Thứ Bảy, 24/6/2017 Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệ
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong tỉnh

Triệu Phong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong cải tạo đàn bò
Được sự hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Triệu Phong đã thực hiện đề tài “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chương trình cải tạo đàn bò bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo nhằm phát triển đàn bò huyện Triệu Phong giai đoạn 2015- 2017”.
Triệu Phong cần đẩy mạnh cải tạo đàn bò cỏ trên địa bàn

      Hiện toàn huyện Triệu Phong có đàn bò hơn 7.130 con, trong đó bò cái trưởng thành đang sinh sản là 2.500 con, tỷ lệ sinh sản đạt 80%, tỷ lệ bê cái trưởng thành đến thời kỳ sinh sản đạt 80%. Phương thức chăn nuôi hiện nay ở Triệu Phong là bán chăn thả chiếm 47%, thả rông chiếm 36% và nuôi nhốt chiếm 17%. Thực hiện chương trình Zebu hóa đàn bò, từ năm 1996 đến cuối 2013 toàn huyện đã có 2.483 con bò lai, chiếm 34,8% tổng đàn (bình quân bò lai ra đời tăng 2% năm). Tuy nhiên, tỷ lệ tăng số lượng bò lai của huyện vẫn còn quá thấp so với kế hoạch và nhu cầu phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò nói riêng đối với địa phương. Do đó, việc thực hiện đề tài là cần thiết nhằm thúc đẩy tăng trưởng số bò lai trên địa bàn.

