Thứ Sáu, 26/5/2017 Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệ
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong tỉnh

Triệu Phong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong cải tạo đàn bò
Được sự hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Triệu Phong đã thực hiện đề tài “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chương trình cải tạo đàn bò bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo nhằm phát triển đàn bò huyện Triệu Phong giai đoạn 2015- 2017”.
Triệu Phong cần đẩy mạnh cải tạo đàn bò cỏ trên địa bàn

      Hiện toàn huyện Triệu Phong có đàn bò hơn 7.130 con, trong đó bò cái trưởng thành đang sinh sản là 2.500 con, tỷ lệ sinh sản đạt 80%, tỷ lệ bê cái trưởng thành đến thời kỳ sinh sản đạt 80%. Phương thức chăn nuôi hiện nay ở Triệu Phong là bán chăn thả chiếm 47%, thả rông chiếm 36% và nuôi nhốt chiếm 17%. Thực hiện chương trình Zebu hóa đàn bò, từ năm 1996 đến cuối 2013 toàn huyện đã có 2.483 con bò lai, chiếm 34,8% tổng đàn (bình quân bò lai ra đời tăng 2% năm). Tuy nhiên, tỷ lệ tăng số lượng bò lai của huyện vẫn còn quá thấp so với kế hoạch và nhu cầu phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò nói riêng đối với địa phương. Do đó, việc thực hiện đề tài là cần thiết nhằm thúc đẩy tăng trưởng số bò lai trên địa bàn.

