Thứ Bảy, 31/10/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Hoạt động KH&CN cơ sở
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 03/9/2020

Đánh thức tiềm năng vùng cát: Nhìn từ một dự án thuộc chương trình nông thôn miền núi ở Quảng Trị
Với sự nỗ lực trong việc thực hiện dự án một cách khoa học, bài bản, dự án “Ứng dụng tiến bộ KH&CN trong chăn nuôi bò nhằm chuyển đổi sinh kế cho người dân ở vùng cát ven biển chịu ảnh hưởng sự cố môi trường biển tỉnh Quảng Trị” (dự án) thuộc Chương trình Nông thôn miền núi đã đạt được kết quả rõ nét, đánh thức được tiềm năng, thế mạnh vùng cát, đem lại hiệu quả thiết thực cho người dân, được Hội đồng nghiệm thu các cấp đánh giá cao. Về vấn đề này, phóng viên Đặc san KH&CN đã có cuộc trao đổi với ông Đào Ngọc Hoàng- Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN Quảng Trị - Chủ nhiệm dự án để hiểu rõ hơn về những kết quả đạt được cũng như lợi ích thiết thực mà dự án mang lại.
Hội nghị triển thực hiện dự án KH&CN phát triển sản xuất phục vụ chuyển đổi sinh kế cho người dân chịu ảnh hưởng sự cố môi trường biển tại Quảng Trị. Ảnh: Tư liệu
PV: Thưa ông, được biết vùng thực hiện dự án là vùng khó bởi điều kiện tự nhiên, kinh tế cũng như tập quán chăn nuôi của người dân nơi đây. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về lý do Quảng Trị chọn dự án này để thực hiện?

Ông Đào Ngọc Hoàng: Từ thực tế chăn nuôi bò ở vùng cát ven biển trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế, chăn nuôi chỉ mang tính tận dụng, quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, phương thức chăn nuôi còn lạc hậu; chuồng trại chăn nuôi đơn sơ, tạm bợ, chất lượng con giống thấp; chăn nuôi chủ yếu theo hướng chăn thả và chăn dắt; chưa quan tâm đến phát triển chất lượng đàn và nâng cao giá trị; chưa chú trọng việc tận dụng, xử lý và chế biến thức ăn; việc trồng cỏ nuôi bò còn rất hạn chế do cỏ trồng ở vùng cát thiếu nước, năng suất thấp; chưa áp dụng tốt các quy trình, công nghệ mới trong chăn nuôi bò nên hiệu quả chăn nuôi còn thấp. Sản xuất chăn nuôi chưa thu hút được sự quan tâm người dân vùng biển, chưa tận dụng được lợi thế và tiềm năng của vùng. Bên cạnh đó công tác phát triển chăn nuôi bò còn thiếu công tác quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, dự án phát triển chăn nuôi bò dài hơi, chưa quy hoạch được vùng phát triển chăn nuôi bò, chưa xác định được giải pháp ưu tiên phát triển, chưa có chính sách, khuyến khích đầu tư thích đáng... nên chăn nuôi bò đang phát triển dưới dạng tự phát, nhỏ lẻ và không tập trung. Do vậy thời gian qua chăn nuôi bò ở vùng cát ven biển trên địa bàn tỉnh chưa đem lại hiệu quả cao. Nhằm phát triển đàn bò có chất lượng, chăn nuôi bò mang lại hiệu quả, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng cát ven biển là hết sức cần thiết.

Mặt khác, trong bối cảnh chuyển đổi hình thức, phương án sản xuất đối với hiện tượng cá chết hàng loạt và từ thực trạng chăn nuôi bò ở địa phương còn nhiều vấn đề bất cập, để hướng tới một nền nông nghiệp phát triển cân đối, bền vững, theo hướng sản xuất hàng hoá theo chủ trương tái cơ cấu ngành chăn nuôi nhằm nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân và để chuyển đổi sinh kế cho người dân vùng cát ven biển, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống khi sự cố môi trường biển chưa được khắc phục… là những lý do để Sở KH&CN đề xuất và thực hiện dự án.

