và khả năng tự động hóa, năng suất thấp, chất lượng in các sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề người công nhân và đặc biệt khả năng mở rộng quy mô còn hạn chế.
Dự án SXTN: hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất vắc xin bại liệt bất hoạt ở quy mô công nghiệp

Thuộc Dự án KHCN: Nghiên cứu phát triển sản phẩm vắc xin Bại liệt bất hoạt MÃ SỐ: SPQG.05a.03) Cơ quan chủ trì dự án: Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS. Đặng Mai Dung.
Xây dựng hệ thống thông minh hiểu biết môi trường xung quanh ứng dụng cho xe tự hành ngoài trời

Nhóm nghiên cứu do Cơ quan chủ trì Đại học Quảng Bình cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài Hoàng Văn Dũng thực hiện Đề tài “Xây dựng hệ thống thông minh hiểu biết môi trường xung quanh ứng dụng cho xe tự hành ngoài trời”, với mục tiêu nghiên cứu các kỹ thuật phân tích hình ảnh và các dữ liệu liên quan, các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo nhằm đề xuất giải pháp xử lý ước lượng chuyển động, nhận dạng hiểu biết môi trường xung quanh hỗ trợ trong hệ thống giao thông thông minh, đặc biệt là các hệ thống xe tự hành ngoài trời.
Nghiên cứu xây dựng hệ thống tích hợp viễn thám, GIS và mô hình toán trong đánh giá biến đổi khí hậu khu vực phía Nam Việt Nam

Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu (BĐKH) trong nước và quốc tế cho khu vực Việt Nam nói chung đã tập trung nhiều vào nghiên cứu xây dựng các kịch bản BĐKH và nước biển dâng dựa trên các dự báo phát thải khí nhà kính. Cùng với các nghiên cứu này là các nghiên cứu đánh giá tổn thương theo các kịch bản. Các kịch bản “BĐKH hiện nay cũng như cho thế kỷ 21 phụ thuộc chủ yếu vào mức độ phát thải khí nhà kính, tức là phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, các kịch bản BĐKH được xây dựng dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế xã hội toàn cầu” và các kịch bản này đã được cập nhật và hoàn thiện vào các năm 2010 và 2015 và mới đây nhất Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cập nhật kịch bản BĐKH cho năm 2016 cho Việt Nam, dựa vào các bổ sung về nguồn dữ liệu và các điều kiện khí hậu cụ thể của Việt Mam. Như vậy cho tới nay vẫn đang có những nghiên cứu bổ sung nhằm làm rõ mối quan hệ hoạt động kinh tế - xã hội với BĐKH, thể hiện qua các thay đổi bề mặt đất (sử dụng đất, 3 thực phủ) nhằm làm cơ sở khoa học tốt hơn cho các kịch bản và dự báo BĐKH cho tương lai.
Hỗ trợ thương mại hóa công nghệ sản xuất và sản phẩm sữa gạo ecorice quy mô công nghiệp

Từ bao đời nay, gạo luôn được coi là nguồn dinh dưỡng cơ bản không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người Châu Á. Hiện nay, ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm từ gạo đang bùng nổ trên thế giới, đặc biệt là nhóm ngành đồ uống ngũ cốc. Việt Nam tuy đang đứng đầu về xuất khẩu về lúa gạo trên thế giới, các sản phẩm chế biến từ hạt gạo còn hạn chế về số lượng. Về mặt vĩ mô, các thành phần trong chuỗi giá trị lúa gạo gồm đầu mối thu gom (nông dân, thương lái, hàng xáo, lái lúa) hiện chiếm tới trên 90% lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long; nhà máy xay chà đánh bóng và các doanh nghiệp xuất khẩu gạo chưa tạo ra mối liên kết dọc trong chuỗi giá trị lúa gạo. Thị trường gạo trong nước được rất ít doanh nghiệp đầu tư, chủ yếu do tư thương, hàng xáo nhỏ lẻ nắm giữ, chất lượng dịch vụ thấp, không đồng đều. Trên thị trường xuất khẩu, gạo Việt Nam xuất khẩu không có thương hiệu nên không tạo ra giá trị gia tăng.
Nghiên cứu sự phân bố, nơi ở, dinh dưỡng và sinh thái học sinh sản của cá thòi lòi nước ngọt Periophthalmodon septemradiatus ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam

Nhóm nghiên cứu tại Trường Đại học Cần Thơ do TS. Đinh Minh Quang làm chủ nhiêm, đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự phân bố, nơi ở, dinh dưỡng và sinh thái học sinh sản của cá thòi lòi nước ngọt Periophthalmodon septemradiatus ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam” trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2019.
Nghiên cứu, chế tạo chất chuẩn thành phần dư lượng chất Acrylamide nhằm đảm bảo đo lường cho các thiết bị thử nghiệm kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

Đo lường Hóa học là một lĩnh vực khoa học không thể thiếu đối với các ngành công nghiệp, cũng như cả nền kinh tế của một quốc gia. Các nước tiên tiến trên thế giới đã có hệ thống chuẩn đo lường quốc gia đạt trình độ cao, việc duy trì chuỗi liên kết chuẩn của họ đã rất phát triển nên rất dễ dàng trong việc tham gia vào MRA (Mutual Recognition Arrangement). Thực tiễn tại nhiều nước công nghiệp tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Anh, Đức, Pháp... hay trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc... cho thấy họ có những bước đi tích cực để phát triển lĩnh vực đo lường, để đo lường phục vụ một cách đắc lực nền kinh tế xã hội. Trong thời gian vừa qua, Cơ quan An toàn thực châu Âu (EFSA) đã đưa ra cảnh báo về việc phát hiện một chất có tên là acrylamide có khả năng gây ung thư được tìm thấy trong bim bim, cà phê, khoai tây chiên, bánh mì nướng bị cháy và một số loại thức ăn nhanh của trẻ em gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Năm 2010, Tổ chức Nông Lương Liên hợp của Mỹ và Ủy ban Chuyên gia về phụ gia thực phẩm của Tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng đã đề cập đến acrymilade như một quan ngại chính thức cho sức khỏe cộng đồng. Năm 2013, Ủy ban Các tiêu chuẩn thực phẩm của Anh (FSA) từng phát hiện mức acrylamide tăng cao trong các thực phẩm chiên, bim bim khoai tây, khoai tây chiên, bánh quy gừng và bột ngũ cốc ăn sáng. Tại Mỹ, Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA) đã có quy định áp dụng chặt chẽ cho các loại nước uống có chứa acrylamide.
Nghiên cứu ứng dụng vi mạch LattePanda trong chế tạo thiết bị hạt nhân di động

Hầu hết các thiết bị hạt nhân hiện nay ngoài phần mềm điều khiển thiết bị thì còn đi kèm phần mềm chỉ thị, xử lý dữ liệu trên máy tính PC. Điều này có thể làm cho thiết bị nhỏ gọn, linh hoạt, tuy nhiên trong các điều kiện phục vụ trực tiếp ngoài hiện trường thì dường như nó lại làm tăng thêm sự cồng cềnh, phức tạp của hệ thiết bị, đặc biệt là những điều kiện hiện trường phức tạp.
Ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao và ớt đạt tiêu chuẩn VietGAP tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

Từ năm 2016 đến năm 2019, nhóm nghiên cứu tại Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế do KS. Nguyễn Tuấn làm chủ nhiệm, đã thực hiện đề tài: “Ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao và ớt đạt tiêu chuẩn VietGAP tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Nghiên cứu sản xuất vải dệt thoi có độ đàn hồi ngang cao từ sợi len pha polyeste

Hiện nay, các sản phẩm may mặc thời trang đã trở thành những mặt hàng có giá trị cao và phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Trong đó mặt hàng vải pha len PES/Wool có tính đàn hồi cho may mặc có nhu cầu rất cao, vải len hay len pha chủ yếu dùng cho hàng may mặc ngoài. Chính vì vậy, khách hàng quan tâm đến sự tiện nghi của sản phẩm như thoải mái khi mặc, cũng như một số tính năng khác. Do đó, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường tiêu dùng về sản phẩm may mặc ngoài cần phải có nhiều nghiên cứu nhằm nâng cao tính tiện nghi của sản phẩm dệt may. Vải dệt từ nguyên liệu xơ sợi len 100% có giá thành cao bởi len là một trong những nguyên liệu dệt rất đắt, nhưng chưa thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng. Việc pha trộn xơ sợi len với các loại xơ sợi khác nhằm cả hai mục đích là kinh tế và tiện nghi. Cho đến nay, vải dệt thoi có đàn tính đã và đang nghiên cứu phát triển đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.
Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy tráng men bán tự động dùng sản xuất sứ dân dụng cao cấp

Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm là vấn đề sống còn của các nhà sản xuất. Đối với việc sản xuất sứ dân dụng cao cấp, tự động hóa dây chuyền sản xuất góp phần rất lớn để nâng cao năng suất, tăng chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Trong công nghệ sản xuất gốm sứ dân dụng của nước ta hiện nay nhìn chung phần lớn vẫn hoạt động theo hình thức thủ công, máy móc hỗ trợ đơn lẻ, không mang tính liên tục. Chính vì vậy năng suất lao động, chất lượng sản phẩm vẫn phụ thuộc chủ yếu vào con người, dẫn tới chất lượng sản phẩm sứ không đồng đều, năng suất còn thấp. Hiện nay, công đoạn tráng men hầu hết các thao tác như: rửa nước, rội tráng men, vận chuyển bát mộc ra vào bệ tráng… Được thực hiện bởi công nhân với năng suất thấp (1 sản phẩm/lần tráng) và chất lượng không đồng đều do phụ thuộc vào nhân công lao động. Mặt khác việc đầu tư hệ thống tráng men bán tự động và tự động, hạn chế mức tối đa sự can thiệp của con người vẫn là một vấn đề hết sức khó khăn với các cơ sở sản xuất bởi chúng đòi hỏi một sự đầu tư tương đối lớn. Chính vì vậy, nhằm tiếp cận được công nghệ, thệ thống thiết bị tráng men tự động; làm chủ việc chế tạo máy tráng men bán tự động giúp cho các sản phẩm sứ dân dụng được tráng men nhanh hơn, chất lượng đồng đều hơn - Cần nghiên cứu, chế tạo máy tráng men tự động với giá thành hợp lý nhằm thúc đầy sự phát triển của ngành sản xuất sứ dân dụng, tăng khả năng cạnh tranh của sản gốm sứ trên thị 4 trường.
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình dây chuyền bốc xếp hàng hóa tự động có khả năng ứng dụng trong công nghiệp

Có nhiều dây chuyền công nghệ tiên tiến của nước ngoài đã được chuyển giao thành công ở nhiều đơn vị sản xuất trong nước. Việc chuyển giao công nghệ nhằm mục đích cải tạo các dây chuyền công nghệ lạc hậu, tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và nhu cầu xuất khẩu. Hiện nay, việc chuyển giao công nghệ không còn chỉ là chuyển giao những dây chuyền công nghệ của nước ngoài, mà các đơn vị khoa học kỹ thuật trong nước cũng đã tham gia nhiệt tình trong việc chuyển giao những dây chuyền công nghệ với giá thành rẻ. Các dây chuyền công nghệ sản xuất hiện nay đã được tự động hoá lên tới 90% từ đầu vào đến đầu ra. Tuy nhiên ở khâu bốc xếp - đóng gói vẫn còn nhiều doanh nghiệp đang thực hiện thủ công với lực lượng công nhân lớn, việc bốc xếp thủ công cũng là nguyên nhân gây ra các hư hỏng cho sản phẩm, hàng hóa. Một ví dụ điển hình ở công ty kính nổi Viglacera vẫn còn cho thực hiện thủ công với lực lượng 27 công nhân làm việc 3 ca 4 kíp. Đối với công nhân đây là khâu làm việc vất vả nhất, mỗi ngày dây chuyền sản xuất được 310 - 350 tấn sản phẩm, và mỗi người công nhân phải bốc xếp khoảng trên 10 tấn sản phẩm.
Nghiên cứu, xây dựng quy trình công nghệ và sản xuất vải dệt kim từ sợi Acrylic siêu mịn (đường kính xơ Acrylic < 1 Dtex)

Vải dệt không chỉ đáp ứng yêu cầu may mặc thông thường của người tiêu dùng mà còn đáp ứng các yêu cầu liên quan đến sự thoải mái khi mặc. Các loại xơ truyền thống có nguồn gốc từ thực vật như xơ bông, lanh, đay, gai,... chỉ đáp ứng được phần nào đòi hỏi của người tiêu dùng, chính vì thế các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu phát minh và tổng hợp ra các loại xơ sợi tổng hợp. Xơ sợi tổng hợp tuy đã khắc phục được một số nhược điểm của xơ sợi tự nhiên nhưng vẫn có một số nhược điểm nhất định ví dụ như xơ sợi acrylic truyền thống khi sản xuất, thiết kế ra các trang phục quần áo sát da bị thô ráp tạo cảm giác khó chịu cho người mặc… Để khắc phục nhược điểm đó các nhà nghiên cứu đã cải tiến và hạn chế nhược điểm của xơ sợi truyền thống nhằm đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng. Trong số các nguyên liệu xơ sợi tổng hợp đó phải kể đến nguyên liệu Acrylic siêu mịn. Acrylic siêu mịn pha với các nguyên liệu khác như bông, viscose, len,... Khi Acrylic siêu mịn pha với viscose (kết hợp với đặc tính ưu việt của Acrylic siêu mịn) để sản xuất ra các sản phẩm dệt may có các đặc tính vượt trội.
Nghiên cứu xây dựng và ứng dụng quy trình xác định các hợp chất clo hóa vòng thơm (clobenzen và clotoluen hóa) (tổng số 21 hợp chất)