     Đề tài được thực hiện nhằm lựa chọn các tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị và hiệu quả trong chăn nuôi bò lai; tạo cơ sở bố trí sử dụng đất đai hợp lý thu hút các nguồn đầu tư, trong đó quan trọng là nguồn đầu tư của nông dân vào phát triển ngành nông nghiệp mà chú trọng là ngành chăn nuôi, nâng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện. Các biện pháp được thực hiện là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong công tác lai tạo bò lai bằng thụ tinh nhân tạo (TTNT) để tạo ra bê lai F1 B.B.B. Sau 12 tháng tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò lai F1 làm cơ sở nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh. Đối tượng nghiên cứu là bò B.B.B (bò trắng xanh Bỉ) là giống siêu thịt của Vương quốc Bỉ. Bò có ba màu lông chủ yếu là trắng, trắng loang xanh và trắng loang đen. Thân hình đẹp, đồ sộ, cấu trúc xương vững chắc, hài hoà với xương sườn tròn, mông không dốc, đuôi dài với túm lông dày ở cuối. Bò đực trưởng thành có khối lượng 1.100 - 1.250 kg; bò cái 700 - 750 kg; bê sơ sinh 44 kg. Bò B.B.B. có khả năng sản xuất thịt tốt. Mức tăng trọng bình quân đạt 1,3 kg/ngày. Tỷ lệ thịt xẻ đạt 66%. Hệ số sử dụng thức ăn được công nhận là tốt nhất trong các giống bò thịt hiện nay (khoảng 5,5 - 7 kg thức ăn/kg tăng trọng). Phẩm chất thịt thơm, ngon. Bê lai F1 sơ sinh có khối lượng trung bình 25 - 28 kg. Khả năng tăng trọng cao, khối lượng lúc 24 tháng tuổi đạt 500 - 520 kg. Tỷ lệ thịt xẻ 58 - 60%. 55 hộ nông dân được chọn tham gia thực hiện đề tài đều là các hộ có tay nghề, có kinh nghiệm chăn nuôi, được điều tra trước khi tiến hành và các hộ phải cam kết thực hiện tốt. Sau khi tuyển chọn, các hộ được tập huấn kỹ thuật về cách chăm sóc nuôi dưỡng bò mẹ, bò bê con ra đời, kỹ thuật trồng chăm sóc cỏ và kỹ năng ghi chép số liệu. Số lượng bò cái sinh sản được chọn để thực hiện đề tài là 117 con. Các chỉ tiêu được theo dõi và ghi ghép thường xuyên, đầy đủ gồm: các chỉ tiêu ở mô hình trồng cỏ VA06 như khả năng sinh trưởng, số lứa thu hoạch/năm; chu kỳ động dục của bò cái; tiến hành thụ tinh; số lần phối/ con; tỷ lệ đậu thai sau lần 1 và lần 2 khi phối; tỷ lệ mắc các bệnh sản khoa; tỷ lệ đẻ sau khi đậu thai; khối lượng sơ sinh của bê lai; tỷ lệ bê lai nuôi sống đến 6 tháng tuổi; khả năng tăng trọng qua các tháng tuổi của bê lai; khả năng thích nghi của bê lai và một số bệnh thường gặp; các biện pháp phòng trị; tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng; so sánh các chỉ tiêu của bê lai B.B.B và bê lai Zebu trên địa bàn triển khai, so sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình so với chăn nuôi truyền thống... Huyện có đội ngũ cán bộ thú y và cán bộ chuyên trách nông nghiệp xã tham gia tập huấn, điều tra, có kinh nhiệm trong chuyên môn, hiểu rõ địa bàn, ghi chép đầy đủ là một thuận lợi lớn để tiến hành triển khai dự án. Ngoài ra, 4 dẫn tinh viên có tay nghề cao trong công tác TTNT cho bò chịu trách nhiệm phối giống bằng phương pháp TTNT trên các tiểu vùng. Trong quá trình thực hiện dự án, cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, giám sát các hộ thực hiện tốt các khâu chăm sóc thú y, đặc biệt chú trọng đến công tác tiêm phòng bắt buộc vắc xin các bệnh truyền nhiễm trước khi phối giống. Đồng thời, hướng dẫn các hộ tiêm một số thuốc tăng cường sức đề kháng cho bò mẹ trong thời kỳ mang thai. Cập nhật kịp thời ngày đẻ của các bò nái trong các hộ đã phối tinh B.B.B. Bà Phan Thị Lành ở thôn Nhan Biều 1, xã Triệu Thượng cho biết: “Qua kiểm tra theo dõi bê lai ra đời cho thấy