Thứ Ba, 14/7/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Phổ biến pháp luật
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 07/11/2019

Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Phát triển toàn diện, hiệu quả hệ thống sở hữu trí tuệ Việt Nam
Cuối tháng 8/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1068/ QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ (SHTT) đến năm 2030. Đây là lần đầu tiên Việt Nam ban hành một chiến lược mang tầm quốc gia về SHTT, đánh dấu bước phát triển mới trong lĩnh vực SHTT, khẳng định SHTT là công cụ quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo cũng như phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh chủ trì phiên họp xây dựng Chiến lược.
SHTT - công cụ quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội

Bảo hộ quyền SHTT có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và xã hội bằng các sản phẩm sáng tạo, các hàng hóa, dịch vụ mới có chất lượng và tính năng đa dạng. Việc bảo hộ quyền SHTT hiệu quả cũng góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, qua đó đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế.

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động SHTT trên thế giới ngày càng mở rộng phạm vi, không chỉ giới hạn ở các vấn đề truyền thống liên quan đến xác lập và bảo vệ quyền SHTT, mà đã hướng đến đẩy mạnh các hoạt động thúc đẩy sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ. Theo đó, bên cạnh việc liên tục hoàn thiện các thủ tục xác lập quyền SHTT theo hướng thuận lợi, nhanh chóng, công bằng, minh bạch, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền SHTT, các nước cũng ban hành và thực hiện nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khai thác tài sản trí tuệ, mở rộng các dịch vụ SHTT, tăng cường hội nhập quốc tế thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Trải qua chặng đường gần 40 năm hình thành và phát triển, đến nay hệ thống SHTT của Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ (KH&CN), sự thay đổi nhanh chóng của các mô hình kinh doanh, yêu cầu của công cuộc hội nhập quốc tế... đòi hỏi hệ thống SHTT cũng phải có các định hướng, mục tiêu phát triển phù hợp.

Để phát triển được một hệ thống SHTT đáp ứng được các yêu cầu đặt ra, chúng ta phải đối mặt với những thách thức nhất Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Phát triển toàn diện, hiệu quả hệ thống sở hữu trí tuệ Việt Nam Nguyễn Văn Bảy Trưởng phòng Pháp chế và Chính sách, Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN Cuối tháng 8/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1068/ QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ (SHTT) đến năm 2030. Đây là lần đầu tiên Việt Nam ban hành một chiến lược mang tầm quốc gia về SHTT, đánh dấu bước phát triển mới trong lĩnh vực SHTT, khẳng định SHTT là công cụ quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo cũng như phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh chủ trì phiên họp xây dựng Chiến lược. 9 Soá 10 naêm 2019 Diễn đàn khoa học và công nghệ định như: những vấn đề đặt ra từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (mở rộng đối tượng bảo hộ quyền, thiết lập các tiêu chuẩn bảo hộ mới, các hình thức xâm phạm quyền mới...); các tiêu chuẩn bảo hộ cao theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia... Tuy nhiên, chúng ta cũng có những thuận lợi lớn để phát triển hệ thống SHTT, đặc biệt trong số đó là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề SHTT, thể hiện ở việc có các chính sách nhất quán về bảo hộ, khai thác quyền SHTT, hướng tới thiết lập môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo, ứng dụng KH&CN tiên tiến, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh. Gần đây nhất (ngày 22/8/2019), Thủctướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược SHTT đến năm 2030, đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực SHTT, khẳng định SHTT là công cụ quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo cũng như phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.

Phát triển toàn diện, hiệu quả hệ thống SHTT Việt Nam

Chiến lược SHTT đến năm 2030 được Bộ KH&CN phối hợp với các bộ, ngành liên quan (Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công Thương; Y tế; Thông tin và Truyền thông; Giáo dục và Đào tạo…) và sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) xây dựng. Chiến lược định hướng sự phát triển của hệ thống SHTT Việt Nam đến năm 2030 là phát triển hệ thống SHTT đồng bộ, hiệu quả ở tất cả các khâu sáng tạo, xác lập, khai thác và bảo vệ, thực thi quyền SHTT, tạo môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, đưa SHTT trở thành công cụ quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; chính sách SHTT là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia và các ngành, lĩnh vực; hoạt động SHTT có sự tham gia tích cực của tất cả các chủ thể trong xã hội, trong đó viện nghiên cứu, trường đại học, các cá nhân hoạt động sáng tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra và khai thác tài sản trí tuệ.

