Thứ Sáu, 27/11/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 21/10/2020

Tiềm năng ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý chất thải vi nhựa
Nhựa đã trở thành một vật liệu quan trọng trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, rác thải nhựa và vi nhựa xuất hiện ở tất cả các hệ sinh thái đang là một trong những thảm họa nhân tạo đáng báo động. Công nghệ sinh học đang là một trong những công cụ hiệu quả nhằm tổng hợp ra các loại nhựa sinh học có khả năng phân hủy hoàn toàn để thay thế cho nhựa có nguồn gốc dầu mỏ. Song song với đó, sự phát triển của công nghệ vi sinh cũng đạt được những thành tựu trong phân hủy sinh học vật liệu nhựa.
Hình 1. Sản phẩm nhựa có nguồn gốc từ polymer truyền thống và polymer có thể phân hủy sinh học.

Vi nhựa: Bài toán môi trường toàn cầu

Quản lý rác thải vi nhựa được xem là một trong những bài toán khó xử lý nhất trong câu chuyện bảo vệ môi trường. Điều này càng trở nên nan giải bởi các sản phẩm từ nhựa được sản xuất với số lượng ngày càng lớn trên toàn thế giới, trong khi các biện pháp tái chế hay xử lý rác thải nhựa đã không thể theo kịp. Nghiên cứu của Awasthi và cộng sự [1] cho thấy, có khoảng 110.000-730.000 tấn hạt vi nhựa/năm được thải vào đất canh tác nông nghiệp tại khu vực Bắc Mỹ và châu Âu. Con số này còn lớn hơn rất nhiều ở các nước đang phát triển, nơi có nhu cầu sử dụng nhựa cao.

Bất cập thứ hai cần nhắc đến, đó là vi nhựa có thể xâm nhập vào chuỗi thức ăn thông qua các mắt xích cơ bản (động vật biển, cây trồng cạn) [2]. Cụ thể, 99% các loài chim biển có thể đã hấp thụ vi nhựa, hơn 600 loài sinh vật biển (gần 15% tổng số loài) sẽ bị đe dọa vì nhiễm vi nhựa hay vướng vào rác thải nhựa trên biển trước năm 2050. Đặc biệt, vi nhựa đã được chứng minh có thể ảnh hưởng gián tiếp (qua chuỗi thức ăn) và trực tiếp (vi nhựa có thể chứa phụ gia và vật liệu thô dạng polymer trong quá trình sản xuất sản phẩm nhựa...) đến các cơ quan trong cơ thể (hệ thần kinh, cơ quan hô hấp, hệ tiết niệu, ống tiêu hóa và hệ bài tiết, da của con người) [3]. Xét về mặt kinh tế, số lượng vi nhựa đang tăng lên cũng có ảnh hưởng nhất định về kinh tế, đặc biệt là các quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào ngành du lịch và thủy sản [4].

Có thể thấy, vi nhựa mặc dù rất nhỏ bé nhưng đã trở thành một bài toán về môi trường vô cùng lớn ở tất cả các nước trên thế giới. Để đối phó với vấn đề môi trường mới phát sinh này, các phương pháp công nghệ sinh học bền vững trong xử lý rác thải vi nhựa đã được xem xét.

Giải pháp công nghệ sinh học nhằm loại bỏ các sản phẩm nhựa có nguồn gốc dầu mỏ

Phần lớn rác thải nhựa có nguồn gốc dầu mỏ nên phân hủy rất chậm và tồn tại lâu dài trong tự nhiên. Vì vậy, sử dụng nhựa có nguồn gốc sinh học có khả năng phân hủy hoàn toàn và phân hủy sinh học vật liệu nhựa được xem là hai giải pháp có thể giúp giải quyết vấn đề này.

Nhựa sinh học có khả năng phân hủy

Nhựa sinh học có khả năng phân hủy chủ yếu làm từ nguồn nguyên liệu thô như mía, ngô hay khoai tây, có thể được sử dụng để thay thế cho polyethylene [(C2H4)n], polypropylene [(C3H6)n], polystyrene [(C8H8)n], polyvinyl chloride [(C2H3Cl)n] và polyethylene terephthalate [(C10H8O4)n] trong bao bì đóng gói [5] (hình 1). Mặc dù số lượng vật liệu nhựa sinh học có khả năng phân hủy được sản xuất vẫn còn rất nhỏ so với nhu cầu sử dụng trên thế giới, nhưng giải pháp thân thiện môi trường này luôn nhận được nhiều sự chú ý trong việc thay thế các nguyên liệu từ dầu mỏ (tài nguyên không tái tạo) bằng nguyên liệu nông nghiệp (có thể tái tạo). Tuy nhiên, phát triển nhựa sinh học có khả năng phân hủy vẫn còn gặp khó khăn do loại vật liệu này có tính tương thích sinh học kém, giòn, dễ thấm nước, tính chất về điện, nhiệt và vật lý kém [6].

