Thứ Năm, 01/10/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 06/8/2020

Áp dụng mã số mã vạch trong chuỗi cung ứng giúp giảm 50% đầu tư nguyên liệu
Đó là khẳng định của ông Bùi Hữu Đạo - Phó Chủ tịch Hội Mã số mã vạch Việt Nam tại Hội thảo “Áp dụng mã số mã vạch trong truy xuất nguồn gốc và chống hàng giả” vừa diễn ra tại Hà Nội.
Ông Phó Đức Sơn, Chủ tịch Hội Mã số mã vạch Việt Nam chia sẻ tại Hội thảo.

Sáng ngày 4/8, tại Hà Nội, Hội Mã số mã vạch Việt Nam phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội thảo “Áp dụng mã số mã vạch trong truy xuất nguồn gốc và chống hàng giả”.
 

Theo ông Phó Đức Sơn, Chủ tịch Hội mã số mã vạch Việt Nam, hiện nay, khi nạn hàng giả, hàng nhái, hàng lưu thông không rõ nguồn gốc xuất xứ, sản phẩm chứa chất cấm, độc hại vẫn đang tồn tại, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tài chính của người tiêu dùng, làm giảm niềm tin của người tiêu dùng đến tính minh bạch của thị trường hàng hóa, giảm uy tín của các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính,… truy xuất nguồn gốc (TXNG) trở thành vấn đề quan tâm chung của toàn cầu.
 

TXNG có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng, phát triển kinh tế xã hội nói chung. TXNG là cơ hội để doanh nghiệp thâm nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời là biện pháp tích cực trong công tác chống hàng giả, nâng cao vị thế của sản phẩm, hàng hóa.
 

Thông qua hệ thống TXNG, người tiêu dùng có khả năng tiếp cận dễ dàng các nguồn thông tin liên quan đến sản phẩm, hàng hóa qua các thiết bị di động (smart phone). TXNG là công cụ để các cơ quan quản lý kiểm soát thông tin sản phẩm sản xuất, lưu thông trên thị trường, giúp xác định chính xác, kịp thời nguyên nhân khi sự cố về chất lượng xảy ra, cũng như vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan. Vì vậy TXNG vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm của các doanh nghiệp, người tiêu dùng, các tổ chức, cá nhân và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan.
 

Thực tế, hoạt động TXNG và áp dụng tem TXNG tại Việt Nam đang tồn tại một số hạn chế, bất cập, cụ thể: TXNG mới chỉ tập trung áp dụng ở một số sản phẩm và một số địa phương, thị trường lớn: Nhiều hệ thống TXNG hiện nay vẫn mang tính khép kín, không có khả năng mở để các bên tham gia hệ thống TXNG này có thể tham gia với các hệ thống TXNG khác, do thường sử dụng các mã phân định có cấu trúc tự đặt, chỉ có giá trị phân định trong phạm vi nội bộ, mà không sử dụng các mã phân định đơn nhất toàn cầu. Việc tự đặt các mã phân định (sản phẩm, địa điểm, các bên tham gia) không đơn nhất, có thể xảy ra trường hợp trùng mã giữa các hệ thống TXNG.
 

Cũng theo ông Sơn, TXNG đòi hỏi tính chuẩn hóa cao, yêu cầu các bên tham gia TXNG cần thống nhất dùng chuẩn chung. Tuy nhiên, tập quán sản xuất nhỏ lẻ, manh mún gây hạn chế cho việc thống nhất giữa các bên tham gia TXNG. Thói quen và ý thức làm việc không tuân thủ quy trình, ngại ghi chép cũng là yếu tố hạn chế thành công của các doanh nghiệp Việt Nam khi xây dựng hệ thống TXNG.
 

Khẳng định vai trò của mã số mã vạch trong truy xuất nguồn gốc, ông Bùi Hữu Đạo - Phó Chủ tịch Hội Mã số mã vạch Việt Nam cho hay, đây là công cụ hữu hiệu để nâng cao sự cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, giúp doanh nghiệp dễ dàng quản lý sản phẩm, phân phối hàng hóa trên hệ thống siêu thị, đảm bảo uy tín cho người tiêu dùng. Đồng thời, đây là căn cước để hàng hóa hội nhập thế giới.
 