PV: Thưa ông, được biết dự án thực hiện đã mang lại những hiệu quả thiết thực, được hội đồng cấp tỉnh đánh giá xuất sắc, đặc biệt là người dân vùng thực hiện dự án hưởng ứng, nhân rộng và phấn khởi bởi những kết quả thiết thực mà nó mang lại. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về vấn đề này?

Ông Đào Ngọc Hoàng: Dự án được triển khai từ năm 2017 tại 8 xã của 4 huyện vùng biển của tỉnh chịu ảnh hưởng sự cố môi trường biển gồm các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Thạch (cũ) (huyện Vĩnh Linh); Trung Giang, Gio Hải (Gio Linh); Triệu Vân, Triệu Lăng (Triệu Phong); Hải An, Hải Khê (Hải Lăng). Sau 3 năm thực hiện, dự án đã tiếp nhận và chuyển giao thành công 7 quy trình, công nghệ mới trong chăn nuôi bò và 5 quy trình sản xuất chế phẩm vi sinh vật dùng trong chăn nuôi cho cán bộ kỹ thuật và người dân vùng ven biển thông qua các hoạt động đào tạo, huấn luyện và tập huấn cho 10 cán bộ kỹ thuật (Khuyến nông và thú y) cơ sở và 200 nông dân. Dự án đã tiến hành lựa chọn 8 hộ có đủ điều kiện để xây dựng mô hình chăn nuôi bò thâm canh gia trại với các nội dung: Cải tạo chuồng trại; thu gom, chế biến, dự trữ thức ăn; trồng cỏ trên cát và áp dụng đầy đủ các quy trình công nghệ về chăm sóc, quản lý, vệ sinh phòng trừ dịch bệnh, thực hiện phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, thực hiện các kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng bò cái sinh sản, bò thịt thâm canh và bò vỗ béo. Mỗi hộ nuôi tối thiểu 4 bò cái sinh sản, 3 bò thịt và 3 bò vỗ béo/lứa. Dự án hỗ trợ một phần giống cỏ, thức ăn tinh và chuyển giao các quy trình, công nghệ về trồng cỏ, chế biến thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng...Để đảm bảo thức ăn cho đàn bò dự án yêu cầu mỗi hộ trồng tối thiểu 5 sào cỏ và chế biến 10m3 thức ăn thô xanh (ủ chua). Đối với mô hình nuôi nông hộ áp dụng nuôi nuôi bò cái sinh sản bán thâm canh với quy mô 48 hộ, mỗi hộ nuôi tối thiểu 02 con cũng áp dụng các nội dung như nuôi gia trại nhưng quy mô nhỏ hơn. Đồng thời, xây dựng vùng giống bò bước đầu có gần 130 bò cái sinh sản, hằng năm sản xuất trên 100 bò giống chất lượng cao phục vụ nuôi bò cho ngư dân ven biển. Quá trình thực hiện dự án luôn có sự theo sát, đồng hành của cán bộ cơ sở; sự hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia của cơ quan chuyển giao công nghệ (Đại học Nông lâm Huế) có sự chỉ đạo thường xuyên của các cán bộ kỹ thuật của dự án và sự kiểm tra, đôn đốc của Sở Khoa học và Công nghệ và cơ quan chủ trì dự án.

 

Đào tạo cán bộ kỹ thuật cơ sở, tập huấn kỹ thuật cho người dân. Ảnh: Trần Quang Phú

Có thể nói sau 3 năm thực hiện, dự án đã đạt được những kết quả nhất định, mang lại hiệu quả về mặt xã hội cũng như kinh tế, môi trường rõ nét.

Về mặt xã hội, có thể nói nhận thức của người dân được nâng lên, thông qua dự án cũng đã giúp người dân phát huy năng lực tổ chức sản xuất, năng lực hạch toán kinh tế, năng lực ứng dụng tiến bộ KH&CN và đặc biệt là kỹ thuật chăn nuôi bò được nâng lên một bước lớn, từ đây đã cũng cố thêm niềm tin của người dân vào các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, mạnh dạn hơn nữa trong áp dụng các tiến bộ KH&CN. Tôi cho đây là một hiệu ứng tốt về mặt xã hội. Đây là dự án thực hiện ở vùng khó, quy mô lớn và thực hiện tổng hợp nhiều giải pháp kỹ thuật với yếu tố ứng dụng KH&CN vào thực tiễn rất thiết thực. Mặt khác trong quá trình thực hiện đơn vị chủ trì đã được nâng cao năng lực về công tác tổ chức thực hiện; công tác kiểm tra, đánh giá; công tác phối hợp với địa phương; công tác huy động tiềm lực của nhân dân; công tác tiếp cận cơ sở, đưa KH&CN vào sản xuất; kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng phân tích đánh giá…