Hiện nay, xã hội đang ngày càng trở nên có ý thức đối với các hoạt động xanh, không độc hại và thân thiện môi trường. Xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng được mở rộng đối với hàng dệt may, da giầy. Các sản phẩm được quan tâm nhất là các sản phẩm có xu hướng tiếp xúc trực tiếp và kéo dài với da hoặc có thể tiếp xúc bằng đường miệng như quần áo, giày dép, chăn, ga giường, khăn mặt, đồ chơi và các sản phẩm chăm sóc em bé... Vì vậy, cần phải có các phương pháp xác định các chất có mối nguy hại cao trong các sản phẩm dệt may, da giầy với mục tiêu bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và an toàn sinh thái. Từ đó, nhóm nghiên cứu tại Công ty Cổ phần-Viện Nghiên cứu Dệt May do ThS. Lê Văn Hậu làm chủ nhiệm, đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu xây dựng và ứng dụng quy trình xác định các hợp chất clo hóa vòng thơm (clobenzen và clotoluen hóa) (tổng số 21 hợp chất)" trong vòng 2 năm từ 2017 đến 2018.
Nghiên cứu đề xuất các mô hình, giải pháp công nghệ khai thác và bảo vệ phát triển bền vững nguồn nước Karst phục vụ cấp nước sinh hoạt tại các vùng núi cao, khan hiếm nước khu vực Bắc Bộ

Vùng núi cao karst khan hiếm nước khu vực phía Bắc là khu vực phân bố các thành tạo Carbonat có tính hòa tan cao, nên có khả năng hình thành các hệ thống khe nứt, hang hốc karst tạo điều kiện thấm nước tốt. Tuy nhiên, do có địa hình cao, phân cắt mạnh, sâu và dốc làm cho khả năng tàng trữ nước kém do bị thoát rất nhanh theo hệ thống khe nứt, hang hốc karst ra mạng lưới xâm thực địa phương tạo nên sự khan hiếm nước rất nghiêm trọng, gây khó khăn cho đời sống của nhân dân.
Nghiên cứu công nghệ sản xuất sản phẩm tất cho người bị bệnh suy tĩnh mạch

Bệnh suy tĩnh mạch mãn tính là một bệnh rất phổ biến trên thế giới. Tại Mỹ hơn 80 triệu người mắc bệnh liên quan đến tĩnh mạch và hơn 60% người mắc bệnh này ở tuổi trưởng thành. Ở các nước châu Á tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh suy tĩnh mạch cũng đã tăng lên do sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi nếp sống. Ở Nhật Bản tỷ lệ mắc bệnh hơn 40%, thấp hơn so với Mỹ và châu Âu nhưng cao hơn so với châu Phi.
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật siêu âm trong sản xuất chất màu tự nhiên từ trái thanh long

Việt Nam là một trong những nước có diện tích và sản lượng thanh long lớn nhất châu Á và cũng là nước xuất khẩu thanh long hàng đầu thế giới. Theo Hiệp Hội Rau Quả Việt Nam, Việt Nam có 35.665 ha diện tích trồng thanh long với tổng sản lượng đạt khoảng 614.246 tấn. Trong đó, thanh long hiện đang được trồng trên 32 tỉnh thành, nhưng phát triển mạnh thành các vùng chuyên canh quy mô lớn tập trung ở các tỉnh như Bình Thuận, Tiền Giang và Long An; trong đó, diện tích thanh long của ba tỉnh này chiếm 93% tổng diện tích và 95% sản lượng của cả nước. Tuy có vùng nguyên liệu rộng lớn nhưng ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ trái thanh long chưa phát triển.
Trang 24 / 27 |< << >> >|
Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 4.390
Hôm nay 2.743
Hôm qua 12.115
Tất cả 6.229.840
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!