Thứ Hai, 21/9/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 03/8/2020

Mô hình thu trữ nước sinh hoạt
Tận dụng những hạ tầng sẵn có và kết hợp với những công nghệ mới trong thu trữ nước, các nhà khoa học ở Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam đã xây dựng thành công mô hình thu trữ nước sinh hoạt quy mô nhỏ đáp ứng quy chuẩn chất lượng nước sinh hoạt của Bộ Y tế và đảm bảo nhu cầu cho người dân ở các tỉnh vùng Tây Bắc vào mùa khô.
Kiểm tra mô hình thu trữ, xử lý nguồn nước mưa tại trường mầm non Hảo Nghĩa, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Ảnh: Văn phòng Chương trình Tây Bắc.

Cứ mùa khô đến, những người dân ở xã Tả Gia Khâu (huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai) - nơi được coi là “Trường Sa trên cạn”, lại thức trắng đêm chờ đợi hứng nước ở các bể nước trung tâm hoặc đi bộ nhiều cây số để tìm các giếng, hố nước trong rừng. Làm thế nào để giải quyết vấn đề này là vấn đề “đau đầu” với các địa phương nơi đây.

Với mong muốn khắc phục tình trạng này, Sở KH&CN tỉnh Lào Cai đã đặt hàng giải pháp cấp nước sinh hoạt cho người dân thông qua đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp công nghệ và quản lý trong thu trữ nước mưa và nước mặt phục vụ dân sinh vùng Tây Bắc” (2017-2019) thuộc Chương trình KH&CN phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc (chương trình Tây Bắc). “Mục tiêu của đề tài là đề xuất công nghệ thu trữ, xử lý nước phục vụ dân sinh Tây Bắc, đảm bảo quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT. Đồng thời tìm ra mô hình quản lý phù hợp và bền vững, sau đó nhân rộng mô hình để áp dụng cho các địa phương khác trong vùng Tây Bắc”, ThS. Phạm Văn Ban, chủ nhiệm đề tài cho biết.

Mô hình thu trữ và xử lý nước quy mô nhỏ

Để nắm bắt được thực trạng các công trình thu trữ và xử lý nước ở vùng Tây Bắc, ThS. Phạm Văn Ban và các cộng sự ở Viện Khoa học thủy lợi đã tiến hành khảo sát thực tế ở 10 tỉnh vùng Tây Bắc. “Điều quan trọng nhất là mình phải biết hiện nay các địa phương áp dụng phương thức thu trữ, xử lý, quản lý như thế nào. Nếu họ làm tốt rồi thì mình cũng không đi vào nữa, chỉ tìm những khoảng trống để tiếp tục thôi”, ThS. Phạm Văn Ban cho biết.

Qua khảo sát thực tế, nhóm dự án nhận thấy, ở những vùng có nước mặt (nước chảy trên bề mặt đất) đã có sẵn công trình thu trữ nước như bể chứa nước tập trung, hồ treo,... khi thiết kế tính toán tương đối đủ nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành công trình bị xuống cấp, quy mô giữ nguyên nhưng năng lực hoạt động giảm xuống. Về xử lý nước, các công trình chứa nước tập trung hiện nay thường dùng đá, cát, sỏi mang tính chất lọc thô, chưa xử lý được những thành phần hóa học gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Bởi vậy, để giải quyết các vấn đề này, nhóm dự án đã đề xuất những giải pháp mới để khắc phục hạn chế của những công trình thu trữ và xử lý nước sẵn có. “Với những vùng chưa có nước mặt, chúng tôi sẽ tìm nguồn nước ngầm tầng trên (vùng ẩm ướt, có nguồn nước bổ sung liên tục) để xây dựng đập ngầm”, ThS. Phạm Văn Ban nói.

Cụ thể, với hồ treo chứa nước, ThS. Phạm Văn Ban và các cộng sự đã dùng màng chống thấm bentofix (một loại vật liệu từ khoáng sét bentonite) thay thế cho bạt HPDE - thường dùng làm màng chống thấm ở các hồ treo chứa nước nhưng dễ bị rách trong quá trình sử dụng, tốn nhiều công sức và chi phí thay thế. Để thay thế cho phương pháp xử lý nước lọc thô, nhóm dự án đã thiết kế tủ lọc dạng khối, dễ dàng di chuyển và tùy chỉnh công suất theo nhu cầu sử dụng, cấp nước đạt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế về nước sinh hoạt.