 

Trong số các dạng nhựa sinh học có tính phân hủy hoàn toàn, polyhydroxybutyrate (tổng hợp trong quá trình lên men của các loài vi sinh vật như Bacillus, Pseudomonas và Alcaligenes [7]) được xem là một trong những polymer có triển vọng nhất. Đây là dạng polymer có tính chất tương tự như nhựa làm từ dầu mỏ, nhưng có tính phân hủy sinh học (được phân giải bởi enzyme depolymerase trong nấm và vi khuẩn), tương thích sinh học cao, vì vậy được xem là không độc hại với môi trường và con người. Bên cạnh đó, việc sử dụng hoặc trộn lẫn các polymer có thể phân hủy sinh học như polylactic acid, polyhydroxyoctanoate, polybutylene succinate, poly-ε-caprolactone, poly(butylene succinate-co-adipate và poly(3-hydroxybutyrate-co-3-hydroxyvalerate) cũng được sử dụng để thay thế các sản phẩm nhựa làm từ dầu mỏ truyền thống (hình 1 và 2). Phần lớn các loại nhựa này có thể được phân hủy trong điều kiện kỵ khí có gia nhiệt [8].

Hình 2. Sơ đồ hóa trong xử lý chất thải vi nhựa.

(SH: sinh học).

Hiện nay, nhựa sinh học có khả năng phân hủy hoàn toàn được sử dụng khá phổ biến trong sản xuất bao bì sản phẩm (vỏ sữa chua, cốc cà phê dùng một lần và túi rác phân hủy sinh học). Các dạng nhựa này được quy định là đủ tiêu chuẩn phân hủy sinh học nếu chúng bị phân hủy đến 90% (thành nước, các chất khoáng phụ gia và carbon dioxide) sau 12 tuần xử lý ở điều kiện nhiệt độ 60oC [1].

Phân hủy sinh học vật liệu nhựa nhờ vi sinh vật

Một số vi sinh vật (như nấm Mucor rouxii NRRL 1835, Aspergillus flavus, vi khuẩn Streptomyces) đã được chứng minh có khả năng phân hủy sinh học vật liệu nhựa [9]. Cụ thể, một số thành phần polymer trong nhựa trở thành chất nền cho quá trình trao đổi chất của các nhóm vi sinh vật dị dưỡng này. Một phương pháp công nghệ sinh học khác được ghi nhận là sử dụng quá trình nhiệt phân để chuyển đổi nhựa thành các loại dầu, sau đó được vi khuẩn hấp thụ [1, 9].

Trong quá trình phân hủy sinh học, các polymer trước tiên được phá vỡ thành các đơn phân, sau đó các monomer này tiếp tục được khoáng hóa. Để tăng hiệu quả phân hủy, một số tác động vật lý (gia nhiệt) hoặc hóa học sẽ được áp dụng nhằm tạo ra các tổn thương cơ học (đứt gãy các polymer), tạo điều kiện cho sự xâm nhập của nấm hay các vi khuẩn tiết enzyme phân giải polymer, chủ yếu là hai dạng depolymerase ngoại bào và nội bào [9]. Quá trình thủy phân polymer được xúc tác bởi enzyme theo hai bước. Đầu tiên, enzyme có nguồn gốc từ vi sinh vật bám vào bề mặt chất nền của polymer để xúc tác quá trình thủy phân polymer phức tạp, tạo ra các phân tử nhỏ hơn (monomer, dimer và oligomer). Các đơn phân này đi qua các màng ngoài bán thấm của vi khuẩn và trở thành nguồn năng lượng và carbon. Tuy vậy, quá trình phân giải sinh học hợp chất polymer không diễn ra triệt để do một phần nhỏ của polymer được chuyển vào sinh khối của vi sinh vật, tạo ra mùn và các sản phẩm tự nhiên khác [1, 9]. Ví dụ, các nhà khoa học đã phát hiện ra chủng vi khuẩn Ideonella sakaiensis có khả năng phân giải polyethylene terephthalate nhờ enzyme polyethylene terephthalatease [10]. Kết quả này đã mở ra hướng đi mới cho việc sử dụng enzyme mono-(2-hydroxyethyl) terephthalatease để phân giải polyethylene terephthalate.