Về lao động, đã tận dụng được nguồn lao động phổ thông và nhàn rỗi ở địa phương, mọi người trong gia đình ai cũng có thể tham gia, đặc biệt người lớn tuổi và học sinh THCS, THPT cũng có thể phụ giúp gia đình vào thời gian rãnh rỗi; đối với một số người có trình độ hoặc bậc cha mẹ có nhận thức tốt có thể điều hành hoạt động chăn nuôi của gia đình mình thông qua kế hoạch thu gom, chế biến và xử lý phế phụ phẩm; thông qua việc phân công lao động hợp lý; thông qua công tác lập kế hoạch chăn nuôi, thông qua công tác quản lý quy trình công nghệ và quy trình phòng bệnh.

Về công nghệ được chuyển giao, đã chủ động hoàn toàn về nguồn thức ăn bất cứ thời gian hay mùa vụ như thế nào nhờ lượng thức ăn dự trữ, chế biến và lượng cỏ trồng thu cắt được; hoàn toàn toàn kiểm soát được dịch bệnh do áp dụng quy trình phòng bệnh. Việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật của dự án đơn giản, chi phí rất thấp, dễ thực hiện đặc biệt là vấn đề gải quyết thức ăn thô xanh cho bò hết sức hiệu quả và giúp người chăn nuôi vùng cát chủ động nguồn thức ăn với hiệu quả cao; kỹ thuật chăn nuôi bò qua các giai đoạn đơn giản, dễ thực hiện. Các giải pháp kỹ thuật áp dụng cho từng đối tượng bò nuôi khác nhau cũng như quy trình vệ sinh phòng bệnh được áp dụng triệt để. Người dân hoàn toàn kiểm soát được đàn bò của mình, kiểm soát được khả năng sinh trưởng, phát triển qua từng giai đoạn nên hết sức yên tâm; hoàn toàn kiểm soát được chất lượng con giống (Bò mẹ có lý lịch rõ ràng, phối giống bằng phương pháp Thụ tinh nhân tạo - Con bố 100% máu ngoại - (Giống nhóm Zê Bu) ở các thế hệ lai khác nhau và có thể điều chỉnh hướng phát triển đàn và sản xuất con giống phục vụ người chăn nuôi.

Về mặt môi trường, thông qua sử dụng chế phẩm vi sinh ủ phân chuồng, vừa có phân hoai mục chất lượng để trồng cỏ và sản xuất nông nghiệp vừa giảm thiểu hiện tượng ô nhiễm môi trường; công nghệ ủ xanh, ủ chua, chế biến phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho bò vừa đảm bảo được nguồn thức ăn thường xuyên, chất lượng cho bò vừa hạn chế hiện tượng đốt, vứt bỏ phế phụ phẩm nông nghiệp như trước đây giúp hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường; bảo vệ và cải tạo nguồn tài nguyên đất canh tác nhờ cung cấp phân hữu cơ chất lượng cao có tác dụng cải tạo đất, nâng cao độ phì và cải thiện tính chất cơ lý của đất, nhờ vậy đất không bị thoái hoá, bạc màu ở vùng đất cát ven biển; bảo vệ cây cối, rừng trồng nhờ áp dụng kỹ thuật chăn nuôi thâm canh có quản lý hạn chế bò phá hoại cây trồng.