Việc áp dụng mã số mã vạch trong chuỗi cung ứng giúp giảm 50% đầu tư nguyên liệu thô, tăng 3,5% về độ chính xác của báo giá, giảm 21% thời gian lưu kho, giảm 42% chi phí phân phối, giảm 35% kiểm kê hàng trong trung tâm phân phối, 32% giảm việc hết hàng, mang lại sự hài lòng cho khách hàng.
 

Cũng theo ông Đạo, việc ứng dụng mã vạch hiện nay ở nước ta tuy có phát triển, nhưng sự đồng bộ hóa trong kinh doanh, sản xuất ở các doanh nghiệp chưa cao nên chưa sử dụng hết ứng dụng của mã vạch. Việc ứng dụng công nghệ MSMV mới chỉ dừng ở việc cấp mã số doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp in ấn số mã vạch trên sản phẩm, hàng hóa để phục vụ bán hàng, chưa triển khai ứng dụng các loại MSMV trên các đơn vị giao nhận, vận chuyển, trong trao đổi dữ liệu điện tử (EDI - Electronic Data Interchange) và phân định các bên đối tác trong giao dịch sản xuất, kinh doanh. Số lượng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ MSMV chiếm tỷ lệ thấp, số lượng hàng hóa của Việt Nam sử dụng MSMV chưa nhiều.
 

Việc triển khai ứng dụng rộng rãi MSMV trong lĩnh vực khác như các ngành dịch vụ và văn hóa xã hội... chậm, chưa có nhiều hiệu quả. Thậm chí, do ứng dụng đôi khi tự phát, tản mạn, chưa có sự hướng dẫn về công nghệ và kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước nên các doanh nghiệp đã nhập phải các thiết bị in đọc và phần mềm MSMV lạc hậu so với các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành. Mặt khác, hoạt động MSMV chưa được quản lý thống nhất, việc làm giả MSMV vẫn còn diễn ra dưới các hình thức như: tự ý lấy MSMV của một doanh nghiệp khác để in lên sản phẩm của mình, hay tự nghĩ ra một MSMV và in trên sản phẩm lưu hành trên thị trường...
 

Theo các chuyên gia, cần sử dụng rộng rãi công nghệ mã vạch trong các lĩnh vực cần thiết của đời sống từ đó tăng số lượng các doanh nghiệp sử dụng mã vạch, giúp tăng tốc độ xử lý hàng hóa và hiệu quả trong kinh doanh. Nghiên cứu và triển khai ứng dụng rộng rãi MSMV trong lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân cũng như các ngành dịch vụ và văn hóa xã hội; Cập nhật liên tục các công nghệ nhận dạng mã vạch; Quản lý thống nhất hệ thống mã vạch giúp hàng hóa được phân loại tốt hơn và xác định chính xác sản phẩm là những đòi hỏi từ thực tiễn.
 

Toàn cảnh Hội thảo. 
 

Để thúc đẩy ứng dụng công nghệ MSMV, cần nghiên cứu triển khai áp dụng các công nghệ và mã tiêu chuẩn mới mà thế giới đang áp dụng như công nghệ nhận dạng bằng tần số radio trong chuỗi cung ứng toàn cầu; Phổ biến áp dụng mã điện tử sản phẩm phục vụ cho công nghệ RFID; Phổ biến áp dụng các loại mã số và mã vạch mới được tiêu chuẩn hóa và chấp nhận quốc tế. Bên cạnh đó, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam; Cập nhật và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp sử dụng mã vạch, bằng tiếng Anh và tiếng Việt.
 

Hàng loạt biện pháp khả thi cũng cần sớm được triển khai như tham gia mạng Đăng ký thông tin toàn cầu của GS1 - mạng GEPIR Global; Nghiên cứu triển khai thiết lập Catalog điện tử sản phẩm sử dụng mã vạch; Hỗ trợ các doanh nghiệp của Việt Nam chuẩn bị điều kiện đăng ký tham gia các mạng toàn cầu - GR (Global Registry); GDSN (Global Data Synchronization Network); EPC Global. Thúc đẩy và giúp các bộ ngành trong hoạt động ứng dụng MSMV. Đặc biệt, các lĩnh vực như quản lý nhân sự (quản lý công chức, thẻ chứng minh nhân dân...), truy tìm nguồn gốc thực phẩm (bao gồm cả thuỷ sản và rau sạch), trong ngành y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng... rất cần được khuyến khích, tăng cường ứng dụng MSMV.
 

