Thứ Hai, 18/01/2021 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Sáu, ngày 20/11/2020

Công nghệ thủy lợi nội đồng: Góp phần giải quyết việc tưới tiêu trong nông nghiệp ‘xanh’
Công nghệ thủy lợi nội đồng do TS Lê Xuân Quang (Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường, Viện KH Thủy lợi Việt Nam - Bộ NN&PTNT) cùng cộng sự nghiên cứu và phát triển được kỳ vọng sẽ giúp quản lý nguồn nước tưới cho đất canh tác lúa ở đồng bằng sông Hồng.
TS Lê Xuân Quang (thứ ba từ trái sang) tại mô hình

Theo quan điểm truyền thống “nước, phân, cần, giống” thì nước đóng vai trò số một trong trồng lúa. Quan điểm đó dường như không mấy thay đổi trong bối cảnh canh tác hiện đại bởi theo số liệu thống kê, lượng nước sử dụng hằng năm cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của nước ta vào khoảng 93 tỷ m3, trong đó lượng nước chủ yếu cho canh tác lúa với 46,3 tỷ m3. Việc phụ thuộc vào nước trong canh tác nông nghiệp đang đặt ra bài toán lớn cho đồng bằng sông Hồng, một trong hai vựa lúa lớn của Việt Nam, đang liên tục đối diện với tình trạng khan hiếm nước, phần vì dòng chảy ngày một thấp do nạn khai thác cát đáy nên máy bơm khó hút nước lên đồng.

Mặt khác, theo góc nhìn của khoa học, hoạt động trồng lúa nước còn phát thải ra môi trường một lượng khí nhà kính không hề nhỏ, trong đó nguồn phát thải lớn nhất là CH4. Như vậy, để giảm lượng phát thải khí nhà kính, tránh ô nhiễm môi trường thì một trong những biện pháp hiệu quả là quản lý lượng nước tưới tiêu phù hợp để giảm phát thải CH4 trên vùng trồng lúa nước.

Là người quan tâm đến các vấn đề về thủy lợi và môi trường, TS Lê Xuân Quang (Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường) đã đề xuất nghiên cứu về các công nghệ giúp giảm thiểu lượng nước tưới trong việc trồng lúa. Năm 2013, ông phát hiện ra công nghệ thủy lợi nội đồng của Nhật Bản có thể sẽ là lời giải cho bài toán mà lâu nay mình vẫn trăn trở. Theo giải thích của ông, “đây là chuỗi các giải pháp cụ thể gồm quy hoạch đồng ruộng, san phẳng đồng ruộng; các công nghệ chia nước, kiểm soát nước tưới, tiêu mặt ruộng; công trình chống thoát nước mặt ruộng, hệ thống kênh mương nội đồng, các thiết bị kiểm soát đếm nước theo thời gian thực, đo mực nước trên ruộng lúa, quy trình tưới, tiêu khoa học cho lúa, giảm phát thải khí nhà kính v.v.”. Công nghệ này sẽ giúp kiểm soát lượng nước tưới, tiêu trong suốt mùa vụ. Đáng chú ý, sự thay đổi chế độ nước sẽ kéo theo sự thay đổi lượng phát thải của một số khí, nhiệt độ và Eh của môi trường đất, tác động đến quá trình hình thành và chuyển hóa carbon trong đất.

“Một số kết quả nghiên cứu cho thấy, chế độ ngập nước không liên tục (rút nước phơi ruộng giữa vụ, rút nước định kỳ) sẽ góp phần làm giảm rõ rệt lượng phát thải CH4 so với chế độ ngập nước liên tục trên ruộng lúa”, TS Quang cho hay. Vậy điều gì khiến ông cho rằng công nghệ này của Nhật Bản có thể áp dụng ổn thỏa trên đồng ruộng Việt Nam?

“Chúng tôi nhận thấy kỹ thuật gieo trồng, tập quán canh tác của vùng Đồng bằng sông Hồng Việt Nam có sự tương đồng với Nhật Bản. Dù có nhiều mô hình mà nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới áp dụng nhưng nhờ những điểm tương đồng như trên, cùng với việc Nhật Bản là nước có nền nông nghiệp công nghệ cao phát triển nên chúng tôi đã quyết định học hỏi mô hình này”.