Đối với hoạt động chăn nuôi bò ở địa phương. Thứ nhất, dự án sẽ mở ra một hướng sản xuất mới, sử dụng được tiềm năng sẵn có, lao động nhàn rỗi và đặc biệt đất cát bạc màu nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho lao động ở địa phương đặc biệt là người dân làm nghề biển khi sự cố môi trường biển xảy ra; Thứ hai, dự án là mô hình để người chăn nuôi bò ở địa phương học tập và làm theo từ đó người dân địa phương thay đổi được tập quán, phương thức chăn nuôi nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong chăn nuôi; Thứ ba, dần dần hình thành được nghề nuôi bò theo hướng thâm canh thay vì nuôi thả rông theo hình thức truyền thống trước đây; Thứ tư, dự án sẽ tăng thu nhập, tạo việc làm, giải quyết vấn đề lao động dôi dư theo tính thời vụ ở các vùng sản xuất thuần nông. Điều quan trọng là thay đổi được tập quán chăn nuôi trong nhân dân, tiến tới đẩy mạnh phương thức chăn nuôi thâm canh tăng năng suất. Thông qua việc thực hiện dự án này sẽ góp phần đoàn kết trong cộng đồng, bảo vệ an ninh thôn xóm, bảo vệ môi trường sinh thái; Thứ năm, thông qua việc thực hiện dự án, chăn nuôi bò của vùng cát ven biển sẽ được cải thiện, phát triển mạnh mẽ hơn, góp phần giải quyết việc làm cho người dân. Qua đó người dân có cơ hội tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo.

 

Hoạt động cấp bò giống, cỏ, thức ăn, chế phẩm vi sinh và thuốc thú y cho các hộ dân tham gia dự án. Ảnh: Trần Quang Phú
 
Về mặt kinh tế: Đối với mô hình chăn nuôi bò nông hộ cho lợi nhuận bình quân trên 30 triệu đồng/hộ/năm (mỗi năm cho 02 bò lai); mô hình nuôi gia trại đối với nuôi bò cái sinh sản là trên 60 triệu đồng/hộ/năm, nuôi bò thịt là 30 triệu đồng/hộ/năm (nuôi 04 bò thịt/ hộ/năm), nuôi bò vỗ béo là gần 40 triệu đồng/hộ/năm (mỗi hộ vỗ béo 6 con/ năm). Ngoài số bò do dự án hỗ trợ, nhờ áp dụng các quy trình, công nghệ mới đặc biệt là công nghệ chế biến thức ăn thì đối với số bò gia đình đã có hoặc đầu tư thêm thì sẽ tăng hiệu quả kinh tế sẽ tăng so với phương thức nuôi hiện tại lên khoảng 30%. Việc áp dụng các công nghệ chăn nuôi như chế biến và dữ trữ thức ăn, phòng trừ dịch bệnh, góp phần giải quyết thức ăn cho bò trong những mùa giá rét, làm giảm tối đa dịch bệnh và nguy cơ bò bị chết rét và chết đói, giảm thiểu rủi ra trong chăn nuôi. Ngoài ra, dự án sẽ mang lại hiệu quả lớn cho các địa phương vùng cát ven biển, vì rằng các hoạt động của dự án chủ yếu sử dụng nhân công với giá rẻ và nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương (sử dụng tài nguyên đất cát bạc màu, phế phụ phẩm nông nghiệp sẵn có và dự án sẽ sản xuất và cung ứng được một số lượng khá bò giống chất lượng tốt phục vụ công tác chăn nuôi bò trên địa bàn và trong tỉnh.

PV: Để có được kết quả như vậy, trong quá trình thực hiện đơn vị chủ trì đã phải nỗ lực như thế nào thưa ông?

Ông Đào Ngọc Hoàng: Có thể nói, trước hết là nhờ được sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Sở KH&CN, cùng với đó là sự phối hợp của các ban, ngành liên quan đặc biệt là sự phối hợp của các địa phương (UBND và các tổ chức Hội cấp xã) cũng như sự tận tâm, cố gắng, nỗ lực của các thành viên tham gia trong suốt quá trình thực hiện dự án.

