Thứ Bảy, 31/10/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Ba, ngày 01/9/2020

Nhựa phân hủy sinh học và tiềm năng phát triển ở Việt Nam
Thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa đang ở mức báo động và trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia. Một trong những giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này là thay thế các sản phẩm nhựa truyền thống bằng nhựa phân hủy sinh học (NPHSH) thân thiện môi trường. Bài viết đề cập một số nét về thực trạng, tiềm năng và giải pháp phát triển loại vật liệu này trong thời gian tới ở nước ta.
Hình 1. (A) Cơ chế phân hủy sinh học của polyme, (B) Chu trình sinh học của nhựa có khả năng phân hủy sinh học.

Nhựa phân hủy sinh học

NPHSH là loại nhựa có thể bị phân hủy bởi các vi sinh vật, thường là vi khuẩn tạo thành nước, carbon dioxide và sinh khối trong một khoảng thời gian xác định. Các sản phẩm sau phân hủy có thể tiếp tục tham gia vào chu trình carbon và không để lại bất kỳ hợp chất nào có thể gây hại cho môi trường. Nhìn chung, quá trình phân hủy sinh học polyme có thể được chia thành 4 giai đoạn: suy thoái sinh học, phân rã polyme, phân hủy sinh học và khoáng hóa (hình 1).

Một loại nhựa được coi là nhựa sinh học (NSH) nếu nó được sản xuất một phần hoặc toàn bộ bởi các polyme có nguồn gốc sinh học. Không phải tất cả các loại NSH đều có khả năng phân hủy sinh học. Chẳng hạn như nhựa bio-PE, bio-PP, bio-PET có nguồn gốc sinh học nhưng chúng có các tính chất tương đồng với nhựa cùng loại được sản xuất từ nguồn dầu mỏ, nghĩa là không có khả năng phân hủy sinh học. 

NSH và NPHSH được phân loại thành các nhóm như sau: 1) Nhựa có nguồn gốc sinh học không phân hủy (Bio-based plastics): nhóm này được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tái tạo (tinh bột ngô, khoai, sắn…), gồm các loại nhựa như PE (polyethylen), PET (polyetylen terephthalate), PA (polyamide) và gần đây là PP (polypropylen), PEF (polyethylene furanoate). 2) NSH phân hủy hoàn toàn (Bio-based và Biodegradable plastics): nhóm này được sản xuất từ nguyên liệu sinh học hoặc bằng con đường sinh học, gồm PLA (polylactic acid), PHA (polyhydroxyalkanoates), TPS (thermoplastic starch), hỗn hợp tinh bột và các loại khác. 3) NPHSH có nguồn gốc dầu mỏ (Biodegradable plastics): nhóm này chủ yếu gồm PBAT (Polybutylene adipate terephthalate), PCL (polycaprolactone),  PBS (polybutylene succinate), NPHSH bao gồm PLA, PHA, hỗn hợp tinh bột và các loại khác hiện chiếm hơn 55% (1,17 triệu tấn) tổng lượng NSH trên thế giới. Trong đó PLA chiếm 24%, hỗn hợp tinh bột (44%), các polyester phân hủy sinh học khác 23% và PHA (6%). Sản lượng NPHSH dự kiến sẽ tăng lên 1,33 triệu tấn vào năm 2024, trong đó dự báo tốc độ tăng trưởng của PHA là nhanh nhất, ước tính tăng gấp 3 lần trong 5 năm tới. Trên thế giới, NPHSH được quan tâm phát triển do có nhiều ưu điểm như: thân thiện với môi trường; được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu tái tạo; an toàn cho người sử dụng; có khả năng tái chế…

Phát triển NPHSH ở Việt Nam và một số đề xuất

Thời gian gần đây, ngành nhựa Việt Nam là một trong các ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ (đạt 17,5% giai đoạn 2011-2020, chỉ sau ngành viễn thông và dệt may). Sản lượng nhựa ở nước ta năm 2019 đạt 8,9 triệu tấn, lượng nhựa tiêu thụ bình quân năm 2019 là 41 kg/người, cao gấp hơn 10 lần so với lượng tiêu thụ 3,8 kg/người vào năm 1990.