     Đề tài được thực hiện nhằm lựa chọn các tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị và hiệu quả trong chăn nuôi bò lai; tạo cơ sở bố trí sử dụng đất đai hợp lý thu hút các nguồn đầu tư, trong đó quan trọng là nguồn đầu tư của nông dân vào phát triển ngành nông nghiệp mà chú trọng là ngành chăn nuôi, nâng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện. Các biện pháp được thực hiện là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong công tác lai tạo bò lai bằng thụ tinh nhân tạo (TTNT) để tạo ra bê lai F1 B.B.B. Sau 12 tháng tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò lai F1 làm cơ sở nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh. Đối tượng nghiên cứu là bò B.B.B (bò trắng xanh Bỉ) là giống siêu thịt của Vương quốc Bỉ. Bò có ba màu lông chủ yếu là trắng, trắng loang xanh và trắng loang đen. Thân hình đẹp, đồ sộ, cấu trúc xương vững chắc, hài hoà với xương sườn tròn, mông không dốc, đuôi dài với túm lông dày ở cuối. Bò đực trưởng thành có khối lượng 1.100 - 1.250 kg; bò cái 700 - 750 kg; bê sơ sinh 44 kg. Bò B.B.B. có khả năng sản xuất thịt tốt. Mức tăng trọng bình quân đạt 1,3 kg/ngày. Tỷ lệ thịt xẻ đạt 66%. Hệ số sử dụng thức ăn được công nhận là tốt nhất trong các giống bò thịt hiện nay (khoảng 5,5 - 7 kg thức ăn/kg tăng trọng). Phẩm chất thịt thơm, ngon. Bê lai F1 sơ sinh có khối lượng trung bình 25 - 28 kg. Khả năng tăng trọng cao, khối lượng lúc 24 tháng tuổi đạt 500 - 520 kg. Tỷ lệ thịt xẻ 58 - 60%. 55 hộ nông dân được chọn tham gia thực hiện đề tài đều là các hộ có tay nghề, có kinh nghiệm chăn nuôi, được điều tra trước khi tiến hành và các hộ phải cam kết thực hiện tốt. Sau khi tuyển chọn, các hộ được tập huấn kỹ thuật về cách chăm sóc nuôi dưỡng bò mẹ, bò bê con ra đời, kỹ thuật trồng chăm sóc cỏ và kỹ năng ghi chép số liệu. Số lượng bò cái sinh sản được chọn để thực hiện đề tài là 117 con. Các chỉ tiêu được theo dõi và ghi ghép thường xuyên, đầy đủ gồm: các chỉ tiêu ở mô hình trồng cỏ VA06 như khả năng sinh trưởng, số lứa thu hoạch/năm; chu kỳ động dục của bò cái; tiến hành thụ tinh; số lần phối/ con; tỷ lệ đậu thai sau lần 1 và lần 2 khi phối; tỷ lệ mắc các bệnh sản khoa; tỷ lệ đẻ sau khi đậu thai; khối lượng sơ sinh của bê lai; tỷ lệ bê lai nuôi sống đến 6 tháng tuổi; khả năng tăng trọng qua các tháng tuổi của bê lai; khả năng thích nghi của bê lai và một số bệnh thường gặp; các biện pháp phòng trị; tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng; so sánh các chỉ tiêu của bê lai B.B.B và bê lai Zebu trên địa bàn triển khai, so sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình so với chăn nuôi truyền thống... Huyện có đội ngũ cán bộ thú y và cán bộ chuyên trách nông nghiệp xã tham gia tập huấn, điều tra, có kinh nhiệm trong chuyên môn, hiểu rõ địa bàn, ghi chép đầy đủ là một thuận lợi lớn để tiến hành triển khai dự án. Ngoài ra, 4 dẫn tinh viên có tay nghề cao trong công tác TTNT cho bò chịu trách nhiệm phối giống bằng phương pháp TTNT trên các tiểu vùng. Trong quá trình thực hiện dự án, cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, giám sát các hộ thực hiện tốt các khâu chăm sóc thú y, đặc biệt chú trọng đến công tác tiêm phòng bắt buộc vắc xin các bệnh truyền nhiễm trước khi phối giống. Đồng thời, hướng dẫn các hộ tiêm một số thuốc tăng cường sức đề kháng cho bò mẹ trong thời kỳ mang thai. Cập nhật kịp thời ngày đẻ của các bò nái trong các hộ đã phối tinh B.B.B. Bà Phan Thị Lành ở thôn Nhan Biều 1, xã Triệu Thượng cho biết: “Qua kiểm tra theo dõi bê lai ra đời cho thấy trọng lượng bê sơ sinh cao (từ 25,5 đến 29 kg/con), trong lúc bình quân bê lai sind sơ sinh 16-18 kg/con. Bê sau khi sinh nhanh nhẹn, sau sinh khoảng 4 giờ bê có thể đi lại mạnh khỏe. Đặc biệt tất cả các bê lai sinh đẻ dễ dàng và tự đẻ, chưa có trường hợp có can thiệp của cán bộ thú y. Nhìn chung, bê lai BBB có nhiều ưu thế về trọng lượng sơ sinh và thích ứng ban đầu. Qua theo dõi bê lai BBB sinh trưởng tốt, khỏe mạnh, chưa có trường hợp phải điều trị bệnh hoặc chết trong và sau sinh. Để đảm bảo nguồn thức ăn xanh cho bò lai, chúng tôi đã tiến hành trồng cỏ VA06”. Trong quá trình triển khai dự án, Phòng NN&PTNT phối hợp với Trạm Thú Y hướng dẫn các hộ tham gia dự án một số loại thuốc cần sử dụng cho bò nái trong các giai đoạn trước khi phối giống, mang thai và sau đẻ, trong đó chú trọng một số loại thuốc bắt buộc như vắc xin THT, LMLM, tẩy nội ngoại ký sinh trùng trước khi phối giống; bổ sung can xi và khoáng vi lượng... nhằm nâng cao sức khỏe, sức đề kháng cho bò cái mang thai. Dự án còn thực hiện hỗ trợ thức ăn tinh cho bò mẹ đang cho con bú. Bò mẹ sau khi sinh được kiểm tra, nghiệm thu được hỗ trợ 75 kg thức ăn tinh để phối trộn cho bò mẹ ăn. Đồng thời hướng dẫn cách phối trộn thức ăn tinh theo công thức đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho sinh trưởng của bò trong các thời kỳ từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 6, từ tháng thứ 7 trở đi không cho ăn thức ăn tinh để bò mẹ dễ sinh đẻ. Thời kỳ sau khi đẻ, nên duy trì bổ sung thức ăn tinh suốt thời gian cho con bú để đảm bảo đủ sữa chất lượng cho bê lai sinh trưởng tốt. Qua thời gian thực hiện chương trình đã khẳng định được hiệu quả và thu hút người dân tham gia phương pháp TTNT cho bò. Phương pháp chọn bò nái lai sind đạt tiêu chuẩn mở rộng trong nhân dân trên toàn huyện có nhiều lợi thế cho công tác TTNT được nhân rộng nhanh, bền vững. Phát triển chăn nuôi bò kết hợp trồng cỏ tạo nguồn thức ăn và chế biến phối trộn thức ăn tinh cho bò mẹ đang thời kỳ nuôi con và vỗ béo bò là khoa học có hiệu quả cao so với chăn nuôi truyền thống như hiện nay. Bê lai B.B.B có đầu nhỏ nên sinh đẻ dễ dàng hơn bê lai khác. Anh Hoàng Quang Dưỡng, Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Triệu Phong, chủ nhiệm đề tài cho biết: Chương trình cải tạo đàn bò bằng phối tinh BBB nâng cao tầm vóc, chất lượng thịt và nâng cao giá trị kinh tế trong chăn nuôi bò phù hợp với xu thế phát triển ngành chăn nuôi của huyện. Được sự quan tâm của các cấp chính quyền, ban, ngành trong chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ nên người dân dễ hiểu, dễ làm. Sau khi có kết quả dự án cũng đã tổ chức hội thảo đầu bờ gồm các chuyên gia, các nhà quản lý và các hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện để chia sẻ kinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện kết quả nghiên cứu, xử lý những khó khăn vướng mắc trong chăn nuôi bò lai BBB”. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, chương trình cải tạo đàn bò theo hướng siêu thịt còn gặp một số khó khăn như tình hình chăn nuôi nông hộ còn nhỏ lẻ và phần lớn là chăn thả hoặc bán chăn bán thả nên việc điều tra tuyển chọn bò nái đạt tiêu chuẩn, công tác phát hiện bò động dục, công tác phối giống cũng như chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra có nhiều khó khăn. Nuôi bò lai F1 BBB chất lượng cao, đòi hỏi đầu tư kinh phí cao và có khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật mới, tránh tình trạng thả rông bò trên đồng ruộng dễ ảnh hưởng thuốc BVTV dẫn đến bò sảy thai, đẻ non...