Ngoài công tác cung cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y… đi kèm phải hết sức chú trọng về chất lượng, đúng tiêu chuẩn mà dự án đặt ra, khi bắt tay vào thực hiện, chúng tôi luôn trăn trở phải làm thế nào cho hiệu quả, giải quyết từng vấn đề cụ thể những trăn trở dù chỉ là nhỏ nhất của người dân. Xác định đối tượng hưởng thụ dự án là một nội dung quan trọng, vì thế chúng tôi lên tiêu chí rõ ràng, sau đó phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành khảo sát, đánh giá về tình hình đất đai, dân số, lao động, số hộ bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển, tình hình chăn nuôi, khả năng phát triển nuôi bò, nhu cầu chuyển đổi sinh kế… Trong quá trình thực hiện các hộ đã làm rất tốt và cũng rất vui được các hộ dân đánh giá đây là lần đầu tiên bà con được nhận bò từ một dự án sinh trưởng và phát triển tốt. Cũng rất vui trong quá trình triển khai tại một số xã, các hộ dân không thuộc đối tượng tham gia dự án nhưng đã chủ động áp dụng theo quy trình chăm sóc bò của dự án và hiệu quả đem lại rất phấn khởi.

Nội dung đào tạo góp phần quan trọng trong quá trình thực hiện dự án nên chúng tôi đã tổ chức các lớp tập huấn một cách bài bản; nội dung, phương pháp tập huấn gắn lý thuyết với thực hành, khuyến khích học viên đặt câu hỏi và được giải đáp cụ thể nên đã thu hút được học viên tham gia tích cực. Do vậy sau tập huấn, tất cả học viên đều nắm chắc các quy trình, công nghệ và thực hành một cách thành thạo.

Xác định được phương pháp tiếp cận cơ sở; huy động các lực lượng ở các địa phương và phương pháp phối hợp là một trong những yếu tố giúp dự án triển khai hiệu quả, đơn vị chủ trì đã sát cánh với chính quyền địa phương trong việc kiểm tra, đốc thúc thực hiện dự án. Bên cạnh đó chúng tôi tiến hành kiểm tra thực địa các tại hộ và thường xuyên liên lạc với các hộ vừa khuyến khích tinh thần, vừa kiểm tra về quá trình sinh trưởng, phát triển của đàn bò, và giải quyết được những vướng mắc, khó khăn nảy sinh mà các hộ dân gặp phải. Đây là việc làm tuy nhỏ nhưng đóng góp lớn vào kết quả của dự án.

PV: Ông có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm khi thực hiện dự án thuộc chương trình nông thôn miền núi?

Ông Đào Ngọc Hoàng: Với mỗi một dự án khác nhau, mục tiêu khác nhau sẽ có những đối tượng khác nhau, cách thức tiếp cận khác nhau, vì thế trong suốt quá trình triển khai các nội dung thực hiện chắc chắn sẻ khác… Tuy nhiên, trong khuôn khổ của dự án vừa thực hiện, chúng tôi đúc rút được một vài kinh nghiệm nhỏ có thể chia sẻ như sau:

Ngoài việc phải cung cấp sản phẩm đảm bảo chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn của dự án đưa ra thì sự đầu tư đồng bộ giữa yếu tố chuyển giao công nghệ, hướng dẫn kỹ thuật và cơ sở hạ tầng đáp ứng là rất quan trọng. Kinh nghiệm cho thấy thiếu một trong các yếu tố nói trên đều không phát huy được tác dụng, kết quả khi hết dự án bà con lại quay lại theo cách làm cũ, lạc hậu. Tất nhiên là cần có cơ chế phù hợp, không bao cấp, tránh ỷ lại, phải khuyến khích được bà con hăng hái đầu tư, làm giàu từ sản xuất nông nghiệpthực sự.

Một vấn đề nữa đó là phương pháp tiếp cận cơ sở. Muốn thực hiện một dự án đạt kết quả tốt chúng ta phải lên một kế hoạch rõ ràng ngay từ đầu, trong đó xác định đối tượng hưởng thụ và phải tiến hành khảo sát cơ sở, có thể khảo sát nhiều lần để chọn ra được đối tượng tham gia phù hợp nhất.

Tiếp đến là xác định con người thực hiện, làm sao chọn đúng người đúng việc, và phải huy động, quy tụ được nguồn nhân lực đã chọn để thực hiện một cách bài bản, nghiêm túc, đạt hiệu quả. Tất nhiên con người được chọn phải có tâm huyết, trách nhiệm với công việc.

