Thứ Bảy, 08/8/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 25/6/2020

Phương pháp sinh học xử lý quả cà phê tươi
So với cách ủ ướt thông thường mà người dân đang áp dụng, phương pháp ủ yếm khí quả cà phê tươi sử dụng 5 chủng vi sinh sống cộng sinh của TS Nguyễn Văn Lạng và TS Bùi Văn Luận đã giảm thời gian xử lý 5-6 lần và giảm lượng nước xuống 10 lần. Đặc biệt phương pháp này đảm bảo được lượng đường trong nhân cà phê ở mức cao nhất và đem lại hương vị gần giống cà phê chồn.
Sau khi thu hoạch, việc xử lý quả cà phê tươi tốn không ít thời gian, chi phí và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cà phê nhân. Ảnh: coffeetree.vn
Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu cà phê đứng đầu thế giới nhưng trên thực tế từ nhiều năm nay khâu xử lý chế biến ngay sau thu hoạch được đánh giá chưa thực sự tốt, có thể làm giảm chất lượng và hao hụt cà phê, chưa kể làm hao tổn tài nguyên nước khi xử lý và tăng gánh nặng môi trường. Trong đó, khâu xử lý quả cà phê tươi có ý nghĩa quyết định đến chất lượng hạt cà phê nhân nhưng vẫn còn chưa đảm bảo.

Cụ thể, sau khi thu hoạch, quả cà phê tươi phải được loại bỏ thịt quả, sấy khô. Nghe thì đơn giản nhưng thực tế, đây là công đoạn không chỉ tốn cống sức thời gian mà còn gây ô nhiễm môi trường. Hai phương pháp phổ biến nhất đang được sử dụng là xử lý khô và ướt. Do phụ thuộc vào điều kiện thời tiết (phải phơi nắng từ 4-5 ngày), thời gian xử lý dài (từ 4-5 tuần một mẻ) và cần có diện tích sân phơi rộng nên phương pháp xử lý hạt khô chỉ phù hợp với các hộ sản xuất cà phê nhỏ lẻ, sản lượng thấp. 

Ở quy mô lớn, phương pháp xử lý ướt sử dụng phổ biến hơn. Cà phê sau khi thu hoạch được đưa vào thiết bị phân loại theo kích cỡ, loại bỏ rác, lá, cành, đất đá rồi đưa vào máy để bóc tách vỏ, thịt quả bằng nước và bàn chà. Sau đó, cà phê được ngâm ủ lên men từ 10-16 giờ để phân hủy lớp vỏ nhớt bám phía ngoài trước khi mang đi rửa sạch và làm ráo nước và làm khô đến độ ẩm 12-13%.

Dù đã giảm thời gian xử lý từ 4-5 tuần xuống còn 20-36 giờ và không bị phụ thuộc vào thời tiết hay sân bãi nhưng phương pháp này lại bộc lộ điểm yếu là tốn quá nhiều nước, với khoảng 15.000 – 20.000 lít/tấn quả tươi, kéo theo đó là tốn điện. 

Một vấn đề khác “đau đầu” không kém nữa là “lượng nước xả thải lớn chứa thành phần hữu cơ, đường, xenlulo cao, nên việc xử lý bã và nước thải sau chế biến cà phê ướt là bài toán đau đầu với chính quyền về việc bảo vệ môi trường” – TS Nguyễn Văn Lạng cho biết. 

Làm thế nào để rút ngắn thời gian xử lý quả cà phê xuống lại giúp tiết kiệm nước, không gây ra ô nhiễm thứ cấp cho môi trường là câu hỏi đã đưa TS Nguyễn Văn Lạng và TS Bùi Văn Luận đến với nghiên cứu phương pháp xử lý cà phê tươi. “Tiêu chí của chúng tôi là phương pháp xử lý quả cà phê tươi nhanh, không gây ảnh hưởng tới vỏ thóc, không ảnh hưởng đến tới chất lượng của nhân hạt cà phê, chi phí thấp nhất, sử dụng lượng nước ít nhất, không gây ô nhiễm môi trường”, TS Nguyễn Văn Lang giải thích. 