Một trong những điểm đáng chú ý nhất của dự án là giải pháp đập ngầm thu nước ngầm tầng trên. “Giải pháp này có thể áp dụng ở nhiều địa phương khác nhau, với điều kiện có chênh lệch địa hình cao thấp, có nguồn nước ngầm ở tầng gần bề mặt, vùng đất ẩm. Chỉ cần đào xuống, đổ cát và đặt các băng thu nước khía rãnh gắn dọc theo ống PVC, đặt trong lớp cát là xong, nước sẽ dẫn về các bể chứa nước tập trung có sử dụng tủ lọc”, ThS. Phạm Văn Ban giải thích. “Việc áp dụng những công nghệ trong dự án này không mấy khó khăn, bởi đây đều là những giải pháp do Viện Khoa học thủy lợi phát triển, đã được ứng dụng trong thực tế rồi, chẳng hạn đập thu nước ngầm tầng trên là sáng chế của các nhà khoa học ở Viện Thủy công (Viện Khoa học thủy lợi) đã được cấp bằng từ năm 2012. Chúng tôi cũng nhận được sự ủng hộ của người dân trong quá trình thực hiện dự án, chẳng hạn họ tự nguyện hiến đất để đặt đường ống dẫn nước nên không mất kinh phí đền bù”.

Hiệu quả của các giải pháp trên đã được chứng minh qua 6 mô hình thu trữ nước quy mô hộ gia đình, nhóm dân cư và tổ chức (trường học, trạm y tế) áp dụng những công nghệ mà nhóm dự án đề xuất ở Lào Cai và Bắc Kạn. Lượng cấp nước đủ tiêu chuẩn 60 l/người trong một ngày đêm, giúp trường mầm non xã Nghĩa Hảo (huyện Na Rì, Bắc Kạn) và trạm y tế xã Tả Gia Khâu tiết kiệm được tiền mua nước sạch là 200.000 đồng/ngày trước đây. Thậm chí, có nơi còn cho kết quả hơn cả mong đợi của cả mọi người. “Ở trường mầm non Nghĩa Hảo, lượng nước thu được còn dư so với nhu cầu sử dụng, có thể cấp thêm cho cả trường cấp 1, cấp 2 bên cạnh, chúng tôi cũng thấy bất ngờ vì công nghệ đập ngầm này thu được khá nhiều nước”, ThS. Phạm Văn Ban kể lại.

Những băn khoăn còn lại

Cũng giống như những công trình cấp nước ở vùng Tây Bắc trước đây, khó khăn lớn nhất với nhóm dự án là tìm ra mô hình quản lý phù hợp để các công trình tiếp tục hoạt động hiệu quả trong tương lai. “Với hộ gia đình, trường học và trạm y tế, chúng tôi bàn giao trực tiếp cho người dân, hướng dẫn quy trình để họ tiếp tục sử dụng, có vấn đề gì liên quan đến công nghệ mà không xử lý được thì gọi trực tiếp cho chúng tôi. Với cụm dân cư, chúng tôi đưa ra sổ tay hướng dẫn quy trình thành lập tổ chức quản lý, do trưởng công an ở mỗi bản phụ trách, những hộ dân trong đó đó sẽ là tổ viên, có trách nhiệm đi tuần, kiểm tra đường ống định kỳ và báo lại cho tổ trưởng. Tổ hợp tác sẽ thu phí khoảng 1000 đồng/m3/hộ để có kinh phí thay thế những vật liệu rẻ tiền, dễ hỏng như khóa hoặc van nước. Nếu hỏng hóc lớn, sẽ sử dụng quỹ ở các xã hoặc huy động nguồn lực địa phương”, ThS. Phạm Văn Ban cho biết. “Để thuyết phục người dân, chúng tôi cũng phải họp hành nhiều lần vì trước đây họ dùng nước không mất tiền, bây giờ lại tự dưng thu phí. Nhưng khi chúng tôi phân tích về ảnh hưởng của nguồn nước đến sức khỏe, kết hợp với lợi ích của mô hình thu trữ và xử lý nước trong thực tế, bản thân bà con cũng nhận thấy điều đó nên chấp nhận”.

