Thứ Hai, 21/9/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 30/7/2020

Nâng cao giá trị sản phẩm nhờ sản xuất theo chuỗi giá trị và tiêu chuẩn VietGAP
Trước nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng về sản phẩm cây ăn quả chất lượng cao, an toàn và có thể truy xuất nguồn gốc, Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất và liên kết chuỗi giá trị sản phẩm trong sản xuất bưởi và cam sành theo VietGAP tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long” đã được phê duyệt thực hiện. Kết quả, dự án đã xây dựng thành công 4 mô hình liên kết sản xuất bưởi và cam sành theo chuỗi giá trị và đạt tiêu chuẩn VietGAP, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đồng thời tạo hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta.
Mô hình sản xuất bưởi tại Tiền Giang.

Mở đầu

Hiện nay nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước về các sản phẩm nông nghiệp nói chung, sản phẩm cây ăn quả nói riêng đặt ra yêu cầu cao đối với nhà sản xuất về chất lượng và an toàn thực phẩm. Để đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn VietGAP - sản xuất đảm bảo những nguyên tắc về môi trường an toàn, không chứa các tác nhân gây bệnh do nhiễm sinh học (vi khuẩn, nấm, virus...) và hóa chất tồn dư trong sản phẩm (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng nitrat, kim loại nặng) có ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Trong các mặt hàng cây ăn quả chủ lực hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long, bưởi và cam sành là hai loại cây ăn quả có quy mô sản xuất lớn tại các tỉnh Tiền Giang và Bến Tre. Theo điều tra của dự án, diện tích trồng bưởi và cam sành của 2 tỉnh này là hơn 15.000 ha với sản lượng trên 200.000 tấn quả/năm. Trong đó, diện tích trồng bưởi da xanh và cam sành tại Tiền Giang đạt lần lượt hơn 6.000 ha (cung cấp trên 50.000 tấn quả/năm) và 1.600 ha (cung cấp gần 15.000 tấn quả/năm). Tại Bến Tre, diện tích trồng bưởi toàn tỉnh đạt khoảng 3.700 ha (năng suất trung bình đạt khoảng 70.000 tấn quả/năm) và cam sành là khoảng 3.100 ha (năng suất đạt hơn 70.000 tấn quả/năm). Sản xuất bưởi và cam sành đã và đang góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nhiều hộ nông dân tại hai tỉnh... Tuy nhiên, việc phát triển bưởi da xanh và cam sành ở 2 tỉnh này còn mang tính tự phát, sản xuất manh mún, phân tán theo từng hộ gia đình, chất lượng không đồng đều nên gặp nhiều khó khăn trong việc tạo ra một lượng hàng hóa lớn, ổn định để có thể mở rộng thị trường theo hướng sản xuất lớn. Mặt khác, trước những yêu cầu của người tiêu dùng hiện nay về chất lượng và tính an toàn của sản phẩm, việc nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật tổng hợp để sản xuất bưởi và cam sành nói riêng, rau quả nói chung đạt chất lượng và an toàn, có thương hiệu, xây dựng được các nhóm sản xuất/tổ hợp tác sản xuất theo chuỗi cung ứng, áp dụng quy trình thống nhất tại các vùng sản xuất là rất cần thiết, góp phần nâng cao sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam.

Xuất phát từ thực tiễn trên, Viện Cây ăn quả miền Nam đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện dự án “Xây dựng mô hình sản xuất và liên kết chuỗi giá trị sản phẩm trong sản xuất bưởi và cam sành theo VietGAP tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long” (thuộc Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020) với mục tiêu xây dựng được mô hình liên kết sản xuất bưởi và cam theo chuỗi giá trị và đạt tiêu chuẩn VietGAP ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Nâng cao giá trị gia tăng nhờ liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị và tiêu chuẩn VietGAP