Nếu giải được bài toán cho khâu chế biến ước này thì sẽ giúp ngành sản xuất cà phê tiết kiệm được nguyên vật liệu đầu vào sản xuất và giảm gánh nặng môi trường. Giải quyết được gánh nặng này sẽ mang lại ý nghĩa rất lớn, bởi chỉ riêng hai tỉnh trồng nhiều cà phê nhất hiện nay là Đắk Lắk và Lâm Đồng đã lần lượt có sản lượng khoảng 480.000 tấn và 350.000 tấn cà phê tươi mỗi năm. 

Trước đây, các kết quả nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy sử dụng enzyme trong phương pháp chế biến ướt cho thấy cà phê thóc sạch nhớt, chất lượng cà phê nhân và hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với phương pháp lên men truyền thống. So với đánh nhớt cơ học, mô hình sử dụng enzyme tiết kiệm được lượng nước, điện năng và giảm được hạt vỡ và tróc vỏ thóc. Do đó, để giải bài toán xử lý quả cà phê, TS Nguyễn Văn Lạng và TS Bùi Văn Luận đã đưa ra phương pháp xử lý sinh học bằng vi sinh vật hữu hiệu. Quả cà phê tươi sau khi thu được phân loại để loại bỏ những hạt kém chất lượng; Ủ yếm khí với vi sinh vật hữu hiệu (Effective Microorganisms - EM) để thúc quả chín mềm đều; Xát bóc vỏ thịt để thu về hạt cà phê thóc nhớt; Khử lớp nhớt của hạt cà phê bằng enzym; Rửa sạch và tách ráo nước hạt cà phê; Làm khô đến độ ẩm 12-13%; Xử lý qua máy tuyển màu để loại những nhân cà phê đen, sậm màu ảnh hưởng đến chất lượng, mùi vị sản phẩm; Đóng gói hút chân không nhân cà phê. 

Điểm mấu chốt giúp tiết kiệm thời gian, nước cũng như nâng cao chất lượng cà phê nằm ở việc sử dụng vi sinh vật hữu hiệu (Effective Microorganisms - EM) trong quá trình ủ yếm khí. Từ 11 chủng vi sinh vật có nguồn gốc từ Nhật Bản, TS Nguyễn Văn Lạng và cộng sự đã tìm ra được 5 chủng vi sinh sống cộng sinh tốt nhất theo các tiêu chí phân hủy thịt vỏ nhanh nhất, không gây ảnh hưởng tới vỏ thóc, không ảnh hưởng tới chất lượng hạt cà phê, chi phí thấp, sử dụng ít nước nhất. 

Điều khiến nhóm tác giả thích thú nhất là, sự tiết kiệm và hiệu quả. Cụ thể, để xử lý 1 tấn cà phê tươi, người dân chỉ cần khoảng 0,5-0,6kg men EM loại khô (hoặc 8-10 lít EM loại lỏng). “Quá trình phân hủy chất hữu cơ, chất xơ và đường của vỏ thịt quả cà phê diễn ra rất nhanh và mạnh mẽ, nhờ đó quả cà phê tươi sẽ trở nên mềm trong một thời gian rất ngắn, chỉ khoảng từ 1,5 - 3 giờ. Nhờ vậy, nồng độ đường của cà phê giữ được ở mức cao nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xát vỏ, thịt, khử lớp nhớt diễn ra nhanh hơn, mất khoảng 1-2,5 giờ, và chỉ cần dùng từ 1.300 - 2.500 lít nước/tấn quả tươi, so với cách làm truyền thống mất từ 20-36 giờ, và 15.000 - 20.000 lít nước/tấn quả tươi” – TS Nguyễn Văn Lạng cho biết. 

Không chỉ rút ngắn thời gian xử lý, chất lượng hạt cà phê thu được cũng đạt chất lượng tốt với hương vị đặc biệt. Việc kết hợp sử dụng EM với mật độ 109 CFU/g trong bước ủ yếm khí và sử dụng enzym Peelzym và/hoặc enzym Viscozyme trong bước khử nhớt đã tạo nên môi trường và điều kiện lên men tương tự trong hệ tiêu hóa của loài chồn, giúp cà phê có hương vị ngon gần giống như cà phê chồn. 

Bên cạnh đó, việc kết hợp EM và các enzym khiến chất thải hữu cơ, chất xơ và đường được phân hủy hoàn toàn và nhanh chóng, nước thải không có mùi hôi thối, không gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, việc xử lý nước thải ở giai đoạn sau cũng đơn giản hơn. Nhóm nghiên cứu ứng dụng phương án xử lý nước thải bằng bể sinh học sử dụng lọc màng MBR. Nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 28:2010 để tái sử dụng. Nhờ vậy, mỗi mẻ cà phê mới chỉ cần bổ sung thêm khoảng 10% lượng nước. 