Do đó, vào cuối năm 2015, sau khi được phê duyệt đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ của Nhật Bản trong hệ thống thủy lợi nội đồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nước, giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa vùng Đồng bằng sông Hồng”, TS Lê Xuân Quang đã mời các chuyên gia Nhật Bản sang Việt Nam để chọn địa điểm bố trí thí nghiệm. Tuy nhiên, “việc chọn địa điểm cũng vô cùng khó khăn”, ông Quang cho hay. “Từ cách đây 80 năm, Nhật Bản đã bắt đầu ứng dụng công nghệ này từ việc quy hoạch đồng ruộng, hệ thống thủy lợi, san ủi ruộng cho bằng phẳng bằng laser, cũng như xây dựng các hệ thống tưới, tiêu riêng biệt – chứ không tưới tiêu hỗn hợp như nước ta. Một thửa ruộng của họ cũng lên tới vài ha, trong khi Việt Nam hãy còn manh mún, mỗi hộ chỉ có vài trăm mét vuông trồng lúa.” Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đã đi nhiều tỉnh thành để tìm kiếm một địa điểm có thể đáp ứng những điều kiện trên, và cuối cùng các chuyên gia Nhật Bản đã chọn khu vực ruộng quy mô 50,2 ha tại xã Phú Thịnh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. “Khu mô hình này có những điều kiện thuận lợi như có thể chủ động tưới tiêu, khu vực đã dồn điền dồn thửa, khu mô hình khá bằng phẳng để thuận tiện cho điều tiết nước mặt ruộng, gần đường thuận tiện cho giao thông”.

Kiểm soát nước mặt ruộng

Bước đầu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành áp dụng các giải pháp chia nước trên kênh, kiểm soát mực nước trên ruộng bằng các kỹ thuật phù hợp do phía đối tác Nhật Bản chuyển giao. “Chúng tôi cũng cùng nhau cải tiến cho phù hợp với điều kiện thực tế đồng ruộng, vùng Đồng bằng sông Hồng”, TS Quang chia sẻ.

Chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản test nhanh các chỉ tiêu của đất tại mô hình.

Chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản test nhanh các chỉ tiêu của đất tại mô hình.


Theo đó, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các thiết bị đo đạc, quan trắc mực nước trên kênh, ruộng lúa; các công trình kiểm soát nước mặt ruộng, công trình chống thất thoát nước trên ô ruộng. Thay vì tưới thường xuyên như trước đây, nhóm đã hướng dẫn người nông dân kỹ thuật tưới ướt-khô xem kẽ. “Việc quan sát mực nước trong các ống quan sát tại ô ruộng là cơ sở để tiến hành điều tiết nước trên cánh đồng. So sánh các mô hình tưới, bao gồm khô kiệt, khô vừa và truyền thống, chúng tôi thấy khô vừa là mô hình tối ưu nhất”. – TS Lê Xuân Quang cho biết. Điểm hay của công nghệ Nhật Bản là trong quá trình sinh trưởng, cây lúa không nhất thiết phải được tưới ngập nước liên tục mà chỉ cần tưới ngập mặt ruộng giai đoạn hồi xanh để tránh cỏ và giai đoạn trổ bông để không ảnh hưởng đến năng suất.

Để tối ưu hóa lượng nước tưới tiêu, nhóm nghiên cứu đã xây dựng 15 cống điều tiết và cống lấy nước để vận hành tưới, tiêu theo các kịch bản mẫu khác nhau, lắp đặt một trạm đo tự động các yếu tố khí tượng như mưa, nhiệt độ, độ ẩm… tại các khu thí nghiệm với tốc độ ghi dữ liệu tự động 10 phút/lần. Bên cạnh đó, nhóm cũng lắp đặt hệ thống đo mực nước tự động trên ruộng và trên kênh tưới tiêu; hệ thống đo tự động độ ẩm đất, EC, Eh; hệ thống cầu công tác, các thùng lấy mẫu khí nhà kính,…

Trong quá trình triển khai mô hình, các chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam đã hướng dẫn người nông dân cấy thưa và sử dụng chế độ phân bón theo công thức riêng. “Trước đây, người nông dân cấy theo kinh nghiệm, khoảng 50 khóm/ m2. Nhưng chúng tôi hướng dẫn họ với vụ xuân chỉ nên cấy mật độ 18-20 khóm/m2, vụ mùa 20-24 khóm/m2 kết hợp với bón bổ sung phân silic. Cây cần khoảng cách để quang hợp ánh sáng.” – TS Quang phân tích. “Ban đầu thì người dân cũng không tin, nhóm nghiên cứu phải cam kết rằng nếu tưới khô và mật độ thưa như thế khiến năng suất lúa thấp thì sẽ bù lỗ cho họ. Nhưng kết quả cho thấy năng suất lúa của khu thí nghiệm cao hơn khu thực chứng, và bản thân cây lúa cũng khỏe hơn, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt”.