Cùng với xu hướng phát triển của ngành nhựa thế giới, việc nghiên cứu sử dụng NSH, NPHSH hiện đang là mối quan tâm của các doanh nghiệp nhựa trong nước. Quan điểm phát triển ngành nhựa Việt Nam là phải đạt hiệu quả cao và bền vững, gắn liền với bảo vệ môi trường. Một số công ty đã nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm NPHSH như An Phát bioplastics đã phát triển thành công NPHSH có thể phân hủy hoàn toàn (100% compostable) mang nhãn hiệu AnEco, gồm các sản phẩm như: túi nilon, găng tay, dao, nĩa, ống hút, màng nông nghiệp… được sử dụng trong nước và xuất khẩu. Các công ty: Biostarch, Cổ phần sản xuất nhựa Phú Mỹ (PMP)... đã sử dụng kết hợp tinh bột và nhựa nguyên sinh PE, PP với hàm lượng tinh bột lên đến 40% để sản xuất sản phẩm có khả năng phân hủy sinh học. Một số hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi (Co.opmart, Vinmart, Big C, Mega Market, Lotte…) đã giảm dần việc sử dụng túi nhựa một lần, thay thế bằng các loại bao bì thân thiện môi trường. Hiện nay tỷ trọng NPHSH so với tổng lượng nhựa sử dụng ở Việt Nam vẫn còn thấp. Trong tương lai, nếu tỷ trọng này được nâng cao gần với tỷ trọng chung của thế giới thì đến năm 2025 tổng nhu cầu NPHSH của Việt Nam là khoảng 80 nghìn tấn/năm, như vậy tiềm năng phát triển đối với NPHSH là rất đáng kể.

Ngoài ra, trên phương diện vĩ mô, với quan điểm nhất quán là phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường, Chính phủ và các bộ, ngành đã và đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương 1; ban hành chỉ thị tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa 2. Việt Nam phấn đấu đến năm 2021 các cửa hàng, chợ, siêu thị ở đô thị không sử dụng đồ nhựa dùng một lần và đến năm 2025 cả nước không sử dụng đồ nhựa dùng một lần.  Đây cũng là một động lực để thúc đẩy sự phát triển của NPHSH ở Việt Nam trong tương lai.

Có thể khẳng định, khuyến khích sử dụng và phát triển NPHSH ở nước ta là phù hợp với xu thế chung của thế giới. Để hiện thực hóa mục tiêu này ở nước ta, cần quan tâm giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, cần có lộ trình cụ thể và các giải pháp đồng bộ để hạn chế dần các sản phẩm nhựa dùng một lần và tăng cường sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường. Hiện nay chưa có chính sách thuế phù hợp khiến giá thành NPHSH cao nên đã không tạo động lực khuyến khích người tiêu dùng sử dụng. Vì vậy, cần ban hành một số chính sách ưu đãi về thuế, phí cũng như hỗ trợ, khuyến khích đối với các doanh nghiệp sản xuất NPHSH để giảm giá thành sản phẩm, đồng thời mở rộng đối tượng chịu thuế và tăng mức thuế đối với túi nilon, bao bì và sản phẩm nhựa gốc (virgin plastics); kiểm tra ngăn chặn các hành vi trốn thuế bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với túi nilon.

Hai là, cùng với việc thúc đẩy sản xuất, trong xu hướng sản xuất gắn liền với sử dụng, tái sử dụng sản phẩm của nền kinh tế tuần hoàn hiện nay, cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng về nguy cơ ô nhiễm nhựa để tiến tới từ bỏ thói quen sử dụng túi nilon và các sản phẩm nhựa khó phân hủy và chuyển sang sử dụng các sản phẩm NPHSH. Triển khai giải pháp 3R (Reduce - Reuse - Recycle) và có lộ trình mở rộng giải pháp 3R lên 5R (Refuse - Reduce - Reuse - Recycle - Rot) 3. Từng bước triển khai hiệu quả công tác phân loại rác tại nguồn kèm theo xây dựng hệ thống xử lý rác thải đồng bộ để tăng cường thu hồi và tái chế sản phẩm nhựa.