     Bê lai BBB có một số đặc điểm chưa đẹp mắt nên nông dân chưa ưa thích. Muốn chăn nuôi bò trở thành ngành sản xuất theo hướng hàng hoá, phải đẩy mạnh công tác giống bò cho phù hợp với phương thức chăn nuôi thâm canh, vừa tăng cường công tác cải tạo giống bò địa phương bằng TTNT với giống bò ngoại để nâng tầm vóc, năng suất của đàn nái nền, đồng thời tiến hành chọn tạo, sử dụng các tổ hợp lai theo hướng bò thịt, bò sữa, bò kiêm dụng thích nghi với đặc điểm sinh thái của địa phương trong những năm tiếp theo. Đề tài đã khẳng định phương pháp khoa học và hiệu quả trong chăn nuôi bò có ứng dụng tiến bộ KHCN. Do đó, những năm tiếp theo cần được nhân rộng kết quả của đề tài nhằm góp phần thúc đẩy chăn nuôi bò trên địa bàn huyện Triệu Phong phát triển.

 

Theo baoquangtri.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Bí thư Tỉnh ủy khảo sát một số dự án ODA trên địa bàn huyện Triệu Phong (23/6/2017)
Phát triển cây hồ tiêu, cao su ở Vĩnh Hòa (23/6/2017)
Hiệu quả từ mô hình nuôi cá nước ngọt truyền thống tại miền núi (21/6/2017)
Hiệu quả từ mô hình trồng ổi (21/6/2017)
Quảng Trị: Xây dựng nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao (20/6/2017)
Xây dựng cánh đồng lớn, sản xuất lúa chất lượng cao ở Gio Linh (20/6/2017)
Phát triển cây mắc ca ở Hướng Hóa (20/6/2017)
Quan tâm đào tạo nghề cho lao động nông thôn (20/6/2017)
Hướng đến nền sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn (20/6/2017)
Xây dựng vùng chuyên canh nông sản sạch (19/6/2017)
Gio Linh xây dựng cánh đồng lớn sản xuất lúa chất lượng cao (19/6/2017)
Hải Lăng: Hình thành nhiều mô hình sản xuất hoa màu tập trung (19/6/2017)
Kinh nghiệm trồng lúa nước cho năng suất cao ở xã Hải Phúc (14/6/2017)
Đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp ở Hướng Hóa (14/6/2017)
Phát triển bền vững cây hồ tiêu ở Hướng Hóa (13/6/2017)
Cam Lộ thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp (13/6/2017)
Nghiên cứu khoa học của học sinh trung học hướng đến giá trị nhân văn (13/6/2017)
Hơn 400 nông dân tham gia hội thảo về cây hồ tiêu (13/6/2017)
Xã Hải Ba: Cây màu trên vùng cát đạt hiệu quả cao (13/6/2017)
Để nông nghiệp trở thành nền tảng thúc đẩy tăng trưởng (13/6/2017)
Hướng Hóa: 5 vườn ươm đủ tiêu chuẩn phục vụ tái canh cà phê (12/6/2017)
Phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật (12/6/2017)
Hiệu quả mô hình trồng lúa nước của đồng bào vùng cao (12/6/2017)
Lực lượng vũ trang giúp dân trồng dứa (12/6/2017)
Đakrông đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp (08/6/2017)
Cam Chính khai thác hiệu quả tiềm năng gò đồi (08/6/2017)
Đảm bảo nguồn nước tưới phục vụ sản xuất hè thu (08/6/2017)
Hiệu quả cao từ sản xuất lúa theo phương pháp canh tác tự nhiên (08/6/2017)
Mô hình trồng sen có giá trị thu nhập cao ở Hải Lăng (06/6/2017)
Vĩnh Kim đẩy mạnh phát triển cây hồ tiêu (06/6/2017)
Hiệu quả từ dự án BCC trên địa bàn huyện Đakrông (06/6/2017)
Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trong vùng biển, đảo Cồn Cỏ (06/6/2017)
Vĩnh Linh triển khai sản xuất vụ Hè Thu năm 2017 (02/6/2017)
Nhân rộng những mô hình cây công nghiệp ngắn ngày năng suất cao (02/6/2017)
Từng bước tháo gỡ khó khăn trong chăn nuôi lợn (02/6/2017)
Liên kết sản xuất dưa hấu ở xã Mò Ó (02/6/2017)
Đánh giá dự án trồng dừa xiêm lùn trên vùng cát ven biển (31/5/2017)
Hướng Hóa: 14/14 cơ quan, đơn vị thực hiện một cửa điện tử (31/5/2017)
Cung ứng hơn 500 tấn giống lúa vụ Hè Thu (31/5/2017)
Tích cực phòng chống bệnh trên tôm giống (31/5/2017)
Quảng Trị: Tuyên dương học sinh đạt giải 3 hội thi khoa học kỹ thuật quốc tế-Intel Isef 2017 (31/5/2017)
Hải lăng ứng dụng công nghệ sinh học vào xử lý rơm rạ sau thu hoạch (29/5/2017)
Vĩnh Linh hướng tới sản xuất hồ tiêu bền vững (29/5/2017)
Nuôi cá lồng trên sông Lai Phước (29/5/2017)
Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới (29/5/2017)
UBND tỉnh tiếp xã giao tập đoàn Hokkaido Coporation - Nhật Bản (29/5/2017)
Hội nghị đầu bờ mô hình sản xuất lạc thích ứng với biến đổi khí hậu (29/5/2017)
Xã Hải Ba: Cây màu trên vùng cát đạt hiệu quả cao (26/5/2017)
Hướng đến một năm sản xuất nông nghiệp được mùa (26/5/2017)
Đẩy mạnh công tác thống kê khoa học và công nghệ (26/5/2017)
Quyết định số 171/QĐ-SKHCN về việc Quyết định: Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Cơ sở- Sở KH&CN Quảng Trị xét giao trực tiếp thực hiện năm 2017 (Lần thứ hai).