trọng lượng bê sơ sinh cao (từ 25,5 đến 29 kg/con), trong lúc bình quân bê lai sind sơ sinh 16-18 kg/con. Bê sau khi sinh nhanh nhẹn, sau sinh khoảng 4 giờ bê có thể đi lại mạnh khỏe. Đặc biệt tất cả các bê lai sinh đẻ dễ dàng và tự đẻ, chưa có trường hợp có can thiệp của cán bộ thú y. Nhìn chung, bê lai BBB có nhiều ưu thế về trọng lượng sơ sinh và thích ứng ban đầu. Qua theo dõi bê lai BBB sinh trưởng tốt, khỏe mạnh, chưa có trường hợp phải điều trị bệnh hoặc chết trong và sau sinh. Để đảm bảo nguồn thức ăn xanh cho bò lai, chúng tôi đã tiến hành trồng cỏ VA06”. Trong quá trình triển khai dự án, Phòng NN&PTNT phối hợp với Trạm Thú Y hướng dẫn các hộ tham gia dự án một số loại thuốc cần sử dụng cho bò nái trong các giai đoạn trước khi phối giống, mang thai và sau đẻ, trong đó chú trọng một số loại thuốc bắt buộc như vắc xin THT, LMLM, tẩy nội ngoại ký sinh trùng trước khi phối giống; bổ sung can xi và khoáng vi lượng... nhằm nâng cao sức khỏe, sức đề kháng cho bò cái mang thai. Dự án còn thực hiện hỗ trợ thức ăn tinh cho bò mẹ đang cho con bú. Bò mẹ sau khi sinh được kiểm tra, nghiệm thu được hỗ trợ 75 kg thức ăn tinh để phối trộn cho bò mẹ ăn. Đồng thời hướng dẫn cách phối trộn thức ăn tinh theo công thức đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho sinh trưởng của bò trong các thời kỳ từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 6, từ tháng thứ 7 trở đi không cho ăn thức ăn tinh để bò mẹ dễ sinh đẻ. Thời kỳ sau khi đẻ, nên duy trì bổ sung thức ăn tinh suốt thời gian cho con bú để đảm bảo đủ sữa chất lượng cho bê lai sinh trưởng tốt. Qua thời gian thực hiện chương trình đã khẳng định được hiệu quả và thu hút người dân tham gia phương pháp TTNT cho bò. Phương pháp chọn bò nái lai sind đạt tiêu chuẩn mở rộng trong nhân dân trên toàn huyện có nhiều lợi thế cho công tác TTNT được nhân rộng nhanh, bền vững. Phát triển chăn nuôi bò kết hợp trồng cỏ tạo nguồn thức ăn và chế biến phối trộn thức ăn tinh cho bò mẹ đang thời kỳ nuôi con và vỗ béo bò là khoa học có hiệu quả cao so với chăn nuôi truyền thống như hiện nay. Bê lai B.B.B có đầu nhỏ nên sinh đẻ dễ dàng hơn bê lai khác. Anh Hoàng Quang Dưỡng, Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Triệu Phong, chủ nhiệm đề tài cho biết: Chương trình cải tạo đàn bò bằng phối tinh BBB nâng cao tầm vóc, chất lượng thịt và nâng cao giá trị kinh tế trong chăn nuôi bò phù hợp với xu thế phát triển ngành chăn nuôi của huyện. Được sự quan tâm của các cấp chính quyền, ban, ngành trong chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ nên người dân dễ hiểu, dễ làm. Sau khi có kết quả dự án cũng đã tổ chức hội thảo đầu bờ gồm các chuyên gia, các nhà quản lý và các hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện để chia sẻ kinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện kết quả nghiên cứu, xử lý những khó khăn vướng mắc trong chăn nuôi bò lai BBB”. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, chương trình cải tạo đàn bò theo hướng siêu thịt còn gặp một số khó khăn như tình hình chăn nuôi nông hộ còn nhỏ lẻ và phần lớn là chăn thả hoặc bán chăn bán thả nên việc điều tra tuyển chọn bò nái đạt tiêu chuẩn, công tác phát hiện bò động dục, công tác phối giống cũng như chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra có nhiều khó khăn. Nuôi bò lai F1 BBB chất lượng cao, đòi hỏi đầu tư kinh phí cao và có khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật mới, tránh tình trạng thả rông bò trên đồng ruộng dễ ảnh hưởng thuốc BVTV dẫn đến bò sảy thai, đẻ non...