Trên cơ sở các định hướng nêu trên, Chiến lược đặt ra 5 nhóm mục tiêu phấn đấu đạt được, cụ thể là: 1) Đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu ASEAN về trình độ sáng tạo, bảo hộ và khai thác quyền SHTT; 2) Việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng bảo đảm nhanh chóng, minh bạch, công bằng, đáp ứng kịp thời yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội; 3) Hiệu quả thực thi pháp luật SHTT được nâng cao rõ rệt, tình trạng xâm phạm quyền SHTT giảm đáng kể; 4) Tài sản trí tuệ mới của cá nhân, tổ chức Việt Nam gia tăng cả về số lượng và chất lượng, cải thiện vượt bậc các chỉ số về SHTT của Việt Nam trong chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII). Ở mục tiêu này, các chỉ tiêu định lượng về số đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp/quyền đối với giống cây trồng của cá nhân, tổ chức Việt Nam cũng được xác định rõ, ví dụ như: số lượng đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16-18%/năm, số lượng đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp tăng trung bình 6-8%/năm, số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu tăng trung bình 8-10%/năm; số lượng đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng tăng Chiến lược đặt mục tiêu số lượng đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16-18% mỗi năm 10 Soá 10 naêm 2019 Diễn đàn Khoa học và Công nghệ trung bình 12-14%/năm, 10-12% trong số đó được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài... Đây là các chỉ tiêu định lượng có thể tác động tới kết quả xếp hạng của Việt Nam trong Bảng xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, đồng thời cũng sẽ là một trong các tiêu chí thể hiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống SHTT quốc gia; 5) Hiệu quả sử dụng quyền SHTT được nâng cao và gia tăng đáng kể số lượng sản phẩm có hàm lượng SHTT cao như: tỷ lệ sáng chế được khai thác thương mại đạt 8-10% số sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ; có ít nhất 1-2 giống cây trồng được khai thác quyền ở nước ngoài; phát triển một số ngành công nghiệp có mức độ sử dụng tài sản trí tuệ cao; phấn đấu đến năm 2030 doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên quyền tác giả, quyền liên quan đóng góp khoảng 7% GDP…

Để đạt được các mục tiêu đề ra, Chiến lược đưa ra một số nhóm nhiệm vụ, giải pháp cần triển khai thực hiện như: hoàn thiện chính sách, pháp luật về SHTT; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về SHTT; tập trung đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi quyền SHTT; thúc đẩy các hoạt động tạo ra tài sản trí tuệ; khuyến khích, nâng cao hiệu quả khai thác tài sản trí tuệ; phát triển các hoạt động hỗ trợ về SHTT; tăng cường nguồn nhân lực cho hoạt động SHTT; hình thành văn hóa SHTT trong xã hội, và tích cực, chủ động hợp tác và hội nhập quốc tế về SHTT. Trong đó, mỗi nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm nhiều nhiệm vụ và giải pháp cụ thể và đều cần có sự tham gia tích cực của tất cả các chủ thể trong hệ thống SHTT. Cụ thể, các cơ quan quản lý nhà nước cần phát huy mạnh vai trò tạo dựng cơ chế, chính sách thuận lợi, minh bạch để các chủ thể sáng tạo và khai thác quyền SHTT phát huy tối đa năng lực đổi mới sáng tạo của mình. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về SHTT phải được kiện toàn theo hướng kiến tạo và hiệu quả; xác định, củng cố các đầu mối chuyên trách về SHTT tại các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan ở trung ương và địa phương; đẩy mạnh cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý nhà nước về SHTT. Trình tự, thủ tục hành chính về SHTT được công khai, minh bạch, đơn giản hóa, hiện đại hóa. Hệ thống cơ sở dữ liệu về SHTT được xây dựng liên thông và kết nối đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền SHTT cần được nâng cao rõ rệt thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ quyền, tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền SHTT, đặc biệt trong môi trường kỹ thuật số và tại biên giới; nâng cao hiệu quả công tác điều tra các vụ án hình sự về SHTT…