Ba là, hiện nước ta chưa ban hành các tiêu chuẩn cụ thể đối với các sản phẩm NPHSH cũng như chưa có phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn đánh giá NPHSH, dẫn đến bất cập trong việc kiểm định, đánh giá các sản phẩm dán nhãn NPHSH. Hiện nay, một số đơn vị nghiên cứu về vật liệu polymer phân hủy sinh học ở các trường đại học, viện nghiên cứu đã có một số nghiên cứu khá bài bản và thu được những kết quả đáng khích lệ về NPHSH. Nếu có các chính sách ưu tiên hỗ trợ kinh phí cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về NPHSH, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ sản xuất nhựa thân thiện với môi trường nhằm thay thế nhựa truyền thống sẽ giúp triển khai hiệu quả việc ứng dụng NPHSH trong thực tiễn.

Bốn là, các doanh nghiệp ngành nhựa cần phải thay đổi công nghệ sản xuất để hướng đến các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Từng bước dịch chuyển từ việc sử dụng nguồn nguyên liệu dầu mỏ sang sử dụng nguồn nguyên liệu tái tạo (các nhà máy sản xuất PE, PP trong các khu liên hợp lọc hóa dầu có thể chuyển đổi để sản xuất thêm các loại nhựa bio-PE, bio-PP, chuyển đổi một phần các nhà máy sản xuất bio-ethanol sang sản xuất PLA…) sẽ giúp ngành công nghiệp nhựa của Việt Nam thích ứng với xu hướng phát triển mới ngành nhựa của thế giới.

Ghi chú:

1 Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 14/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

2 Chỉ thị 33/CT-TTg ngày 20/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa.

3 Từ chối, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và quay vòng.

https://vjst.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Chương trình RDP - cầu nối cho các nhà nghiên cứu Việt Nam toàn cầu (29/10/2020)
60 dự án vào vòng bán kết cuộc thi Startup Wheel (29/10/2020)
Tuần lễ Kết nối công nghệ và ĐMST trong nông nghiệp (29/10/2020)
Phát triển khu công nghiệp thông minh: Xu thế tất yếu (29/10/2020)
Adobe vá lỗ hổng do chuyên gia Việt phát hiện (29/10/2020)
Triệu Phong đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất (27/10/2020)
Huy động tối đa mọi nguồn lực để phát triển KH&CN (27/10/2020)
Hướng phát triển kháng thể chống COVID-19 (27/10/2020)
Phát triển điện rác ở Việt Nam: Doanh nghiệp không thể độc hành (27/10/2020)
Startup cần luôn sẵn sàng cho những cuộc gặp chớp nhoáng với nhà đầu tư (27/10/2020)
Vinh danh các giải pháp góp phần chuyển đổi số quốc gia (26/10/2020)
Giải pháp quản lý truy xuất nguồn gốc vùng trồng (26/10/2020)
Nước mắm truyền thống Việt Nam sẽ có tiêu chuẩn và logo riêng (26/10/2020)
Thực hiện tiêu chuẩn, đo lường: Ngăn chặn hàng kém chất lượng (26/10/2020)
Sản xuất vaccine từ hạt giả virus gây bệnh lở mồm long móng (26/10/2020)
METALEX Vietnam 2020: Kết nối, chuyển giao công nghệ ngành cơ khí chế tạo (23/10/2020)
Công nghệ thực tế ảo giúp xác định mức độ bất ổn về mặt tâm lý của con người (23/10/2020)
Phát triển đô thị thông minh: Nhiệm vụ cốt lõi trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia (23/10/2020)
Trao Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam, Giải thưởng WIPO năm 2019 (23/10/2020)
Sản xuất vaccine vô hoạt nhũ dầu phòng cúm chủng mới A/H5N1 (23/10/2020)
Thuần dưỡng loài cá cảnh bản địa quý hiếm (23/10/2020)
Xử lý rác thải sau lũ bằng chế phẩm sinh học (23/10/2020)
Hội nghị thường niên của lãnh đạo các tổ chức năng suất quốc gia (23/10/2020)
Nền tảng tự động hóa quy trình đầu tiên tại Việt Nam (23/10/2020)
Beowulf Blockchain cung cấp nền tảng số cho Techfest 2020 (23/10/2020)
Năng suất - yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (21/10/2020)
Khởi nghiệp với khát vọng ham đọc sách (21/10/2020)
Tiềm năng ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý chất thải vi nhựa (21/10/2020)
Trung tâm TAC được vinh danh là cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc (21/10/2020)
Nghiên cứu chọn tạo giống khoai tây có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh mốc sương có thể sản xuất quanh năm tại Đà Lạt (21/10/2020)
Sử dụng chất khử để cải thiện hiệu quả của pin mặt trời perovskite toàn phần (21/10/2020)
Khai mạc ITU Digital World 2020: Toàn cầu cùng xây dựng thế giới số (21/10/2020)
Giảm hư hỏng trái thanh long bằng chế phẩm trichobrachin (21/10/2020)
Đề án 996: Đổi mới hoạt động đo lường theo hướng đồng bộ và hiện đại (21/10/2020)
Đổi mới hoạt động đo lường để hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp (19/10/2020)
Máy cày phao nổi cho vùng đất ngập nước (19/10/2020)
Dự án 1000 bộ gene: Khai thác nguồn dữ liệu gene của người Việt (19/10/2020)
Trao giải cuộc thi Phụ nữ khởi nghiệp năm 2020 (16/10/2020)
Sản xuất tinh dầu dược liệu bằng công nghệ tinh chế phân đoạn và nano (16/10/2020)
Chính phủ số là chiến lược trọng tâm quốc gia của Việt Nam (16/10/2020)
60% tiêu chuẩn của Việt Nam hài hòa tiêu chuẩn quốc tế, khu vực (16/10/2020)
“Gỡ khó” cho hoạt động thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ (16/10/2020)
Đề xuất tiêu chí xác định doanh nghiệp công nghệ cao (16/10/2020)
Khai mạc Hội nghị Pháp quy Hạt nhân toàn quốc lần thứ IV (16/10/2020)
Công nghệ xử lý triệt để bùn thải góp phần phát triển nông nghiệp xanh (16/10/2020)
Ứng dụng CRISPR/Cas chọn tạo giống lúa chống chịu các điều kiện bất lợi (16/10/2020)
Hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ (15/10/2020)
Nghiên cứu công nghệ chế tạo bạc hợp kim đồng - Graphite sử dụng trong ngành cán thép (15/10/2020)
Triển lãm trực tuyến về thiết bị, công nghệ ngành cơ khí (15/10/2020)
Hội nghị KH&CN hạt nhân trẻ: Nhiều báo cáo xuất phát từ các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước (15/10/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Báo cáo số 119/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả công tác tháng 10 và kế hoạch tháng 11 năm 2020

