Thứ Sáu, 24/11/2017 Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệ
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước

Nghiên cứu công nghệ chế biến một số sản phẩm từ củ khoai lang tím giống Nhật Bản
Hiện nay, diện tích trồng khoai lang tím Nhật Bản chiếm hơn 90% diện tích tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Đây là giống có thể trồng quanh năm, đem lại thu nhập cho người nông dân cao gấp 6, 7 lần so với cây lúa. Gần 80% sản lượng khoai lang sản xuất được xuất khẩu chủ yếu bằng đường tiểu ngạch sang Trung Quốc và thường bị ép giá. Việc thu hoạch, vận chuyển, đóng gói, bao bì bảo quan hiện nay vẫn bằng phương pháp thủ công. Công nghệ xử lý, bảo quản chủ yếu theo phương pháp truyền thống nhỏ lẻ, chi phí lớn do đó chất lượng bảo quản chưa cao, thời gian bảo quản ngắn, tỷ lệ hư hỏng sau bảo quản cảo nên chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
       Thị trường tiêu thụ và công nghệ chế biến chưa thực sự được quan tâm đúng mức, quy mô còn nhỏ lẻ, chất lượng không đảm bảo, không ổn định trong quá trình bảo quản sất, chiên. Do đó, nhằm xây dựng được quy trình công nghệ thu hoạch, sơ chế, bảo quản khoai lang tím tươi đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm kéo dài thời gian tồn trữ trên 4 tháng ở nhiệt độ thường, tỷ lệ hư hỏng dưới 7% cũng như xây dựng mô hình thu hoạch, sơ chế, bảo quản tươi khoai lang tím tại vùng nguyên liệu với quy mô 2 tấn/ ngày và mô hình sản xuất thực nghiệm các sản phẩm: bột dinh dưỡng và đồ uống lên men từ củ khoai lang tím Nhật Bản với quy mô 300-500 kg nguyên liệu/mẻ, sản xuất được 100 kg bột dinh dưỡng và 500 lít đồ uống lên men và tạo ra được các sản phẩm có hương vị. màu sắc đặc trưng của khoai lang tím giống Nhật Bản, nhóm nghiên cứu do TS. Hoàng Thị Lệ Hằng, Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đứng đầu đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu công nghệ chế biến một số sản phẩm từ củ khoai lang tím giống Nhật Bản”. Đây là đề tài thuộc Chương trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sau thu hoạch có phạm vi nghiên cứu chuyên sâu và quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam về công nghệ bảo quản và chế biến khoai lang tím giống Nhật Bản.
        Các nội dung nghiên cứu bao gồm: Xác định độ già thu hoạch, phương pháp bao gói và phương thức vận chuyển nguyên liệu cho mục đích bảo quản và chế biến khoai lang tím Nhật Bản. Quy trình công nghệ sơ chế,bảo quản khoai lang tím tươi. Phương pháp tồn trữ khoai lang tím Nhật Bản nhằm ổn định nguyên liệu đầu vào cho quá trình chế biến bột dinh dưỡng và đồ uống lên men. Quy trình công nghệ chế biến sản phẩm bột dinh dưỡng từ củ khoai lang tím Nhật Bản. Quy trình công nghệ chế biến sản phẩm đồ uống lên men từ củ khoai lang tím Nhật Bản. Bảo quản và chế biến các sản phẩm bột dinh dưỡng, đồ uống lên men từ củ khoai lang tím Nhật Bản. 
Qua thời gian 2 năm triển khai nghiên cứu (2013-2015), nhóm nghiên cứu đạt được các kết quả như sau:
Đã thu thập được các dữ liệu điều tra thực tế về tình hình sản xuất, tiêu thụ, sơ chế, bảo quản và chế biến khoai lang nói chung ở Việt Nam và trên thế giới, và của khoai lang tim Nhật Bản nói riêng ở Vĩnh Long. Đã xác định được thời điểm thu hoạch, phương tiện vận chuyển và bao bì bao gói đối với nguyên liệu khoai lang tím Nhật Bản thích hợp cho mục đích bảo quản và chế biết cụ thể như sau: 
- Thời điểm thu hoạch thích hợp đối với giống khoai lang tím Nhật Bản là từ 132 - 140 ngày tính từ khi gieo trồng. 
- Phương pháp đóng gói và vận chuyển thích hợp là sử dụng sọt tre < 40kg, có màng nhựa đệm khô bên trong, hay rổ nhựa 20kg. Vận chuyển khoai từ nhà sơ chế đóng gói đến nơi tiêu thụ là xe tải, xe container có hoặc không có trang bị hệ thống lạnh.
Đã xây dựng được quy trình công nghệ thu hoạch, sơ chế, bảo quản khoai lang tím tươi đảm bảo vệ xinh an toàn thực phẩm có ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm kéo dài thời gian tồn trữ trên 4 tháng ở nhiệt độ thường, tỷ lệ hư hỏng dưới 7% với các thông số cụ thể như sau:
- Điều kiện tự làm lạnh vết thương thích hợp cho củ khoai lang tím sau thu hoạch là ở nhiệt độ 30 đến 32 độ C (±1 độ C), độ ẩm là 85-90%. Khoai lang được xử lý bằng dung dịch NaClO nồng độ 100 ppm trong thời gian 15 phút và dung dịch α-NAA ở nồng độ 0,1% trong thời gian 5 phút. 
- Bao bì PE có độ dày 40 µm với diện tích đục lỗ 10% là bao bì phù hợp cho quá trình bảo quản khoai lang tím.
- Chế độ bảo quản thích hợp là 25 - 29 độ C (đây là nhiệt độ trung bình của Bình Tân - Vĩnh Long) và độ ẩm là 87±2%. 
- Đã tính toán được diện tích kho bảo quản quy mô 2 tấn/ngày là 54m2 với chiều dài, rộng là 9 x 6 và chiều cao 3m với đầy đủ các bản thiết kế (mặt bằng mái, bản vẽ cửa và bản vẽ chi tiết bản lề cửa kho bảo quản).