Mô hình ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho cây lúa trên diện tích khoảng 50 ha đã giúp giảm được khoảng 20,5 – 42,6% lượng nước tưới, giảm lượng phát thải khí nhà kính 22,13 – 48,8% tại ô khô kiệt và 28,6 – 31,82% tại ô khô vừa so với kỹ thuật tưới truyền thống. “Nếu áp dụng mô hình này trên toàn bộ vùng Đồng bằng sông Hồng, chúng ta có thể tiết kiệm được 3,8 tỉ m3 nước mỗi năm. Cụ thể, với giá nước phục vụ cho bơm tưới đến mặt ruộng khoảng 1399đ/m3 thì lượng nước tiết kiệm được khoảng 5948 tỷ đồng”, TS Quang cho biết. “Ngoài ra, khi áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước thì sẽ giảm phát thải khí nhà kính, với giá mỗi tấn CO2 phát thải khoảng 100.000 đồng/tấn thì mỗi năm chúng ta tiết kiệm được khoảng 1143 tỷ đồng”.

Với những ưu điểm vượt trội như trên, Tổng cục Thủy lợi đã ban hành Sổ tay Hướng dẫn quy trình tưới tiêu khoa học cho lúa vùng Đồng bằng sông Hồng, đồng thời quy trình đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 2348 công bố ngày 27/5/2020.

Dù mô hình tại Hưng Yên đã được triển khai thành công, nhưng theo TS Lê Xuân Quang, “còn rất nhiều điều cần làm trong thời gian tới”. Hiện tại, nhóm nghiên cứu đang đề xuất thí điểm hoàn chỉnh thủy lợi nội đồng gắn với chỉnh trang đồng ruộng, phục vụ sản xuất nông nghiệp hiệu quả, bền vững. “Chúng tôi dự kiến tiếp tục triển khai mở rộng nghiên cứu ở tại Nam Định (cho Vùng Đồng bằng sông Hồng) và Thanh Hóa (cho Vùng Bắc Trung Bộ)”.

Nếu như nghiên cứu tại Hưng Yên đã tận dụng những điều kiện thuận lợi sẵn có như đồng ruộng bằng phẳng, nguồn nước chủ động, các nhà khoa học chỉ cần chuyên tâm nghiên cứu áp dụng công nghệ quản lý nước mặt ruộng; giờ đây, “chúng tôi sẽ áp dụng hệ thống thủy lợi nội đồng của Nhật Bản một cách bài bản hơn, quy hoạch, san ủi lại ruộng để người nông dân canh tác, cũng như tích hợp ứng dụng các giải pháp công nghệ 4.0 để giám sát và theo dõi hoạt động canh tác nông nghiệp thông minh trong tương lai”, TS Quang cho biết.

Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ của Nhật Bản trong hệ thống thủy lợi nội đồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nước, giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa vùng Đồng bằng sông Hồng”, mã số NĐT.06.JPN/15, thuộc Chương trình Nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư do Bộ KH&CN quản lý.