Trên cơ sở kết quả khảo sát hiện trạng sản xuất bưởi và cam sành tại một số địa điểm ở hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, phân tích những mặt được và hạn chế so với yêu cầu của sản xuất VietGAP, dự án án đã thành lập được 4 tổ hợp tác sản xuất bưởi, cam sành tại 2 tỉnh nêu trên với diện tích hàng chục ha và hàng trăm hộ dân tham gia; hoàn thiện quy trình quản lý tổng hợp sâu đục quả trên bưởi. Quy trình đơn giản, dễ áp dụng, có hiệu quả phòng bệnh đạt trên 80%; tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản theo VietGAP cho hơn 1.100 lượt nông hộ trồng bưởi, cam sành. Kết quả tập huấn đã giúp người dân nâng cao được kiến thức về kỹ thuật thâm canh, thu hoạch và bảo quản theo VietGAP cho sản phẩm bưởi và cam sành. Đặc biệt, dự án đã xây dựng thành công 4 mô hình sản xuất bưởi và cam sành đạt chứng nhận VietGAP, gồm: Tổ hợp tác bưởi da xanh Nhơn Thạnh (mã số VietGAP-TT-12-03-83-0002) có diện tích 19,73 ha, sản lượng trung bình 550 tấn/năm; Tổ hợp tác cam sành Tân Phú Tây (VietGAP-TT-12-03-83-003) có diện tích 13,3 ha, sản lượng trung bình 386,6 tấn/năm; Tổ hợp tác bưởi, cam sành Mỹ Lương (VietGAP-TT-13-04-82-0022) có diện tích 15,85 ha, sản lượng trung bình 489,30 tấn/năm; Tổ hợp tác bưởi Mỹ Đức Tây (VietGAP-TT-13-04-82-0023) có diện tích 12,75 ha, sản lượng trung bình 473,75 tấn/năm. Ngoài ra, để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, dự án đã tiến hành khảo sát về thị trường tiêu thụ bưởi, cam sành (qua khảo sát cho thấy, 70% các hộ trồng bưởi và cam sành tại 2 tỉnh Tiền Giang và Bến Tre đều bán buôn cho thương lái, sản phẩm được tiêu thụ trong nước là chủ yếu, do vậy đầu ra của sản phẩm không ổn định về giá và sản lượng tiêu thụ), trên cơ sở đó có những đề xuất, kiến nghị với chính quyền và người dân địa phương về định hướng phát triển 2 loại trái cây này.

Mô hình sản xuất cam sành tại Bến Tre.

Ngoài những kết quả đạt được theo kế hoạch và nội dung được phê duyệt, dự án còn có ý nghĩa lớn về mặt khoa học, kinh tế và xã hội. Cụ thể, dự án đã tổng hợp được 11 quy trình kỹ thuật (quản lý tổng hợp bệnh thối rễ cây có múi; quản lý tổng hợp bệnh vàng lá Greening; quản lý tổng hợp sâu bệnh hại CCM theo tiêu chuẩn VietGAP; giám định nhanh bệnh vàng lá Greening trên cây có múi bằng phép thử nhuộm màu iod...) áp dụng hiệu quả vào sản xuất bưởi và cam sành tại 4 tổ hợp tác. Qua đó đã giúp giảm đáng kể lượng thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ sâu bệnh hại, giảm lượng phân bón hóa học, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đất, nước trong vùng sản xuất... Bên cạnh đó, dự án đã xây dựng và chuyển giao cho hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre Sổ tay chất lượng và cam sành tươi cung ứng sản phẩm an toàn cho thị trường nội địa và xuất khẩu; Sổ tay hướng dẫn xây dựng mô hình liên kết phục vụ xây dựng nông thôn mới vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Về hiệu quả kinh tế - xã hội, hoạt động của 4 tổ hợp tác sản xuất bưởi và cam sành đã tạo ra sự chuyển biến mới trong tổ chức sản xuất theo hướng liên kết giữa những nông dân có diện tích nhỏ lẻ thành một tổ chức có quy mô lớn, tập trung, giúp tăng thêm tính cộng đồng trong sản xuất, áp dụng kỹ thuật. Việc sinh hoạt hàng tháng đã giúp xã viên của 4 tổ hợp tác từ chỗ thiếu thông tin về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đã tiếp cận và vận dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất thành công. Đạt được giấy chứng nhận VietGAP trong sản xuất bưởi và cam sành là minh chứng rõ nét khẳng định nông dân Bến Tre và Tiền Giang hoàn toàn có khả năng sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế. Giấy chứng nhận VietGAP là công cụ hỗ trợ cho hoạt động quảng bá sản phẩm của 4 tổ hợp tác ở thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần tạo thương hiệu cho bưởi và cam sành của Tiền Giang và Bến Tre nói riêng, Việt Nam nói chung.  