Với sự hiệu quả đạt được, phương pháp sinh học xử lý quả cà phê tươi đã được ứng dụng tại nhiều hộ sản xuất, chế biến cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên. Phương pháp này của TS Nguyễn Văn Lạng và TS Bùi Văn Luận đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 2-0001798 được công bố vào ngày 27/8/2018. 
http://noip.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Áp dụng mã số mã vạch trong chuỗi cung ứng giúp giảm 50% đầu tư nguyên liệu (07/8/2020)
Nước ion đồng giữ cho hoa tươi lâu sau thu hoạch (07/8/2020)
Truy xuất nguồn gốc hàng hóa qua mã số mã vạch: Tạo thị trường minh bạch cho sản xuất và tiêu dùng (05/8/2020)
Xử lý chất thải chăn nuôi: Tác động kép của vi sinh vật bản địa (05/8/2020)
Australia hỗ trợ Việt Nam ứng dụng AI phục hồi kinh tế hậu Covid-19 (05/8/2020)
Xây dựng thành công quy trình công nghệ trồng Sâm Bố Chính hữu cơ (05/8/2020)
Sản xuất thành công M-ß-CD từ tinh bột sắn: Hướng tới thương mại hóa (04/8/2020)
Làm nông nghiệp theo cách chưa từng có, nông sản Sơn La dễ dàng đi khắp thế giới (04/8/2020)
Đất hóa “vàng” nhờ công nghệ (04/8/2020)
Sử dụng ứng dụng NCOVI và Vietnam Health Declaration để hỗ trợ ngành y (04/8/2020)
Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng triển khai trồng thử nghiệm một số dòng, giống bơ trong nước và nhập nội tại tỉnh Lạng Sơn (04/8/2020)
100% thí sinh Việt Nam dự Olympic Hoá học quốc tế đoạt Huy chương Vàng (04/8/2020)
Hướng đi mới cho hồ tiêu Việt Nam (03/8/2020)
Việt Nam phát triển thành công 2 bộ Kit xét nghiệm virus SARS-CoV-2 (03/8/2020)
Phát triển khu công nghiệp thông minh đáp ứng xu thế cách mạng công nghiệp 4.0 (03/8/2020)
Hoàn thiện công nghệ sản xuất nhũ tương: Tín hiệu vui của ngành giấy (03/8/2020)
Nền tảng giao tiếp “Make in Vietnam”: Trợ lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp chuyển đổi số (03/8/2020)
Hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ (03/8/2020)
Mô hình thu trữ nước sinh hoạt (04/8/2020)
Quản trị dữ liệu ở Việt Nam: Hướng tới xây dựng khung khổ pháp luật (03/8/2020)
Techmart Công nghệ sau thu hoạch: Hơn 100 công nghệ bảo quản và chế biến nông sản an toàn (31/7/2020)
Phát hiện 3 loài thực vật mới thuộc họ Bông và Cà phê ở Tây Nguyên (31/7/2020)
Nâng cao giá trị sản phẩm nhờ sản xuất theo chuỗi giá trị và tiêu chuẩn VietGAP (31/7/2020)
Tiềm năng sử dụng thực vật sản xuất vắc xin cho người và động vật (31/7/2020)
KH&CN tạo sinh kế mới từ cây dược liệu cho vùng Tây Bắc (31/7/2020)
6 gói hỗ trợ truyền thông cho start-up Việt ảnh hưởng COVID-19 (31/7/2020)
Phát hiện các quần thể linh trưởng quý hiếm ở Kon Tum (31/7/2020)
EVNGENCO3 nghiên cứu thành công thiết bị bay kiểm tra lò hơi nhà máy nhiệt điện (28/7/2020)
Sáng chế từ lời gợi ý của người làm trà ướp hương (28/7/2020)
Biến phụ phẩm ngành giấy thành phụ gia thức ăn chăn nuôi giàu protein (28/7/2020)
Bước tiến mới trong việc điều trị bệnh xương khớp từ dây Gắm (27/7/2020)
Ra mắt cổng hỗ trợ thanh toán dịch vụ công trực tuyến PAYGOV (27/7/2020)
Khử khuẩn đường ống cấp nước RO trong chạy thận nhân tạo không dùng hóa chất (27/7/2020)
Chế phẩm sinh học phân hủy nhựa cây: Hóa giải thách thức trong sản xuất giấy (27/7/2020)
Vulcan Augmetics: Giúp người khuyết tật trở thành siêu anh hùng (27/7/2020)
Đại học Bách Khoa Hà Nội mở trung tâm nghiên cứu Trí tuệ Nhân tạo đầu tiên (24/7/2020)
Hướng dẫn quy định mới về ghi nhãn hàng hoá cho doanh nghiệp (24/7/2020)
Thúc đẩy quá trình nghiên cứu sản xuất vaccine COVID-19 trong nước (24/7/2020)
Nhân tài đất Việt 2020: Tìm kiếm các sản phẩm chuyển đổi số triển vọng (24/7/2020)
Tìm đường thương mại hóa kết quả nghiên cứu (24/7/2020)
Ứng dụng CNSH trong ngành công nghiệp giấy và ván gỗ nhân tạo (24/7/2020)
Thị trường đậu nành có thêm giống mới của Vinasoy vừa được phép lưu hành (24/7/2020)
Nghị quyết số 55/NQ-TW: Bước đột phá trong phát triển năng lượng (24/7/2020)
Vaccine Covid-19: Kết quả khả quan được công bố chính thức (24/7/2020)
Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nhuộm sợi dạng búp (24/7/2020)
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị làm nguội kiểu tấm ứng dụng trong quá trình làm nguội cho sản phẩm NPK hàm lượng cao (24/7/2020)
Nghiên cứu xây dựng phần mềm mô hình phần tử hữu hạn mô phỏng chuyển động và lan truyền các chất ô nhiễm và nhiễm mặn trong môi trường nước dưới đất-Ứng dụng cho khu vực ven biển miền Trung (24/7/2020)
Đa dạng hóa dược liệu cổ truyền bằng công nghệ hiện đại (21/7/2020)
Công bố bản đồ 3D lớn nhất từ trước tới nay của vũ trụ (21/7/2020)
Chỉnh sửa gen: Hướng tới nâng cao chất lượng và năng suất nông sản Việt (21/7/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Công văn số 332/SKHCN-VP về việc V/v hướng dẫn cài đặt và tuyên truyền ứng dụng Bluezone trong phòng, chống dịch Covid-19