Mặc dù kết quả thực hiện đề tài được hội đồng nghiệm thu đánh giá cao và được các xã đặt mô hình thử nghiệm đề nghị tiếp tục nhân rộng song ThS. Phạm Văn Ban vẫn muốn hoàn thiện hơn nữa. “Giải pháp băng thu nước ngầm chỉ phù hợp với quy mô nhỏ, hộ gia đình, cụm dân cư hoặc trường học, nếu muốn áp dụng ở quy mô toàn xã hoặc liên xã thì phải đặt rất nhiều băng thu nước ngầm, sẽ rất tốn kém. Bởi vậy, chúng tôi hy vọng có thể đề xuất những dự án mới thông qua những chương trình của Bộ KH&CN trong thời gian tới để tiếp tục thử nghiệm, tối ưu công nghệ này”, ThS. Phạm Văn Ban nói.

https://khoahocphattrien.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
97% thủ tục hành chính được giải quyết đúng hẹn nhờ dịch vụ công trực tuyến (20/9/2020)
Xe chạy bằng điện và hydro sẽ lên ngôi vào năm 2040 (20/9/2020)
Nguồn điện tư nhân tăng gấp đôi trong cơ cấu nguồn điện quốc gia (20/9/2020)
Năm 2025, Việt Nam vào tốp 4 quốc gia hàng đầu ASEAN về Chính phủ điện tử (20/9/2020)
Diễn đàn Công nghệ và Năng lượng Việt Nam 2020 (20/9/2020)
Chip vi lưu xét nghiệm máu phát hiện sớm ung thư phổi (20/9/2020)
Rút ngắn thời gian nuôi cua lột bằng chiết xuất thông đỏ (20/9/2020)
Bộ KH&CN và Bộ KH&ĐT: Chung tay thúc đẩy đổi mới sáng tạo (20/9/2020)
Aus4Innovation tài trợ hơn 2 triệu AUD cho 5 dự án Úc- Việt (20/9/2020)
Ra mắt Viện Nghiên cứu đổi mới và phát triển bền vững (17/9/2020)
Tăng cường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học (17/9/2020)
​Khoa học công nghệ - nền tảng, động lực cho phát triển (17/9/2020)
Thương mại điện tử: Bứt tốc mạnh mẽ (16/9/2020)
40 dự án vào vòng chung kết Giải thưởng ĐMST và Khởi nghiệp TPHCM I-Star (16/9/2020)
Current Index xếp hạng 10 cơ sở nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam trong một số lĩnh vực (16/9/2020)
Triển lãm trực tuyến Năng lượng mặt trời Việt Nam 2020: Kết nối cung ứng cho doanh nghiệp (16/9/2020)
Hỗ trợ điều trị bệnh ung thư: Sản xuất hỗn hợp alkaloit từ lá đu đủ (16/9/2020)
Xây dựng, quản lý và phát triển thương hiệu cộng đồng (16/9/2020)
Thúc đẩy chuyển đổi số tại Việt Nam (16/9/2020)
“Ngày Trí tuệ nhân tạo 2020” - Bức tranh toàn cảnh về AI tại Việt Nam (15/9/2020)
Trung tâm dữ liệu đầu tiên tại Việt Nam đạt chuẩn quốc tế về thiết kế, xây dựng (15/9/2020)
Sản xuất thông minh: Doanh nghiệp không thể đứng ngoài (15/9/2020)
Thương mại điện tử: Tiền đề quan trọng của nền kinh tế số (15/9/2020)
Chuyển đổi số của các DNVVN có thể đóng góp 30 tỷ USD vào GDP Việt Nam (15/9/2020)
Chọn giống vật nuôi theo bộ gen – Kỷ nguyên mới của khoa học chọn giống vật nuôi (15/9/2020)
Công nghệ khai thác ảnh vệ tinh: Mô hình dự báo năng suất cây ngô (14/9/2020)
Đề xuất đầu tư 4 dự án trọng điểm để tăng cường tiềm lực KH&CN (14/9/2020)
Ứng dụng KH&CN tạo sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao (14/9/2020)
Phát triển sinh phẩm phát hiện nhanh SARS-CoV-2 (10/9/2020)
2.000 Người tham dự “Ngày Trí tuệ nhân tạo 2020 – Vươn tầm đón thách thức” (10/9/2020)
Nghiên cứu xây dựng chuẩn đầu ra cho các trình độ đào tạo nghề trong ngành in ở Việt Nam (10/9/2020)
Việt Nam tiến gần nhóm 40 quốc gia dẫn đầu chỉ số sáng tạo (09/9/2020)
Nhật Bản hợp tác với Việt Nam nghiên cứu ung thư (09/9/2020)
Cam tươi lâu hơn nhờ dung dịch chitosan/PVA (09/9/2020)
Lần đầu tiên phát động giải thưởng thành phố thông minh Việt Nam (09/9/2020)
Kem nano bạc trị bệnh viêm vú ở bò (09/9/2020)
UNDP công bố Sáng kiến giao thông điện xanh tại Việt Nam (07/9/2020)
Thủy phân phụ phẩm cá tra làm phân bón hữu cơ (07/9/2020)
FoodMap gọi vốn 500.000 USD từ quỹ đầu tư của Mỹ (07/9/2020)
Doanh nghiệp công nghệ số: Thực hiện sứ mệnh “Make in Vietnam” (04/9/2020)
Quy trình nuôi vi tảo làm thức ăn trong sản xuất giống thủy sản (04/9/2020)
Năng lực công nghệ cơ khí chế tạo ô tô và máy nông nghiệp Việt Nam ở mức 60-75% so với thế giới (04/9/2020)
Tái cơ cấu các chương trình KH&CN quốc gia: Xây dựng khung tổng thể chương trình (04/9/2020)
Sản xuất nấm bào ngư ôn đới quy mô công nghiệp rút ngắn một nửa thời gian thu hoạch (04/9/2020)
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu: Việt Nam đứng đầu nhóm 29 nền kinh tế cùng mức thu nhập (04/9/2020)
Xu hướng của cảm biến thông minh trong chăm sóc sức khỏe (03/9/2020)
Hệ thống phát hiện hành vi xả rác bừa bãi (01/9/2020)
Nhật Bản thử nghiệm thành công nguyên mẫu của xe bay (01/9/2020)
Chính thức khởi động Cổng dữ liệu quốc gia (01/9/2020)
Mô hình đối tác công - tư về KH&CN: Kinh nghiệm từ Trung tâm hợp tác nghiên cứu Úc (01/9/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Báo cáo số 113/BC-SKHCN về việc Báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính quý III/2020 của Sở KH CN Quảng Trị