Dự án đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất bưởi và cam sành, cụ thể sản xuất bưởi theo VietGAP ở 2 tổ hợp tác bưởi da xanh Nhơn Thạnh và bưởi Mỹ Đức Tây có doanh thu cao hơn sản xuất truyền thống 294,3 triệu đồng/ha/năm (tương đương 36,9%) và 2 tổ hợp tác cam sành có doanh thu cao hơn sản xuất truyền thống 143,60 triệu đồng/ha/năm (tương đương 64,83%).

Trước thành công và hiệu quả của các mô hình mẫu, nhiều cán bộ nông nghiệp ở các vùng lân cận và nông dân xung quanh vùng dự án đã chủ động tổ chức đến tham quan, học hỏi kinh nghiệm để mở rộng sản xuất.

https://vjst.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
97% thủ tục hành chính được giải quyết đúng hẹn nhờ dịch vụ công trực tuyến (20/9/2020)
Xe chạy bằng điện và hydro sẽ lên ngôi vào năm 2040 (20/9/2020)
Nguồn điện tư nhân tăng gấp đôi trong cơ cấu nguồn điện quốc gia (20/9/2020)
Năm 2025, Việt Nam vào tốp 4 quốc gia hàng đầu ASEAN về Chính phủ điện tử (20/9/2020)
Diễn đàn Công nghệ và Năng lượng Việt Nam 2020 (20/9/2020)
Chip vi lưu xét nghiệm máu phát hiện sớm ung thư phổi (20/9/2020)
Rút ngắn thời gian nuôi cua lột bằng chiết xuất thông đỏ (20/9/2020)
Bộ KH&CN và Bộ KH&ĐT: Chung tay thúc đẩy đổi mới sáng tạo (20/9/2020)
Aus4Innovation tài trợ hơn 2 triệu AUD cho 5 dự án Úc- Việt (20/9/2020)
Ra mắt Viện Nghiên cứu đổi mới và phát triển bền vững (17/9/2020)
Tăng cường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học (17/9/2020)
​Khoa học công nghệ - nền tảng, động lực cho phát triển (17/9/2020)
Thương mại điện tử: Bứt tốc mạnh mẽ (16/9/2020)
40 dự án vào vòng chung kết Giải thưởng ĐMST và Khởi nghiệp TPHCM I-Star (16/9/2020)
Current Index xếp hạng 10 cơ sở nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam trong một số lĩnh vực (16/9/2020)
Triển lãm trực tuyến Năng lượng mặt trời Việt Nam 2020: Kết nối cung ứng cho doanh nghiệp (16/9/2020)
Hỗ trợ điều trị bệnh ung thư: Sản xuất hỗn hợp alkaloit từ lá đu đủ (16/9/2020)
Xây dựng, quản lý và phát triển thương hiệu cộng đồng (16/9/2020)
Thúc đẩy chuyển đổi số tại Việt Nam (16/9/2020)
“Ngày Trí tuệ nhân tạo 2020” - Bức tranh toàn cảnh về AI tại Việt Nam (15/9/2020)
Trung tâm dữ liệu đầu tiên tại Việt Nam đạt chuẩn quốc tế về thiết kế, xây dựng (15/9/2020)
Sản xuất thông minh: Doanh nghiệp không thể đứng ngoài (15/9/2020)
Thương mại điện tử: Tiền đề quan trọng của nền kinh tế số (15/9/2020)
Chuyển đổi số của các DNVVN có thể đóng góp 30 tỷ USD vào GDP Việt Nam (15/9/2020)
Chọn giống vật nuôi theo bộ gen – Kỷ nguyên mới của khoa học chọn giống vật nuôi (15/9/2020)
Công nghệ khai thác ảnh vệ tinh: Mô hình dự báo năng suất cây ngô (14/9/2020)
Đề xuất đầu tư 4 dự án trọng điểm để tăng cường tiềm lực KH&CN (14/9/2020)
Ứng dụng KH&CN tạo sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao (14/9/2020)
Phát triển sinh phẩm phát hiện nhanh SARS-CoV-2 (10/9/2020)
2.000 Người tham dự “Ngày Trí tuệ nhân tạo 2020 – Vươn tầm đón thách thức” (10/9/2020)
Nghiên cứu xây dựng chuẩn đầu ra cho các trình độ đào tạo nghề trong ngành in ở Việt Nam (10/9/2020)
Việt Nam tiến gần nhóm 40 quốc gia dẫn đầu chỉ số sáng tạo (09/9/2020)
Nhật Bản hợp tác với Việt Nam nghiên cứu ung thư (09/9/2020)
Cam tươi lâu hơn nhờ dung dịch chitosan/PVA (09/9/2020)
Lần đầu tiên phát động giải thưởng thành phố thông minh Việt Nam (09/9/2020)
Kem nano bạc trị bệnh viêm vú ở bò (09/9/2020)
UNDP công bố Sáng kiến giao thông điện xanh tại Việt Nam (07/9/2020)
Thủy phân phụ phẩm cá tra làm phân bón hữu cơ (07/9/2020)
FoodMap gọi vốn 500.000 USD từ quỹ đầu tư của Mỹ (07/9/2020)
Doanh nghiệp công nghệ số: Thực hiện sứ mệnh “Make in Vietnam” (04/9/2020)
Quy trình nuôi vi tảo làm thức ăn trong sản xuất giống thủy sản (04/9/2020)
Năng lực công nghệ cơ khí chế tạo ô tô và máy nông nghiệp Việt Nam ở mức 60-75% so với thế giới (04/9/2020)
Tái cơ cấu các chương trình KH&CN quốc gia: Xây dựng khung tổng thể chương trình (04/9/2020)
Sản xuất nấm bào ngư ôn đới quy mô công nghiệp rút ngắn một nửa thời gian thu hoạch (04/9/2020)
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu: Việt Nam đứng đầu nhóm 29 nền kinh tế cùng mức thu nhập (04/9/2020)
Xu hướng của cảm biến thông minh trong chăm sóc sức khỏe (03/9/2020)
Hệ thống phát hiện hành vi xả rác bừa bãi (01/9/2020)
Nhật Bản thử nghiệm thành công nguyên mẫu của xe bay (01/9/2020)
Chính thức khởi động Cổng dữ liệu quốc gia (01/9/2020)
Mô hình đối tác công - tư về KH&CN: Kinh nghiệm từ Trung tâm hợp tác nghiên cứu Úc (01/9/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Báo cáo số 113/BC-SKHCN về việc Báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính quý III/2020 của Sở KH CN Quảng Trị