     Bê lai BBB có một số đặc điểm chưa đẹp mắt nên nông dân chưa ưa thích. Muốn chăn nuôi bò trở thành ngành sản xuất theo hướng hàng hoá, phải đẩy mạnh công tác giống bò cho phù hợp với phương thức chăn nuôi thâm canh, vừa tăng cường công tác cải tạo giống bò địa phương bằng TTNT với giống bò ngoại để nâng tầm vóc, năng suất của đàn nái nền, đồng thời tiến hành chọn tạo, sử dụng các tổ hợp lai theo hướng bò thịt, bò sữa, bò kiêm dụng thích nghi với đặc điểm sinh thái của địa phương trong những năm tiếp theo. Đề tài đã khẳng định phương pháp khoa học và hiệu quả trong chăn nuôi bò có ứng dụng tiến bộ KHCN. Do đó, những năm tiếp theo cần được nhân rộng kết quả của đề tài nhằm góp phần thúc đẩy chăn nuôi bò trên địa bàn huyện Triệu Phong phát triển.

 

Theo baoquangtri.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Huyện Đakrông thí điểm mô hình trồng dứa liên kết 4 nhà (24/5/2017)
Giúp người chăn nuôi tiêu thụ lợn (24/5/2017)
Màu xanh trên vùng cát ven biển (24/5/2017)
Cam Thành huy động sức dân để xây dựng nông thôn mới (24/5/2017)
Hiệu quả của mô hình sản xuất gạo sạch ở Triệu Phong (22/5/2017)
Hội thảo đầu bờ mô hình thâm canh cây lạc và cây ngô đạt năng suất cao (22/5/2017)
Quảng Trị: Em Phạm Huy đạt giải Ba Cuộc thi Khoa học - Kỹ thuật Quốc tế (22/5/2017)
Hải Lăng thu hút đầu tư vào lĩnh vực Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp (19/5/2017)
Bước đột phá mới trong lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ (18/5/2017)
Bước đột phá trong phát triển kinh tế ở Vĩnh Kim (18/5/2017)
Hiệu quả cây dưa hấu trên cát (16/5/2017)
Hướng tới một nền nông nghiệp có giải pháp (16/5/2017)
“Gạo sạch Triệu Phong” - Hướng đi mới cho người dân vùng khó (15/5/2017)
Lợi nhuận nhân đôi khi triển khai mô hình trồng sắn xen lạc (15/5/2017)
Triệu Phong hướng tới sản xuất nông nghiệp bền vững (15/5/2017)
Trồng dưa lê đem lại hiệu quả kinh tế cao (12/5/2017)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong trồng, chế biến và thúc đẩy thương mại hoá sản phẩm chè vằng (12/5/2017)
Một số giải pháp ổn định phát triển chăn nuôi lợn (12/5/2017)
Tìm hướng phát triển bền vững cho thương hiệu dưa hấu Vĩnh Tú (12/5/2017)
Hiệu quả cây ném trên vùng cát (12/5/2017)
UBND tỉnh Quảng Trị: Kiểm tra tình hình triển khai công trình xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề sản xuất bún và công trình đường cứu hộ, cứu nạn (12/5/2017)
Kết hợp hiệu quả giữa mô hình chăn nuôi lợn và dịch vụ xay xát (10/5/2017)
Bước đột phá trong cách làm kinh tế của một nông dân huyện Đakrông (09/5/2017)
Thả 1,2 vạn cá giống tại các công trình thủy lợi (10/5/2017)
Mít tinh hưởng ứng tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường (10/5/2017)
Xã Triệu Ái trồng gừng, nghệ mang lại hiệu quả cao (09/5/2017)
Nuôi bò trên vùng cát (09/5/2017)
Đồng chí Hà Sỹ Đồng kiểm tra tình hình thu hoạch lúa Đông Xuân tại Triệu Phong (08/5/2017)
Huyện Hải Lăng: Cung ứng nông sản công nghệ cao cho thị trường (08/5/2017)
Được mùa vụ đông xuân (08/5/2017)
Năng suất lúa vụ Đông Xuân 2016-2017 ước đạt 54 tạ/héc ta (05/5/2017)
Xây dựng cánh đồng lớn ở thôn Đông Dương (05/5/2017)
Nhiều hoạt động hưởng ứng “Tháng hành động vì môi trường” (05/5/2017)
Những vấn đề đặt ra trong phát triển khoa học và công nghệ (05/5/2017)
Triệu Phong: Triển khai công tác bảo vệ và phát triển rừng năm 2017 (05/5/2017)
Nỗ lực khắc phục bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu (05/5/2017)
Xã Vĩnh Thái: Phát triển được trên 32 ha lúa nước (05/5/2017)
Hải Lăng: Trồng ớt cho thu nhập trên 150 triệu đồng/ha (05/5/2017)
Đảm bảo nguồn nước cho phát triển nông nghiệp ở Triệu Phong (05/5/2017)
Quan tâm đầu tư phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp (05/5/2017)
UBND huyện làm việc với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn. (27/4/2017)
Làm giàu trên vùng rú cát (27/4/2017)
Tích cực chuyển đổi sinh kế cho người dân (27/4/2017)
Triệu Phong phát triển kinh tế vùng cát (27/4/2017)
Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Quảng Trị tháng 4 tăng 4,36% (27/4/2017)
Công Thương, ngành kinh tế mũi nhọn (27/4/2017)
Khảo sát tình hình triển khai thực hiện "Dự án trạm nghiên cứu, ứng dụng KH&CN Bắc Hướng Hóa" (26/4/2017)
Xã Triệu Ái trồng gừng, nghệ mang lại hiệu quả kinh tế cao. (25/4/2017)
Doanh nghiệp sáng tạo để hội nhập và phát triển (25/4/2017)
Triệu Long: Tích cực chuyển đổi cây trồng năng suất thấp sang chuyên canh rau màu (24/4/2017)
Quyết định số 136/QĐ-SKHCN về việc Quyết định: Phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, Sở KH&CN Quảng Trị xét giao trực tiếp thực hiện năm 2017::"Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, xây dựng vùng sản xuất rau an toàn tập trung tại Thị xã Quảng Trị"