Báo cáo số 114/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả hoạt động khoa học và công nghệ quý 3 và nhiệm vụ Quý 4//2020

Công văn số 425/SKHCN-VP về việc Hỏa tốc về việc thực hiện Công điện khẩn số 08/CĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị

Kế hoạch số 40/KH-SKHCN về việc Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước - Sở Khoa học và Công nghệ năm 2021 và giai đoạn 2021-2025

Quyết định số 2642/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu công trình: Sửa chữa, cải tạo Nhà làm việc sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị.

Quyết định số 2641/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu công trình: Nhà lưới trồng thử nghiệm cây dược liệu công nghệ cao.

Báo cáo số 110/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh lĩnh vực khoa học và công nghệ quý 3/2020, kế hoạch quý 42/2020

Quyết định số 250/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng KH CN tư vấn thẩm định đề cương nhiệm vụ KH CN cấp cơ sở xét giao trực tiếp thực hiện năm 2020 dự án: Xây dựng quy trình sản xuất giống và mô hình trồng thử nghiệm cây tràm gió và tràm năm gân ở các xã vùng cát ven biển huyện Triệu Phong

Quyết định số 249/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của Sở Khoa học và Công nghệ

Quyết định số 2537/QĐ-UBND về việc Quyết định Phê duyệt Danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh (Lần 2, năm 2020)

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ bảo tồn và phát triển cây Lan Giả Hạc

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại thôn Quyết Tâm, xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Lan Kim Tuyến tại vùng Bắc Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu xây dựng CSDL số về di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị và những điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm chiến dịch năm 1972, góp phần hỗ trợ phát triển du lịch Quảng Trị

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: "Nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 107
Hôm nay 1.884
Hôm qua 4.705
Tất cả 2.445.091

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này