Một nội dung quan trọng nữa là công tác tập huấn, đào tạo. Trong việc huấn luyện kỹ thuật, cần lưu ý tiến hành từng bước phù hợp trình độ tiếp thu của bà con; nâng dần mức độ ứng dụng từ đơn giản đến phức tạp, phối hợp tốt giữa cái hay của cách làm truyền thống với cái mới của công nghệ hiện đại phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng được đầu tư.

Công tác kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện một cách nghiêm túc, thường xuyên, kết hợp với trao đổi, chia sẽ kinh nghiệm, động viên, khuyến khích để tạo động lực nhất định, có như thế bà con mới hân hoan đón nhận, nghiêm túc thực hiện một cách hiệu quả.

PV: Từ kết quả mà dự án mang lại, với tư cách Chủ nhiệm dự án, là đơn vị chủ trì thực hiện, những đề xuất được đưa ra là gì thưa ông?

Ông Đào Ngọc Hoàng: Về cơ chế chính sách: Đây là mô hình rất phù hợp với điều kiện sản xuất ở Quảng Trị nói chung và vùng cát nói riêng, mang lại hiệu quả cao và có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế - xã hội vì vậy kính đề nghị UBND tỉnh và các địa phương có chính sách đặc thù để nhân rộng mô hình với các nội dung như: Tuyên truyền về kết quả, ý nghĩa và khuyến cáo nhân rộng; về hỗ trợ kỹ thuật: cần có chính sách hỗ trợ cho cán bộ cơ sở (cán bộ nông nghiệp, khuyến nông, thú y xã) để tư vấn, hỗ trợ, chỉ đạo kỹ thuật cho người dân ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào điều kiện chăn nuôi của gia đình mình và hỗ trợ người dân nhân rộng mô hình. Tập huấn kỹ thuật cho người chăn nuôi: Qua quá trình kiểm tra một số địa phương thấy hiệu quả của dự án đã đề nghị hỗ trợ tập huấn kỹ thuật chăn nuôi theo quy trình của dự án cho bà con chăn nuôi ở địa phương. Quan tâm, tạo điều kiện và hỗ trợ các địa phương, đơn vị ứng dụng các công nghệ dự án đã áp dụng hiệu quả vào thực tế sản xuất. Lồng ghép các hoạt động của dự án vào một số nội dung, chương trình các hoạt động khác phù hợp. Đặc biệt là các phương pháp, giải pháp về tổ chức thực hiện. Quan tâm công tác xử lý chất thải chăn nuôi, có chính sách hỗ trợ chế phẩm vi sinh vật để bổ sung, xử lý thức ăn và ủ phân compost. Có chính sách hỗ trợ lãi suất và tạo điều kiện cho các hộ có nhu cầu sản xuất, phát triển đàn bò vay vốn. Cần có sự vào cuộc của các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương để nhân rộng mô hình.

Về tổ chức quản lý: Giải pháp quản lý của dự án thiết thực và hiệu quả nhờ sự tham gia tích cực của các Ban, Ngành và các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở (cấp thôn) do vậy các hoạt động của dự án luôn được công khai, minh bạch và có sự giám sát, đanh giá của cơ quan quản lý, chuyên môn và của địa phương, cộng đồng do vậy luôn tạo được sự đồng thuận cao. Giải pháp quản lý mà dự án áp dụng rất hiệu quả, đề nghị nhân rộng mô hình quản lý này.

Nhân rộng mô hình quản lý ở xã Hải An - Hải Lăng: Trong tổ chức thực hiện UBND xã đã thành lập BQLDA có sự tham gia của các tổ chức Chính trị - Xã hội và các Ban, Ngành ở địa phương và BQLDA đã phân công mỗi tổ chức và đơn vị “đỡ đầu” 01 hộ và sau đó đánh giá kết quả chăn nuôi của từng hộ rồi so sánh giữa các hộ. Cách làm này đã đưa kết quả thực hiện mô hình tại địa phương đạt kết quả cao nhất trên toàn tỉnh.