Quyết định số 212/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc kiện toàn Tổ công tác của Sở Khoa học và Công nghệ kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh

Quyết định số 169/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, kiểm tra giữa kỳ đối với đề tài:" Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng thử nghiệm cây vừng đen (mè đen) và chế biến đóng chai thành các sản phẩm từ hạt vừng đen, thích ứng với biến đổi khí hậu" Quảng Trị"

Quyết định số 170/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, kiểm tra giữa kỳ đối với đề tài:" Ứng dụng kỹ thuật lấy huyết khối động mạch não trực tiếp dưới máy X - Quang số hóa nền (DSA) ở bệnh nhân nhồi máu não cấp tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị"

Báo cáo số 65/BC-SKHCN về việc Báo cáo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng năm 2020

Báo cáo số 69/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Quảng Trị 6 tháng đầu năm 2020, kế hoạch 6 tháng cuối năm 2020

Báo cáo số 70/BC-SKHCN về việc Báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính quý II/2020 của Sở KH_CN Quảng Trị

Báo cáo số 74/BC-SKHCN về việc Báo cáo về việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính tại Sở KH_CN 6 tháng đầu năm 2020

Báo cáo số 73/BC-SKHCN về việc Báo cáo công tác xử lý vi phạm hành chính 6 tháng đầu năm 2020 về lĩnh vực khoa học công nghệ

Quyết định số 726/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh (Lần 1, năm 2020)

Về việc triển khai công điện của UBND tỉnh về quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19.

Về việc Tăng cường triển khai các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19

Thông báo về việc tiếp tục đề xuất các ý tưởng, dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2020

Báo cáo kiểm tra về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa trước, trong và sau Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020

Báo cáo tình hình giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2019

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 1.075
Hôm nay 4.407
Hôm qua 7.058
Tất cả 2.243.343

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này