Ngày 19/1/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 100/QĐ-TTg phê duyệt Đề án triển khai áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc, trong đó đặt ra mục tiêu đến năm 2025 tối thiểu 30% các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sử dụng mã số, mã vạch tại Việt Nam có hệ thống truy xuất nguồn gốc áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế, đảm bảo khả năng tương tác, trao đổi dữ liệu với các hệ thống truy xuất nguồn gốc của doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

https://www.most.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Công bố xếp hạng an toàn thông tin mạng của các cơ quan, tổ chức nhà nước năm 2019 (30/9/2020)
Đồng Nai: Xây dựng mô hình chăn nuôi vịt siêu thịt an toàn, hiệu quả (30/9/2020)
Cảnh báo đa tai biến ở miền núi bằng các công nghệ 4.0 (29/9/2020)
Sản xuất thử nghiệm xúc xích lên men khô và bán khô bằng công nghệ vi sinh (29/9/2020)
Giải pháp chính sách hỗ trợ phát triển các tổ chức trung gian trên thị trường KH&CN Việt Nam (29/9/2020)
Khoa học và công nghệ góp phần định hướng phát triển bền vững chăn nuôi (29/9/2020)
Truyền thông khoa học: Thúc đẩy ứng dụng nghiên cứu vào thực tế (29/9/2020)
AI thúc đẩy dịch vụ y tế số (28/9/2020)
Băng ca áp lực âm 'made in VietNam' (28/9/2020)
Việt Nam - Hình mẫu của các nước đang phát triển trong thiết lập hệ thống đổi mới sáng tạo (28/9/2020)
Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới góp phần phòng chống, giảm nhẹ thiên tai (28/9/2020)
Chính sách thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Thực trạng và giải pháp (28/9/2020)
Hỗ trợ, thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam (28/9/2020)
Tổ chức Hội nghị và Triển lãm Thế giới số trên nền tảng trực tuyến của Việt Nam (28/9/2020)
Xử lý nước thải dệt nhuộm: Hệ thống tích hợp nhiều bộ lọc (28/9/2020)
Sản xuất vải chứa nano bạc diệt khuẩn (28/9/2020)
Lần đầu tiên thi Olympic Toán trực tuyến (25/9/2020)
Biệt hóa tế bào chức năng gan từ tế bào gốc người và chuột (25/9/2020)
Tọa đàm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong y tế (24/9/2020)
Ứng dụng công nghệ cao trong nuôi tôm (24/9/2020)
Xe phun thuốc trừ sâu tự hành cho ruộng lúa (24/9/2020)
Ra mắt nền tảng thương mại điện tử dành cho thị trường Việt Nam (24/9/2020)
Thương mại hóa công nghệ: Cần hỗ trợ kịp thời (24/9/2020)
Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tiếp tục tăng cao (24/9/2020)
Doanh nghiệp còn ngại thành lập và sử dụng Quỹ Phát triển KH&CN (24/9/2020)
Đề xuất Danh mục các công nghệ chủ chốt cuộc Cách mạng CN lần thứ tư (24/9/2020)
Việt Nam chính thức sản xuất máy bay không người lái dùng trong nông nghiệp (22/9/2020)
Nghiên cứu chế phẩm sản xuất bột giấy: Xác lập quy trình công nghệ mới (22/9/2020)
Hai học sinh đoạt giải đặc biệt cuộc thi khoa học tại Canada (22/9/2020)
Truyền thông thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng (21/9/2020)
Hệ thống sấy hồng ngoại: Nâng cao giá trị các loài cây bản địa (21/9/2020)
Ra mắt cẩm nang chuyển đổi số: Tri thức mở cho mọi người (21/9/2020)
KHCN trong kinh tế vườn: “Đi ngay, đi nhanh và đi chính xác” (21/9/2020)
97% thủ tục hành chính được giải quyết đúng hẹn nhờ dịch vụ công trực tuyến (20/9/2020)
Xe chạy bằng điện và hydro sẽ lên ngôi vào năm 2040 (20/9/2020)
Nguồn điện tư nhân tăng gấp đôi trong cơ cấu nguồn điện quốc gia (20/9/2020)
Năm 2025, Việt Nam vào tốp 4 quốc gia hàng đầu ASEAN về Chính phủ điện tử (20/9/2020)
Diễn đàn Công nghệ và Năng lượng Việt Nam 2020 (20/9/2020)
Chip vi lưu xét nghiệm máu phát hiện sớm ung thư phổi (20/9/2020)
Rút ngắn thời gian nuôi cua lột bằng chiết xuất thông đỏ (20/9/2020)
Bộ KH&CN và Bộ KH&ĐT: Chung tay thúc đẩy đổi mới sáng tạo (20/9/2020)
Aus4Innovation tài trợ hơn 2 triệu AUD cho 5 dự án Úc- Việt (20/9/2020)
Ra mắt Viện Nghiên cứu đổi mới và phát triển bền vững (17/9/2020)
Tăng cường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học (17/9/2020)
​Khoa học công nghệ - nền tảng, động lực cho phát triển (17/9/2020)
Thương mại điện tử: Bứt tốc mạnh mẽ (16/9/2020)
40 dự án vào vòng chung kết Giải thưởng ĐMST và Khởi nghiệp TPHCM I-Star (16/9/2020)
Current Index xếp hạng 10 cơ sở nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam trong một số lĩnh vực (16/9/2020)
Triển lãm trực tuyến Năng lượng mặt trời Việt Nam 2020: Kết nối cung ứng cho doanh nghiệp (16/9/2020)
Hỗ trợ điều trị bệnh ung thư: Sản xuất hỗn hợp alkaloit từ lá đu đủ (16/9/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Quyết định số 261/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn xét giao trực tiếp đề tài "Nghiên cứu hoàn thiện các quy trình nhân giống và xây dựng mô hình trồng thử nghiệm cây 7 lá một hoa (Paris Poluphylla Sm) tại vùng Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Quảng Trị"