Quyết định số 175/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc phân công quản lý đề tài: "Nghiên cứu phát triển dịch vụ du lịch bổ sung tại các di tích lịch sử văn hóa tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 176/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc phân công quản lý dự án: "Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong chăn nuôi bò nhằm chuyển đổi sinh kế cho người dân ở vùng cát ven biển chịu ảnh hưởng sự cố môi trường biển tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 177/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc phân công quản lý dự án: "Ứng dụng công nghệ sản xuất giống nấm dạng dịch thể, phục vụ nuôi trồng, chế biến nấm theo chuổi giá trị cho người dân vùng cát ven biển chịu ảnh hưởng sự cố môi trường biển và miền núi tỉnh Quảng Trị".

Quyết định số 178/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc phân công quản lý đề tài: "Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nhân giống và xây dựng mô hình vườn ươm cây lâm nghiệp chất lượng cao tại tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 179/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc phân công quản lý dự án: "Sản xuất thử nghiệm tinh bột nghệ trên dây chuyền thiết bị công nghệ quy mô 30kg tinh bột nghệ/ngày tại tỉnh Quảng Trị."

Quyết định số 146/QĐ-SKHCN về việc Quyết định: Phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, Sở KH&CN Quảng Trị xét giao trực tiếp thực hiện năm 2017

Quyết định số 136/QĐ-SKHCN về việc Quyết định: Phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, Sở KH&CN Quảng Trị xét giao trực tiếp thực hiện năm 2017::"Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, xây dựng vùng sản xuất rau an toàn tập trung tại Thị xã Quảng Trị"

Quyết định số 135/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, Sở KH_CN Quảng Trị xét giao trực tiếp thực hiện năm 2017 "Xác lập Quyền sở hữu trí tuệ các sản phẩm đặc sản mang yếu tố địa danh ở các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 126/QĐ-SKHCN về việc Quyết định: Về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu năm thứ nhất đề tài: "Nhân giống và trồng thực nghiệm cây Mật nhân (Eurycoma longifolia Jack) dưới tán rừng trên vùng cát ở tỉnh Quảng Trị"

V/v đăng ký dự thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ năm 2017

Thông báo học bổng chính phủ Ấn Độ

Thông báo kết quả làm việc giữa Sở Khoa học và Công nghệ với UBND huyện Cam Lộ về thử nghiệm trồng cây dược liệu

Thông báo kết quả xét tuyển viên chức làm việc tại Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ

Thông báo về việc xây dựng thuyết minh, dự toán nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2017

Thống kê truy cập
254097
868

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN Quảng Trị. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 84.53.857030. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này