Bên cạnh đó, theo xu hướng phát triển của thế giới, Chiến lược cũng vượt ra khỏi phạm vi truyền thống của hoạt động SHTT (tập trung chủ yếu vào hoạt động xác lập và bảo vệ quyền SHTT) khi xác định rõ hơn các nhiệm vụ, giải pháp để thúc đẩy hoạt động tạo ra và khai thác tài sản trí tuệ như: xây dựng, cung cấp các công cụ và dịch vụ thông tin SHTT, bản đồ công nghệ cho các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp; sử dụng các chỉ số đo lường về SHTT làm căn cứ đánh giá hiệu quả hoạt động của các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; hình thành và phát triển mạng lưới trung tâm chuyển giao công nghệ và SHTT tại các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; đẩy mạnh thực hiện cơ chế, chính sách phát triển các ngành công nghiệp có mức độ sử dụng tài sản trí tuệ cao, tạo ra các sản phẩm có uy tín và chất lượng, thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá có hàm lượng SHTT cao; hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh sử dụng công cụ SHTT trong hoạt động sản xuất kinh doanh; phát triển thị trường tài sản trí tuệ lành mạnh theo hướng: mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ trung gian để tăng cường kết nối cung cầu về tài sản trí tuệ; đẩy mạnh hoạt động đánh giá, định giá tài sản trí tuệ... Ngoài ra, hình thành văn hóa SHTT là một nhiệm vụ, giải pháp lần đầu tiên được đề cập tới, một hệ thống SHTT vận hành hiệu quả chỉ khi cả xã hội có ý thức tôn trọng và bảo vệ quyền SHTT.