Để biết thêm thông tin chi tiết về các Chương trình KH&CN, liên hệ Văn phòng các Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia tại: http://vpctqg.gov.vn/
https://khoahocphattrien.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Lần đầu tiên Việt Nam làm chủ công nghệ hấp khử trùng rác thải y tế (13/01/2021)
Lâm Đồng: Hiệu quả từ mô hình sản xuất khoai tây thương phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm (13/01/2021)
Nâng cao năng suất lao động dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (13/01/2021)
ISO 14024: Nhãn sinh thái “thích hợp với môi trường” (13/01/2021)
Làm chủ công nghệ tính toán mưa, lũ lớn cho các lưu vực sông liên quốc gia trong điều kiện hạn chế hoặc không có dữ liệu đo đạc (12/01/2021)
Máy in 3D “Made in Vietnam” (12/01/2021)
Hàng loạt địa phương triển khai áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa (12/01/2021)
Tăng cường đổi mới hoạt động đo lường, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh (12/01/2021)
Bảo quản thực phẩm bằng màng sinh học kết hợp tinh dầu thực vật (12/01/2021)
Đưa liên kết bốn nhà: nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông, ngày càng thực chất và bền chặt (11/01/2021)
Việt Nam thuộc tốp đầu ASEAN về số lượng tiêu chuẩn quốc gia (11/01/2021)
Đưa khoa học và công nghệ thành động lực, tạo bứt phá nâng cao năng suất chất lượng (07/01/2021)
Chiết xuất catechin từ lá chè xanh (07/01/2021)
Bảo đảm các thực phẩm uy tín, chất lượng đều có chỉ dẫn địa lý (06/01/2021)
Nhiều thành tựu khoa học và công nghệ đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế quốc gia (06/01/2021)
Phụ phẩm từ chế biến gia cầm: Nguyên liệu quý sản xuất Glucosamine (06/01/2021)
Chất lượng sản phẩm – yếu tố then chốt giúp xuất khẩu tăng trưởng bền vững (06/01/2021)
Phát triển kinh tế số - cơ hội cải thiện năng suất lao động (06/01/2021)
Phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo phải được xem là khâu đột phá (04/01/2021)
Hệ thống Blife: Hỗ trợ chức năng giao tiếp và phục hồi ngôn ngữ (04/01/2021)
Công nghệ tuyển nổi trong khai thác đất hiếm (04/01/2021)
Các chương trình KH&CN quốc gia: Thu hút doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN (04/01/2021)
Việt Nam tiến hành thử nghiệm Vaccine COVID-19 mới (04/01/2021)
Làm chủ nền tảng chuyển đổi số (04/01/2021)
Hệ thống đo mưa tự động giúp giảm nhẹ thiên tai (04/01/2021)
Triển lãm quốc tế đầu tiên về đổi mới sáng tạo tại Việt Nam (04/01/2021)
Tiềm lực khoa học công nghệ được củng cố (28/12/2020)
Nhà máy số - xu hướng tất yếu của sản xuất công nghiệp 4.0 (28/12/2020)
Tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ (28/12/2020)
Thức ăn công nghiệp nuôi cua lột cho hiệu quả cao (28/12/2020)
Chuyển đổi số trong y tế: Để khám bệnh là thói quen chủ động (28/12/2020)
Cái bắt tay giữa các tổ chức phát triển và startup (28/12/2020)
Đơn đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý tăng mạnh nhất từ trước đến nay (28/12/2020)
20 sáng kiến góp phần giải quyết các vấn đề cộng đồng (28/12/2020)
Robot trí tuệ nhân tạo trợ giảng đầu tiên của Việt Nam (28/12/2020)
Ứng dụng KH&CN giải quyết các mục tiêu phát triển bền vững (28/12/2020)
Đẩy mạnh hoạt động truy xuất nguồn gốc đối với xuất khẩu rau quả (25/12/2020)
Công nghệ số phải tạo bứt phá trong phát triển (25/12/2020)
Tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam (25/12/2020)
Tổng kết Chương trình Khoa học và Công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016 - 2020 (25/12/2020)
Sản xuất omega 6, 7, 9 từ vi khuẩn tía quang hợp: Triển vọng thương mại hóa cao (25/12/2020)
Công bố 10 sự kiện khoa học công nghệ nổi bật năm 2020 (25/12/2020)
Quyết định tặng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia cho 61 doanh nghiệp (23/12/2020)
Khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo, hướng đến tận dụng các nền tảng công nghệ mới (23/12/2020)
Ứng dụng công nghệ sinh học để phát triển sản phẩm từ dược liệu (23/12/2020)
50 sản phẩm công nghệ số Make in Viet Nam đầu tiên sẽ được vinh danh (22/12/2020)
Tập trung nguồn lực, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia (22/12/2020)
Liệu pháp gen CRISPR hứa hẹn khả năng điều trị 2 bệnh nguy hiểm về máu (21/12/2020)
USTH khai trương “công xưởng sáng tạo" (21/12/2020)
Nhà khoa học Việt tìm cách trồng diêm mạch trong vùng hạn mặn (17/12/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Quyết định số 11/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc ban hành Chương trình công tác trọng tâm năm 2021 của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Nghị định số 154/2018/NĐ-CP về việc Nghị định Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ và một số quy định về kiểm tra chuyên ngành.

Báo cáo số 02/BC-SKHCN về việc Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0

Quyết định số 06/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu gói thầu mua hóa chất, nguyên vật liệu thuộc đề tài: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ bảo tồn và phát triển cây Lan Giả hạc trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Quyết định số 10/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu kết quả đề tài: Nghiên cứu xây dựng mô hình nhà kính ứng dụng công nghệ 4.0 phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất một số loại cây trồng có giá trị phù hợp với điều kiện tỉnh Quảng Trị

Quyết định số 07/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn nghiệm thu, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng năm 2020 của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Quyết định số 08/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn nghiệm thu, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ TXTCN năm 2020 của Trạm nghiên cứu và Phát triển Nấm

Báo cáo số 03/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả thực hiện Cam kết trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và Giám đốc Sở KH CN với BTV tỉnh ủy năm 2020

Quyết định số 3945/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt đề tài: "Khảo nghiệm một số giống dừa xiêm có triển vọng để đánh giá khả năng thích nghi và hiệu quả kinh tế, nhằm góp phần phục vụ công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 373/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng kiểm tra định kỳ, đánh giá, nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2020 của đề tài cấp cơ sở: Xây dựng mô hình sản xuất giống dịch thể và nuôi trồng nấm Mối đen thương phẩm tại tỉnh Quảng Trị

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ bảo tồn và phát triển cây Lan Giả Hạc

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại thôn Quyết Tâm, xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Lan Kim Tuyến tại vùng Bắc Hướng Hóa

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: Nghiên cứu xây dựng CSDL số về di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị và những điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm chiến dịch năm 1972, góp phần hỗ trợ phát triển du lịch Quảng Trị

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: "Nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 859
Hôm nay 581
Hôm qua 4.150
Tất cả 2.990.004

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này