        Xây dựng được quy trình công nghệ và hệ thống thiết bị chế biến một số sản phẩm (bột dinh dưỡng, rượu vang, nước uống lên men lactic) từ củ khoai lang tím Nhật Bản, sản phẩm có chất lượng ổn định, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đảm bảo an toàn thực phẩm nhằm mục đích nội tiêu và tiến tới xuất khẩu với quy mô 300-500kg nguyên liệu/mẻ, cụ thể:
- Phương pháp sơ chế khoai lang cho mục đích tồn trữ phục vụ chế biến: Khoai lang - Làm sạch - Thái lát dọc với độ dày 6-80mm - Xử lý bằng dung dịch axit citric nồng độ 0,4% trong thời gian 15 phút - Sấy ở nhiệt độ 60 đến 65 độ C tới độ ẩm 11±1% -> đóng gói. Sử dụng bao bì PP, dày 0,6mm, chất hút ẩm silicagel hàm lượng 0,02%, bảo quản ở nhiệt độ thường.
        Những kết quả nghiên cứu đã giải quyết được những vấn đề tồn tại hiện nay đối với vấn đề phát triển khoai lang tím, ổn định sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân. 
Theo vista.gov.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Ứng dụng mã số mã vạch: Giải pháp hiệu quả chống hàng giả (24/11/2017)
Tầm nhìn về công nghệ chế tạo siêu vi mạch bán dẫn trong tương lai và khả năng ứng dụng tại Việt Nam (24/11/2017)
Hơn 250 tỉ đồng được ký kết trong ngày khai mạc TechDemo 2017 (23/11/2017)
Khai mạc sự kiện trình diễn và kết nối cung cầu công nghệ năm 2017 (23/11/2017)
Hà Giang: Tiếp cận công nghệ chăn nuôi, phát triển kinh tế rừng (23/11/2017)
Vĩnh Phúc: Triển vọng mở rộng mô hình trồng gừng xuất khẩu (23/11/2017)
Đưa kỹ thuật về nông thôn - miền núi: Lào Cai khắt khe trong lựa chọn doanh nghiệp (23/11/2017)
Trồng nấm bào ngư xám cho lợi nhuận cao (22/11/2017)
Hoàn thiện công nghệ và dây chuyền thiết bị sản xuất hydroxit nhôm chất lượng cao từ nguồn nguyên liệu trong nước (22/11/2017)
Khánh thành hệ thống năng lượng mặt trời áp mái và đưa vào sử dụng xe ô tô điện, trạm sạc nhanh đầu tiên tại Việt Nam (22/11/2017)
Việt Nam – Italia: Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực KH&CN (22/11/2017)
Nghiên cứu tổng hợp và tác dụng chống ung thư của các dẫn xuất alkaloid nhân indole mới (22/11/2017)
Hòa Bình nuôi ong mật chất lượng cao (21/11/2017)
Giống dứa H180 năng suất, chất lượng cao (21/11/2017)
Thổi “luồng gió” mới cho hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam (21/11/2017)
Khởi động hoạt động của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Hàn Quốc (21/11/2017)
Miến dong Bắc Kạn tiêu thụ mạnh nhờ nhãn hiệu tập thể (17/11/2017)
Công bố chương trình Thách thức công nghệ nông nghiệp vùng Mê Kông (17/11/2017)
TPHCM: Giới thiệu máy cắt, vớt lục bình thế hệ mới (17/11/2017)
Hai học sinh chế tạo máy cắt rau mầm tự động (17/11/2017)
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong nhiều lĩnh vực của đời sống (17/11/2017)
Đổi mới công nghệ - Nâng tầm cuộc sống (17/11/2017)
Trao giải thưởng Newton Việt Nam trị giá 200.000 bảng Anh (17/11/2017)
Bế mạc Techfest 2017: Có khả năng đầu tư lên đến 4,5 triệu USD (17/11/2017)
Hình thành và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp lĩnh vực y tế (17/11/2017)
Techfest 2017: Cơ hội phát triển nông nghiệp thông minh (17/11/2017)
“Tiếp sức” để startup phát triển liên tục và bền vững (16/11/2017)
Thay đổi thói quen làm chính sách để tạo thành công từ đổi mới sáng tạo (16/11/2017)
APEC CEO Summit 2017: Việc làm trong kỷ nguyên số (16/11/2017)
Bộ trưởng Bộ Khoa học – CNTT và Truyền thông Hàn Quốc: cam kết hỗ trợ thúc đẩy phát triển V- KIST (16/11/2017)
Chia sẻ kinh nghiệm thương mại hóa công nghệ giữa các nền kinh tế thành viên APEC (16/11/2017)
Kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (10/11/2017)
Đồng bằng sông Cửu Long: tạo đột phá từ giải pháp canh tác lúa thông minh (10/11/2017)
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam (10/11/2017)
Tiếp tục khẳng định vai trò, đóng góp của KH&CN (10/11/2017)
Quảng Bình: Hoàn thiện quy trình sản xuất rượu tỏi đen (09/11/2017)
Nông nghiệp công nghệ cao ở Hà Nội: Thành tựu chưa xứng tiềm năng (09/11/2017)
Hình thành các “mô hình Uber” trong nông nghiệp (09/11/2017)
Nâng cao giá trị các sản phẩm đặc thù của địa phương bằng sở hữu trí tuệ (09/11/2017)
Robothon Quốc gia 2017: Trao giải cho 5 đội vô địch tại Hà Nội (09/11/2017)
Thiết bị giám sát giấc ngủ của giáo sư người Việt (09/11/2017)
Hoạt động sở hữu trí tuệ đã bám sát nhu cầu thực tế địa phương (09/11/2017)
Việt Nam – Australia: Đổi mới sáng tạo là một trụ cột mới trong quan hệ đối tác chiến lược (09/11/2017)
Giảm lượng giống, tăng thu nhập (08/11/2017)
Mắc màn cho cây cam, lợi ích nhiều mặt (08/11/2017)
TP. Hà Nội: Phát triển nông nghiệp bền vững dựa trên KH&CN (08/11/2017)
Đề xuất hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo APEC (08/11/2017)
Vĩnh Phúc: Nghiên cứu sản xuất chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN (07/11/2017)
Hải Dương: Hiệu quả mô hình sản xuất giống gà đồi phục vụ nuôi thương phẩm tại thị xã Chí Linh (07/11/2017)
Ứng dụng mã số mã vạch - Nâng cao chất lượng hàng hóa (06/11/2017)
Quyết định số 276/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông thuộc Sở Khoa học và Công nghệ