Tương tự, sự phân hủy sinh học polyethylene cũng được diễn ra qua hai cơ chế phân hủy sinh học 'oxo' và 'hydro'. Các tiền chất ôxy hóa và tinh bột được biết đến là hai phụ gia chính đóng vai trò trong việc sản xuất ra dạng polyethylene có thể phân hủy sinh học. Trong quá trình thủy phân, các vi sinh vật có thể tìm và loại bỏ các chất phụ gia này, làm cho cấu trúc liên kết của vật liệu nhựa yếu đi, thúc đẩy quá trình ôxy hóa quang và ôxy hóa nhiệt xảy ra. Cuối cùng, vật liệu nhựa được phân rã dưới điều kiện áp suất thấp.

Về vấn đề tái chế vật liệu nhựa, mặc dù hiện nay đã có những công nghệ tái chế hiện đại nhưng vẫn còn một số hạn chế. Chi phí xử lý cao là một trở ngại cho việc tái chế các polymer chất lượng thấp. Sử dụng công nghệ vi sinh vật để biến rác thải nhựa thành những sản phẩm giá trị cao có thể là sự lựa chọn thay thế đáng tin cậy cho công nghệ tái chế đang được áp dụng hiện nay. Các thành công bước đầu của công nghệ sinh học đã cho thấy tiềm năng của việc tổng hợp polymer phân hủy sinh học.

*
*    *

Vi nhựa đã phát tán ra toàn bộ sinh quyển nên cần phải có chiến lược đa quốc gia để giải quyết do vi nhựa ẩn chứa nhiều tác động nguy hiểm, ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi thức ăn và sức khỏe của con người [2-4]. Phân hủy vi nhựa trở thành một vấn đề được quan tâm nhiều. Các vi sinh vật bản địa có khả năng phân hủy polymer được xem là một giải pháp thân thiện với môi trường và hiệu quả, nhất là trong bối cảnh sản phẩm nhựa tồn tại rất lâu ngoài tự nhiên. Sinh giới, xét cho cùng, trải qua hàng triệu năm tiến hóa, đã hình thành các loài vi sinh vật có hệ thống enzyme phân giải polymer phức tạp (như cellulose, hemicellulose và chitin) một cách tối ưu. Vì vậy, không có gì quá ngạc nhiên khi tìm thấy vi khuẩn I. sakaiensis có khả năng phân giải polymer tổng hợp. Đồng thời, ứng dụng kỹ thuật di truyền có thể làm tăng cường khả năng phân hủy sinh học thông qua việc nuôi cấy chủng vi sinh vật mới hoặc tạo ra sinh vật sản xuất enzyme có hoạt lực cao hơn. Tuy vậy, phương pháp công nghệ sinh học có thể chỉ giải quyết vấn đề rác thải vi nhựa ở quy mô nhỏ.

Bên cạnh đó, việc sản xuất nhựa sinh học có khả năng phân hủy từ các polymer tổng hợp sinh học cũng là một xu hướng của thời đại nhằm thay thế cho các loại nhựa không phân hủy sinh học hiện nay [5]. Trong giai đoạn tiếp theo, nếu quy trình phân hủy sinh học polyhydroxybutyrate diễn ra một cách triệt để [7], việc thương mại hóa sản xuất polymer sinh học này có thể trở thành một lựa chọn tốt để thay thế cho các polymer gốc dầu mỏ trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, quá trình phân hủy kỵ khí có gia nhiệt để phân rã các polymer sinh học này thường đòi hỏi thời gian rất dài. Đây có lẽ là một cơ hội phát triển cho ngành chế tạo vật liệu tổng hợp nano sinh học (bionanocomposite) [11].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] A.K. Awasthi, Q. Tan, J. Li (2020), "Biotechnological potential for microplastic waste", Trends Biotechnol.38(11), pp.1196-1199.

[2] Y.L. Wang, et al. (2020), "Potent impact of plastic nanomaterials and micromaterials on the food chain and human health", Int. J. Mol. Sci.21(5), DOI: 10.3390/ijms21051727.

[3] C. Campanale, et al. (2020), "A detailed review study on potential effects of microplastics and additives of concern on human health", Int. J. Environ. Res. Public Health, 17(4), DOI: 10.3390/ijerph17041212.

[4] P. Agamuthu, et al. (2019), "Marine debris: a review of impacts and global initiatives", Waste Manag. Res.37(10), pp.987-1002.