Chiến lược sẽ là kim chỉ nam để các bộ, ngành, địa phương chủ động lồng ghép nội dung SHTT vào hoạt động quản lý nhà nước, từ đó triển khai thực hiện hoạt động SHTT một cách hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và từng ngành, lĩnh vực nói riêng.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Tin, bài cùng lĩnh vực
Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về pin lithium cho thiết bị cầm tay (14/7/2020)
12 Luật có hiệu lực từ 1/7/2020 (02/7/2020)
Phê duyệt Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viện chức trong các cơ quan nhà nước (01/7/2020)
Phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030 (29/6/2020)
Phê duyệt Chương trình phát triển nghiên cứu, sản xuất giống phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2030 (15/6/2020)
Phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (05/6/2020)
Phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021-2025 (03/6/2020)
Chỉ thị về tăng cường công tác quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (01/6/2020)
Cung cấp dịch vụ ký số từ xa phải bảo đảm quy định kỹ thuật (29/5/2020)
Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (27/5/2020)
Chỉ thị đẩy mạnh các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (27/5/2020)
Quy định định mức chi xây dựng tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật (13/5/2020)
Chỉ thị số 01/CT-BKHCN của Bộ KH&CN về Nâng cao năng lực KH&CN nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân trong bối cảnh tác động của dịch Covid-19 (13/5/2020)
Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về báo hiệu đường thủy nội địa Việt Nam (24/4/2020)
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết về Cách mạng công nghiệp 4.0 (21/4/2020)
Quy định việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử (15/4/2020)
Quản lý, kết nối và chia sẽ dữ liệu số của cơ quan nhà nước (15/4/2020)
Phê duyệt Đề án “Lưu trữ tài liệu điện tử của các cơ quan nhà nước giai đoạn 2020 - 2025” (10/4/2020)
Ban hành bộ tiêu chí, chỉ tiêu kỹ thuật để đánh giá và lựa chọn giải pháp nền tảng điện toán đám mây phục vụ Chính phủ điện tử/Chính quyền điện tử (09/4/2020)
Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản xuất thủy sản (31/3/2020)
Quy định mới về công tác văn thư (25/3/2020)
Chính phủ quy định đặc cách bổ nhiệm vào chức danh khoa học, chức danh công nghệ cao hơn không qua thi thăng hạng, không phụ thuộc năm công tác (11/3/2020)
Sửa quy định thu hút, trọng dụng nhà khoa học xuất sắc (04/3/2020)
Dự án sản xuất vật liệu xây dựng phải được thẩm định công nghệ (19/12/2019)
Thông tư số 16/2019/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 109/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ về nông nghiệp hữu cơ (12/11/2019)
Nhiều chương trình hỗ trợ nghiên cứu và phát triển trong doanh nghiệp (11/11/2019)
Ban hành "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hủy nổ lựu đạn sát thương và đầu đạn nổ phá, nổ sát thương, nổ phá sát thương" (06/11/2019)
Ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tương thích điện từ cho thiết bị đầu cuối và phụ trợ trong hệ thống thông tin di động” (06/11/2019)
Đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ ở cơ sở (31/10/2019)
Quy định nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu để nghiên cứu khoa học và thực hiện hoạt động gia công sửa chữa hàng hóa (14/10/2019)
Thông tư tài chính mới cho khởi nghiệp: Hỗ trợ theo chiều sâu với các nhiệm vụ của Đề án 844 (08/10/2019)
Thông tư số 07/2019/TT-BKHCN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2013/TT-BKHCN ngày 26/9/2013 của Bộ Khoa học và Công nghệ (07/10/2019)
Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam (02/10/2019)
Nghị quyết của Bộ Chính trị về chủ động tham gia CMCN lần thứ tư (30/9/2019)
Quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng ngân sách nhà nước (13/9/2019)
Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp (05/9/2019)
Phê duyệt Đề án "Xây dựng thí điểm mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị” (05/9/2019)
Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 (28/8/2019)
Phải lưu giữ hóa chất nguy hiểm để thí nghiệm trong kho chứa riêng (28/8/2019)
Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công (23/8/2019)
Phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ (16/8/2019)
Ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có thành tích xuất sắc (16/8/2019)
Quảng Trị sẽ triển khai 5 chuỗi cung ứng thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn (16/8/2019)
Từ ngày 15/9, tên miền .VN không xác định được chủ thể sẽ bị tạm ngừng hoạt động (26/7/2019)
Hội thảo về hoạt động giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng quy định tại Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg ngày 19/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ (20/6/2019)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Quyết định số 169/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, kiểm tra giữa kỳ đối với đề tài:" Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng thử nghiệm cây vừng đen (mè đen) và chế biến đóng chai thành các sản phẩm từ hạt vừng đen, thích ứng với biến đổi khí hậu" Quảng Trị"

Quyết định số 170/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, kiểm tra giữa kỳ đối với đề tài:" Ứng dụng kỹ thuật lấy huyết khối động mạch não trực tiếp dưới máy X - Quang số hóa nền (DSA) ở bệnh nhân nhồi máu não cấp tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị"

Báo cáo số 65/BC-SKHCN về việc Báo cáo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng năm 2020

Báo cáo số 69/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Quảng Trị 6 tháng đầu năm 2020, kế hoạch 6 tháng cuối năm 2020

Báo cáo số 70/BC-SKHCN về việc Báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính quý II/2020 của Sở KH_CN Quảng Trị

Báo cáo số 74/BC-SKHCN về việc Báo cáo về việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính tại Sở KH_CN 6 tháng đầu năm 2020

Báo cáo số 73/BC-SKHCN về việc Báo cáo công tác xử lý vi phạm hành chính 6 tháng đầu năm 2020 về lĩnh vực khoa học công nghệ

Quyết định số 726/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh (Lần 1, năm 2020)

Quyết định số 3110/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v Phê duyệt đề tài: Nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong nuôi cá chình lồng tại Quảng Trị

Quyết định số 214/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt danh mục nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng và Thông tin KH_CN thực hiện năm 2020

Thông báo về việc tiếp tục đề xuất các ý tưởng, dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2020

Báo cáo kiểm tra về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa trước, trong và sau Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020

Báo cáo tình hình giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2019

Thông báo đề xuất tham gia Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả KH_CN thực hiện năm 2020

Quyết định về việc giao dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước (đợt 1) Kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ năm 2020

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 536
Hôm nay 2.514
Hôm qua 3.429
Tất cả 2.118.963

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này