Quyết định số 135/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, Sở KH_CN Quảng Trị xét giao trực tiếp thực hiện năm 2017 "Xác lập Quyền sở hữu trí tuệ các sản phẩm đặc sản mang yếu tố địa danh ở các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 126/QĐ-SKHCN về việc Quyết định: Về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu năm thứ nhất đề tài: "Nhân giống và trồng thực nghiệm cây Mật nhân (Eurycoma longifolia Jack) dưới tán rừng trên vùng cát ở tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 115/QĐ-SKHCN về việc Quyết định: Về việc thành lập Hội đồng tư vấn kiểm tra, nghiệm thu, đánh giá kết quả thực hiện giữa kỳ đề án: "Khảo sát, đánh giá nhu cầu vận chuyển tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp (các mặt hàng chủ yếu) và đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ Logistic trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 118/QĐ-SKHCN về việc Quyết định: Về việc thành lập Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn đánh giá hồ sơ đề xuất dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025 bắt đầu thực hiện từ năm 2018.

Quyết định số 112/QĐ - SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Tổ tư vấn thẩm định nội dung, dự toán nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2016

Quyết định số 111/QĐ - SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu đề tài: "Nghiên cứu thành lập bản đồ phân vùng cấu trúc nền và bản đồ dự báo nguy cơ tiềm ẩn về ngập nước, xói lỡ, xâm nhập mặn đồng bằng ven biển và vùng đồi kế cận phục vụ quy hoạch xây dựng đô thị, khu công nghiệp, các dạng công trình (dân dụng, giao thông, công trình ngầm...) và phân bố khu dân cư nhằm nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu trong phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 368/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng nghiệm thu, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2016, dự án:"Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước về KH_CN"

Quyết định số 11/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu đề tài :"Di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Quảng Trị"

Báo cáo số 06/BC-SKHCN về việc Báo cáo tổng kết hoạt động ngành KH_CN năm 2016, kế hoạch năm 2017

Thông báo kết quả xét tuyển viên chức làm việc tại Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ

Thông báo về việc xây dựng thuyết minh, dự toán nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2017

Thông báo về việc tuyển chọn, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh (theo Quyết định số 3354/QĐ-UBND ngày 28/12/2016)

Thông báo về việc kết quả tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài:"nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt chất sinh học của chè vằng La Vang và củ nghệ, để định hướng tạo chuỗi sản phẩm thiên nhiên nâng cao giá trị thảo dược"

Thông báo về việc kết quả tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài:"Nghiên cứu thực trạng nhiễm vi rút viêm gan B ở cán bộ y tế và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị

Thống kê truy cập
254806
1354

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN Quảng Trị. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 84.53.857030. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này