[5] L.P. Wackett (2019), "Bio-based and biodegradable plastics: an annotated selection of world wide web sites relevant to the topics in microbial biotechnology", Microbial Biotechnology12(6), pp.1492-1493.

[6] R. Ciriminna, M. Pagliaro (2019), "Biodegradable and compostable plastics: a critical perspective on the Dawn of their global adoption", ChemistryOpen9(1), pp.8-13.

[7] Y.S. Mostafa, et al. (2020), "Production and characterization of bioplastic by polyhydroxybutyrate accumulating erythrobacter aquimaris isolated from mangrove rhizosphere", Molecules25(1), DOI: 10.3390/molecules25010179.

[8] T. Narancic, et al. (2018), "Biodegradable plastic blends create new possibilities for end-of-life management of plastics but they are not a panacea for plastic pollution", Environ. Sci. Technol.52(18), pp.10441-10452.

[9] F.M. Lamberti, L.A. Román-Ramírez, J. Wood (2020), "Recycling of bioplastics: routes and benefits", J. Polym. Environ.28, pp.2551-2571.

[10] G.J. Palm, et al. (2019), "Structure of the plastic-degrading Ideonella sakaiensis MHETase bound to a substrate", Nat. Commun.10, DOI: 10.1038/s41467-019-09326-3.

[11] A.M. Díez-Pascual (2019), "Synthesis and applications of biopolymer composites", Int. J. Mol. Sci.20(9), DOI: 10.3390/ijms20092321.

https://vjst.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Khoa học và công nghệ là yếu tố then chốt để phát triển công nghiệp vật liệu (26/11/2020)
Khai mạc Hội nghị trực tuyến của Liên đoàn các Tổ chức Kỹ sư ASEAN (CAFEO) lần thứ 38 (26/11/2020)
Làng địa phương: Nơi quy tụ các Startup xuất sắc nhất từ các vùng miền của Techfest Vietnam 2020 (26/11/2020)
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam chia sẻ 5 “từ khóa” với cộng đồng Start-up (26/11/2020)
Trao Giải thưởng Thành phố Thông minh 2020 (25/11/2020)
Thảo luận với chuyên gia quốc tế về Công nghệ tiên phong (25/11/2020)
TECHFEST Đông Nam Bộ 2020: Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo dựa trên thế mạnh địa phương (25/11/2020)
Các doanh nghiệp ngày càng quan tâm tới chuyển đổi số (25/11/2020)
Truy xuất nguồn gốc nông sản: Doanh nghiệp, người tiêu dùng cùng hưởng lợi (25/11/2020)
Nông nghiệp hữu cơ- Xu hướng tất yếu nâng cao chất lượng nông sản (25/11/2020)
Trường hợp sử dụng tác phẩm không phải trả tiền bản quyền (25/11/2020)
Phát triển công nghệ mở: Xu hướng không thể đảo ngược (23/11/2020)
Phát triển thị trường khoa học và công nghệ (23/11/2020)
Chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế không tiếp xúc (23/11/2020)
Techfest Mekong 2020: Thúc đẩy liên kết khởi nghiệp giữa ĐBSCL và cả nước (23/11/2020)
Tối ưu công nghệ xử lý yếm khí nước thải giàu hữu cơ (23/11/2020)
Phát triển ngành bán dẫn: Công nghệ xưởng cực tiểu (23/11/2020)
Phát triển mô hình quản lý chuỗi giá trị nông sản thực phẩm an toàn trong xây dựng nông thôn mới (23/11/2020)
Công nghệ thủy lợi nội đồng: Góp phần giải quyết việc tưới tiêu trong nông nghiệp ‘xanh’ (23/11/2020)
Chương trình KH&CN nông thôn miền núi: Tìm giải pháp cho vùng trũng công nghệ (19/11/2020)
Triển lãm sản phẩm công nghệ số "Make in Viet Nam" (19/11/2020)
Việt Nam là nước thứ 5 trên thế giới làm chủ thiết bị 5G (19/11/2020)
Sản xuất theo quy trình VietGAP - Minh chứng cho chất lượng, hiệu quả (19/11/2020)
Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ: Bức tranh nông thôn, miền núi tỏa sáng (19/11/2020)
Tách chiết axit chlorogenic từ hạt cà phê xanh: Nguồn nguyên liệu tiềm năng (19/11/2020)
Chuyển giao công nghệ hiện đại của thế giới để giải quyết "bài toán" chất lượng tăng trưởng của Việt Nam (19/11/2020)
Ứng dụng vi cơ điện tử và vật liệu tiên tiến xây dựng đô thị thông minh (19/11/2020)
Ông Huỳnh Thành Đạt nhậm chức Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ (18/11/2020)
Ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số: Bước tiến mạnh mẽ trong cải cách hành chính (18/11/2020)
Gỗ sinh học phát quang có thể thắp sáng những ngôi nhà (18/11/2020)
Các nhà nghiên cứu Úc phát triển công nghệ laser có khả năng kiểm soát nơi sét đánh (18/11/2020)
Chương trình KH&CN nông thôn miền núi: Chuyển giao hàng nghìn lượt công nghệ mới phù hợp với các địa phương (18/11/2020)
Hoàn thiện thể chế, chính sách là yếu tố hàng đầu để phát triển thị trường khoa học và công nghệ (18/11/2020)
Đăng ký sở hữu trí tuệ của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đạt mức cao nhất từ trước đến nay (18/11/2020)
PGS.TS Huỳnh Thành Đạt giữ chức Bộ trưởng Bộ KH&CN (13/11/2020)
TECHFEST: Sự khởi đầu cần phải có của startup (13/11/2020)
Ra mắt nền tảng công nghệ giúp chẩn đoán ung thư vú dựa trên hình ảnh với độ chính xác 85% (13/11/2020)
Thuốc xịt mũi làm từ kháng thể gà giúp chống virus corona (13/11/2020)
Nghiên cứu phát triển các nguồn gene lúa thích ứng với biến đổi khí hậu (13/11/2020)
Chuyển đổi số: Doanh nghiệp phải giữ vai trò tiên phong (13/11/2020)
100% các bộ có nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ (13/11/2020)
Thương mại điện tử- cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (13/11/2020)
Vai trò của công nghệ trong truy xuất nguồn gốc hàng hóa (13/11/2020)
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2015 hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp thành công (13/11/2020)
Doanh nghiệp chuyển đổi số để thoát hiểm và bứt tốc trong Covid-19 (13/11/2020)
Đánh giá mức độ ứng dụng CNTT các cơ quan nhà nước: Bộ KH&CN lọt top 7 (13/11/2020)
Hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới sáng tạo: Chính sách và xu hướng (11/11/2020)
Cửa sổ trong suốt hấp thụ nhiệt ban ngày để dùng vào ban đêm (11/11/2020)
Hội thảo và triển lãm quốc tế về an toàn, an ninh mạng Việt 2020 (11/11/2020)
Tạo chảy rối thực trong phòng thí nghiệm (11/11/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Quyết định số 27/QĐ-SKHCN về việc Về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN Quảng Trị