Quyết định số 284/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, Sở KH&CN Quảng Trị xét giao trực tiếp thực hiện năm 2017

Quyết định số 274/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

Quyết định số 271/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, Sở KH&CN Quảng Trị xét giao trực tiếp thực hiện năm 2017

Quyết định số 253/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Về việc phân công quản lý đề tài: "Nghiên cứu Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 236/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Quyết định số 186/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Quyết định số 171/QĐ-SKHCN về việc Quyết định: Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Cơ sở- Sở KH&CN Quảng Trị xét giao trực tiếp thực hiện năm 2017 (Lần thứ hai).

Quyết định số 175/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc phân công quản lý đề tài: "Nghiên cứu phát triển dịch vụ du lịch bổ sung tại các di tích lịch sử văn hóa tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 176/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc phân công quản lý dự án: "Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong chăn nuôi bò nhằm chuyển đổi sinh kế cho người dân ở vùng cát ven biển chịu ảnh hưởng sự cố môi trường biển tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở năm 2017

Thông báo về việc giao trực tiếp tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh (theo Quyết định số 2204/QĐ-UBND ngày 14/8/2017)

Kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh đã cấp giấy chứng nhận

Thông báo học bổng chính phủ Ấn Độ

Thông báo kết quả làm việc giữa Sở Khoa học và Công nghệ với UBND huyện Cam Lộ về thử nghiệm trồng cây dược liệu

Thống kê truy cập
253244
415

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN Quảng Trị. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 84.53.857030. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này