Báo cáo số 114/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả hoạt động khoa học và công nghệ quý 3 và nhiệm vụ Quý 4//2020

Công văn số 425/SKHCN-VP về việc Hỏa tốc về việc thực hiện Công điện khẩn số 08/CĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị

Kế hoạch số 40/KH-SKHCN về việc Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước - Sở Khoa học và Công nghệ năm 2021 và giai đoạn 2021-2025

Quyết định số 2642/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu công trình: Sửa chữa, cải tạo Nhà làm việc sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị.

Quyết định số 2641/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu công trình: Nhà lưới trồng thử nghiệm cây dược liệu công nghệ cao.

Báo cáo số 110/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh lĩnh vực khoa học và công nghệ quý 3/2020, kế hoạch quý 42/2020

Quyết định số 250/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng KH CN tư vấn thẩm định đề cương nhiệm vụ KH CN cấp cơ sở xét giao trực tiếp thực hiện năm 2020 dự án: Xây dựng quy trình sản xuất giống và mô hình trồng thử nghiệm cây tràm gió và tràm năm gân ở các xã vùng cát ven biển huyện Triệu Phong

Quyết định số 249/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của Sở Khoa học và Công nghệ

Quyết định số 2537/QĐ-UBND về việc Quyết định Phê duyệt Danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh (Lần 2, năm 2020)

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ bảo tồn và phát triển cây Lan Giả Hạc

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại thôn Quyết Tâm, xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Lan Kim Tuyến tại vùng Bắc Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu xây dựng CSDL số về di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị và những điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm chiến dịch năm 1972, góp phần hỗ trợ phát triển du lịch Quảng Trị

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: "Nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 07
Hôm nay 1.776
Hôm qua 4.705
Tất cả 2.444.983

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này