Thông báo số 55/TB-SKHCN về việc Thông báo kết quả phê duyệt danh mục nhiệm vụ KH CN cấp tỉnh (lần 3, năm 2020)

Báo cáo số 136/BC-SKHCN về việc Báo cáo tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính và chỉ số PAPI năm 2020 của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Quyết định số 312/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng sơ tuyển cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" tỉnh Quảng Trị năm 2020

Báo cáo số 138/BC-SKHCN về việc Báo cáo tình hình thực hiện Chiến lược phát triển sở hữu trí tuệ đến năm 2030

Báo cáo số 137/BC-SKHCN về việc Báo cáo tình hình xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001 vào hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND các huyện, thị, thành phố và UBND các xã, phường, thị trấn năm 2020

Quyết định số 367/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Ban hành Kế hoạch Cải cách hành chính năm 2020 của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Quyết định số 319/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở thực hiện năm 2020, đề tài: "Đánh giá thực trạng chất lượng đồ chơi trẻ em phục vụ công tác quản lý nhà nước về chất lượng đồ chơi trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 319/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở thực hiện năm 2020, dự án: "Tiếp nhận quy trình công nghệ sản xuất giống bằng phương pháp giâm hom và quy trình trồng cây tràm gió và tràm năm gân làm nguyên liệu ở các xã vùng cát ven biển huyện Triệu Phong"

Quyết định số 3237/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh (lần 3, năm 2020)

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ bảo tồn và phát triển cây Lan Giả Hạc

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại thôn Quyết Tâm, xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Lan Kim Tuyến tại vùng Bắc Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu xây dựng CSDL số về di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị và những điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm chiến dịch năm 1972, góp phần hỗ trợ phát triển du lịch Quảng Trị

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: "Nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 190
Hôm nay 796
Hôm qua 3.573
Tất cả 2.739.513

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này