Về phát triển chăn nuôi bò: Ở Quảng Trị bò được xác định là vật nuôi chủ lực (6 cây - 2 con chủ lực) đây là đối tượng vật nuôi “An toàn và Hiệu quả” tuy nhiên để phát triển chăn nuôi bò bền vững từng địa phương cần làm tốt công tác quy hoạch, công tác phát triển đồng cỏ (kể cả phương án sử dụng đất bạc màu, đất sản xuất hiệu quả thấp để trồng cỏ) đặc biệt là có chính sách để hỗ trợ kỹ thuật để người dân yên tâm phát triển sản xuất. Nhân rộng mô hình của xã Triệu An - Triệu Phong và Vĩnh Thạch - Vĩnh Linh sau khi bò cái của mô hình sinh sản hộ chăn nuôi nông hộ sẽ chuyển giao lại cho UBND xã 01 bê cái và hộ chăn nuôi gia trại chuyển giao cho UBND xã 02 bê cái đạt 10-12 tháng tuổi để chuyển giao cho hộ khác để tiếp tục thực hiện mô hình như dự án trước đây.

Có thể khẳng định Chương trình nông thôn miền núi rất có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của những vùng còn khó khăn, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, vùng cát ven biển trong cả nước nói chung và tỉnh Quảng trị nói riêng. Thông qua hoạt động xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển sản xuất và đời sống đã giúp cho người dân tiếp cận nhanh những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất, đem lại hiệu quả. Hy vọng rằng với những hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của dự án mang lại, dự án sẽ được nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh. Từ đó, đánh thức được tiềm năng, thế mạnh vùng cát và tạo sinh kế bền vững cho ngư dân vùng biển. 

 
PV: Vâng, xin cảm ơn ông. 
Thực hiện: Trần Phượng
Đặc san KH&CN Quảng Trị
Tin, bài cùng lĩnh vực
Ứng dụng công nghệ sấy lạnh trong chế biến nông sản (29/10/2020)
Vĩnh Thủy chú trọng phát triển mô hình kinh tế nông nghiệp (29/10/2020)
Vĩnh Linh đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp (26/10/2020)
Nhiều dự án ứng dụng KHCN nhân rộng trong đời sống (19/10/2020)
Thí điểm mô hình sản xuất giống cá leo (16/10/2020)
Bước đột phá trong ứng dụng khoa học và công nghệ (15/10/2020)
Giải pháp để phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản bền vững (15/10/2020)
Lập nghiệp trên đất khó (15/10/2020)
Thử nghiệm giống cà phê mới trên đất Hướng Hóa (06/10/2020)
Vĩnh Linh: Trên 6 tỷ đồng đầu tư thực hiện các mô hình sản xuất công nghệ cao (06/10/2020)
Hướng đi hiệu quả từ trồng cây lâu trầm sản xuất hương (05/10/2020)
Nỗ lực xây dựng thương hiệu miến Loan Hảo (05/10/2020)
Lão nông đam mê sáng chế máy phục vụ sản xuất nông nghiệp (30/9/2020)
Thẩm định đề tài KHCN xây dựng mô hình nuôi cá chình trong bể xi măng tại huyện Vĩnh Linh (25/9/2020)
Hướng Hóa: Phát triển các mô hình kinh tế mới ở vùng khó (22/9/2020)
Trồng mướp đắng trái vụ cho thu nhập cao ở các xã vùng cát Hải Lăng (22/9/2020)
Xây dựng thương hiệu cho gạo hữu cơ Quảng Trị (22/9/2020)
Cam Lộ: Thử nghiệm mô hình nuôi tôm càng xanh và cá leo (21/9/2020)
Sở KH&CN làm việc với UBND Huyện Hướng Hóa về hoạt động KH&CN 9 tháng năm 2020 (21/9/2020)
Thị xã Quảng Trị: Phát triển cây dược liệu gắn với Chương trình OCOP (20/9/2020)
Ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh (20/9/2020)
Vĩnh Linh: Trao giải cuộc thi Sáng tạo trẻ lần thứ VIII năm 2020 (17/9/2020)
Trồng cây ăn quả theo hướng hữu cơ ở Hướng Hóa (17/9/2020)
Tăng cường đào tạo, tập huấn phát triển sản phẩm OCOP (16/9/2020)
Vĩnh Linh đẩy mạnh phát triển kinh tế vùng gò đồi (15/9/2020)
Trồng dưa lưới ở vùng cát Triệu Sơn (15/9/2020)
Phát triển ngành nông nghiệp hiện đại ở Gio Quang (15/9/2020)
Tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp (15/9/2020)
Trao giấy chứng nhận “Sản xuất hồ tiêu theo tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ” (14/9/2020)
Ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất giống nấm (14/9/2020)
Hơn 1,2 tỷ đồng triển khai dự án chăn nuôi gà Cùa theo chuỗi giá trị (14/9/2020)
Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu cho nông sản (14/9/2020)
Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại (14/9/2020)
Khởi nghiệp với mô hình bột rau củ sấy lạnh (09/9/2020)
Triển khai Đề tài trồng Lan Kim tuyến ở Hướng Hóa (09/9/2020)
Lợi nhuận cao từ nuôi vịt bằng công nghệ mới (04/9/2020)
Hướng Hóa: Tín hiệu vui từ cây cà gai leo ở xã Lìa (04/9/2020)
Nâng cao giá trị sản phẩm hạt tiêu Vĩnh Linh (04/9/2020)
Đổi mới mạnh mẽ hoạt động khoa học và công nghệ, góp phần đưa nhanh nghị quyết của Đảng vào cuộc sống (03/9/2020)
Chuyển đổi áp dụng hệ thống quản ký chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (03/9/2020)
Khoa học và công nghệ phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (03/9/2020)
Tăng cường công tác kiểm định đối chứng đối với công tơ điện và đồng hồ đo nước lạnh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (03/9/2020)
Ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc nâng cao giá trị thương hiệu sản phẩm (03/9/2020)
Ứng dụng thành công khoa học công nghệ để phát triển sản phẩm cam hữu cơ của tỉnh Quảng Trị (03/9/2020)
Hiệu quả ứng dụng khoa học và công nghệ nhìn từ Công ty TNHH MTV Từ Phong (03/9/2020)
Một số giải pháp cần lưu ý trong quy trình trồng rừng thâm canh gỗ lớn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (03/9/2020)
Nông nghiệp hữu cơ “lên ngôi” (01/9/2020)
Gần 72% hợp tác xã nông nghiệp có ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất (01/9/2020)
Gạo Quảng Trị xuất khẩu chính ngạch sang Lào (31/8/2020)
83 tác phẩm tham gia Cuộc thi “Sáng tạo trẻ Quảng Trị” lần thứ IX (31/8/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Báo cáo số 119/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả công tác tháng 10 và kế hoạch tháng 11 năm 2020