Kế hoạch số 05/KH-SKHCN về việc Kế hoạch tuyên truyền về cải cách hành chính năm 2020 của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị

Kế hoạch số 42/KH-SKHCN về việc Kế hoạch tổ chức Cuộc thi tìm hiểu Công tác cải cách hành chính năm 2020 của Sở Khoa học và Công nghệ

Quyết định số 284/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh "Phát huy những phẩm chất tốt đẹp của con người Quảng Trị trong thời kỳ hội nhập và phát triển"

Quyết định số 283/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: "Nghiên cứu xây dựng mô hình kết nối Cung - Cầu hàng hóa hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế"

Quyết định số 276/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn thẩm định đề cương nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp cơ sở xét giao trực tiếp, thực hiện năm 2020: "Xử lý chất thải chăn nuôi lợn, gà và tận dụng sản xuất phân bón hữu cơ chất lượng phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 277/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn thẩm định đề cương nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp cơ sở xét giao trực tiếp, thực hiện năm 2020: "Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận "Gạo sạch Diên Sanh" dùng cho sản phẩm gạo của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 278/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn thẩm định đề cương nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp cơ sở xét giao trực tiếp, thực hiện năm 2020: "Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030"

Quyết định số 275/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2020 (lần 3)

Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định nội dung nhiệm vụ TXTCN của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở KH CN thực hiện năm 2021

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ bảo tồn và phát triển cây Lan Giả Hạc

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại thôn Quyết Tâm, xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Lan Kim Tuyến tại vùng Bắc Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu xây dựng CSDL số về di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị và những điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm chiến dịch năm 1972, góp phần hỗ trợ phát triển du lịch Quảng Trị

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: "Nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 139
Hôm nay 3.412
Hôm qua 5.033
Tất cả 2.617.773

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này