Quyết định số 260/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn xét giao trực tiếp đề tài: Khảo nghiệm một số giống dừa xiêm có triển vọng để đánh giá khả năng thích nghi và hiệu quả kinh tế, nhằm góp phần phục vụ công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại tỉnh Quảng Trị

Quyết định số 359/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn xét giao trực tiếp đề tài "Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong chế biến sâu, nhằm nâng cao giá trị hàng hóa các sản phẩm từ nấm sò tươi tại tỉnh Quảng Trị"

Báo cáo số 116/BC-SKHCN về việc Báo cáo tổng kết đánh giá Chương trình Năng suất chất lượng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Quyết định số 258/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, kiểm tra giữa kỳ đối với đề tài: "Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá Leo phù hợp tại tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 2757/QĐ-UBND về việc Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết qua dịch vụ bưu chính trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Kế hoạch số 38 /KH-SKHCN về việc Kế hoạch Soạn thảo báo cáo tổng kết công tác phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2015-2020, định hướng giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030 và Quy hoạch ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh đến năm 2030.

Báo cáo số 115/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh giao quý 3/2020

Quyết định số 255/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Ban Biên tập phục vụ công tác xuất bản cuốn sách "Địa chí Quảng Trị"

Thông báo số 47/TB-SKHCN về việc Thông báo về việc đề xuất và đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh và cấp cơ sở, bắt đầu thực hiện năm 2021

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ bảo tồn và phát triển cây Lan Giả Hạc

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại thôn Quyết Tâm, xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Lan Kim Tuyến tại vùng Bắc Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu xây dựng CSDL số về di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị và những điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm chiến dịch năm 1972, góp phần hỗ trợ phát triển du lịch Quảng Trị

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: "Nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 340
Hôm nay 1.350
Hôm qua 4.783
Tất cả 2.497.756

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này