Kế hoạch số 05/KH-SKHCN về việc Kế hoạch tuyên truyền về cải cách hành chính năm 2020 của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị

Kế hoạch số 42/KH-SKHCN về việc Kế hoạch tổ chức Cuộc thi tìm hiểu Công tác cải cách hành chính năm 2020 của Sở Khoa học và Công nghệ

Quyết định số 284/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh "Phát huy những phẩm chất tốt đẹp của con người Quảng Trị trong thời kỳ hội nhập và phát triển"

Quyết định số 283/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: "Nghiên cứu xây dựng mô hình kết nối Cung - Cầu hàng hóa hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế"

Quyết định số 276/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn thẩm định đề cương nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp cơ sở xét giao trực tiếp, thực hiện năm 2020: "Xử lý chất thải chăn nuôi lợn, gà và tận dụng sản xuất phân bón hữu cơ chất lượng phục vụ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 277/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn thẩm định đề cương nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp cơ sở xét giao trực tiếp, thực hiện năm 2020: "Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận "Gạo sạch Diên Sanh" dùng cho sản phẩm gạo của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 278/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn thẩm định đề cương nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp cơ sở xét giao trực tiếp, thực hiện năm 2020: "Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030"

Quyết định số 275/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2020 (lần 3)

Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định nội dung nhiệm vụ TXTCN của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở KH CN thực hiện năm 2021

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ bảo tồn và phát triển cây Lan Giả Hạc

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại thôn Quyết Tâm, xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Lan Kim Tuyến tại vùng Bắc Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu xây dựng CSDL số về di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị và những điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm chiến dịch năm 1972, góp phần hỗ trợ phát triển du lịch Quảng Trị

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: "Nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 137
Hôm nay 3.410
Hôm qua 5.033
Tất cả 2.617.771

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này