Thứ Bảy, 21/7/2018 Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sở
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong tỉnh

Triển khai mô hình nuôi cá nước ngọt ở Hướng Hóa
Hướng Hóa là huyện miền núi, nơi có nhiều đồng bào dân tộc Vân Kiều và Pa Kô sinh sống, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên do địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, diện tích ao hồ nhỏ, lại phân bố không tập trung, trình độ sản xuất của người dân còn nhiều hạn chế nên thời gian qua, việc phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Hướng Hóa còn gặp nhiều khó khăn.
Kiểm tra độ tăng trưởng cá nuôi ở Hướng Hóa

    Nhằm giúp người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số tận dụng tiềm năng mặt nước, nâng cao đời sống, tăng thu nhập, những năm gần đây Trạm Khuyến nông (KN) huyện Hướng Hóa đã triển khai nhiều mô hình nuôi cá nước ngọt tại các xã trên địa bàn huyện. Thông qua mô hình đã giúp đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã, bản vùng sâu, vùng xa tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng cuộc sống.

    Ông Hồ Văn Bông ở tại thôn Xa Bai, xã Hướng Linh đã có thời gian nuôi cá nước ngọt hơn 10 năm. Trước đây, vì nguồn cá giống và kỹ thuật chăm sóc không đảm bảo nên sản lượng và chất lượng cá không cao. Ông Bông cho biết, do đường sá đi lại khó khăn, lại không biết mua cá giống ở đâu nên ông thường mua cá giống do thương lái đưa đến, với ao nuôi diện tích 400 m2 ông được họ hướng dẫn là phải thả từ 2.000 - 3.000 con cá giống. Tuy nhiên do cá giống có kích cỡ nhỏ, thức ăn cho cá chủ yếu là lá sắn, lá chuối, tổ mối… nên hao hụt nhiều, cá chậm lớn, nuôi từ 1,5 - 2 năm mới thu hoạch được khoảng 50 - 70 kg cá. Đầu năm 2017, khi tham gia mô hình “Nuôi cá truyền thống” do Trạm KN huyện triển khai, ông Bông được hỗ trợ 1.000 con cá giống đảm bảo chất lượng, 100% thức ăn công nghiệp cùng với sự hỗ trợ về kỹ thuật trong quá trình nuôi. Nhờ vậy, đến nay sau gần 7 tháng thả nuôi, cá đã đạt kích cỡ từ 0,45 - 0,65 kg/con, đặc biệt tỷ lệ hao hụt thấp, ước tính tỷ lệ sống đạt xấp xỉ 90%. Ông Hồ Văn Nam ở tại thôn Mã Lai, xã Hướng Phùng cũng chia sẻ trước đây ông chỉ nuôi cá theo hình thức thả tự nhiên, nuôi theo kinh nghiệm, cá tự kiếm ăn trong hồ là chủ yếu vì thế hiệu quả mang lại rất thấp. Ao nuôi có diện tích hơn 800 m2 , nuôi cả năm mà đến khi thu hoạch chỉ được chưa đầy 1 tạ cá. Từ khi được tham gia mô hình nuôi cá của Trạm KN huyện, ông được dự tập huấn về cách nuôi cá, được hướng dẫn cách cải tạo ao, cách chăm sóc cá, được hỗ trợ hơn 2.000 con cá giống, thức ăn công nghiệp nên cá lớn nhanh. Theo tính toán của ông, hiện ao đang có trên dưới 1 tấn cá. Theo kỹ sư Trương Vy Hùng, cán bộ kỹ thuật của Trạm KN huyện Hướng Hóa, hiện nay trạm đang triển khai 10 mô hình nuôi cá nước ngọt truyền thống trên địa bàn 2 xã Hướng Phùng và Hướng Linh với tổng diện tích hơn 5.000m2 , mật độ thả 2,5 con/m2. Các giống cá thả nuôi chủ yếu là trắm cỏ, mè, chép và rô phi. Đây là các đối tượng nuôi có thể nuôi theo hình thức nuôi ghép, quy trình kỹ thuật nuôi phù hợp người dân. Bên cạnh thức ăn công nghiệp còn có thể tận dụng các loại phụ phẩm nông nghiệp có sẵn ở địa phương như mối, giun, lá sắn, cỏ, cám gạo… Qua đánh giá thực tế, sau gần 7 tháng triển khai, các mô hình khá thành công, các chỉ tiêu về chất lượng và hiệu quả kinh tế đều đạt và vượt mức yêu cầu đề ra như tỷ lệ sống đạt từ 88% trở lên, trọng lượng cá trung bình từ 0,45 - 0,7 kg/ con. Với giá bán hiện nay khoảng 40.000 đồng/kg, bình quân mỗi hộ mô hình cũng thu được từ 25 - 30 triệu đồng. Chia sẻ những kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện mô hình nuôi cá truyền thống này, anh Hùng cho biết, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, kinh nghiệm nuôi cá còn nhiều hạn chế, vì vậy việc tuyên truyền, vận động người dân tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật là rất quan trọng và phải tiến hành thường xuyên theo phương châm “cầm tay chỉ việc”. Bên cạnh đó, do không có kinh nghiệm nên người dân chủ yếu mua cá giống do thương lái chở đi bán rong, kích cỡ nhỏ, chất lượng không bảo đảm nên tỷ lệ hao hụt cao. Trong khi cá giống do Trạm KN hỗ trợ đều có chất lượng tốt, có giấy chứng nhận rõ ràng. Anh Hùng cũng lưu ý, các ao nuôi cá ở vùng miền núi đều nằm ở nơi thấp, sát bên sườn đồi nên khi mưa lớn thường kéo theo phù sa xuống ao làm nước ao bị vẩn đục ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cá hoặc rủi ro hơn là nước lớn có thể làm vỡ ao gây thất thoát cá ra ngoài. Do đó các hộ nuôi cá cần đào các rãnh để cắt dòng nước, tránh các dòng nước từ trên đồi đổ trực tiếp vào ao. Theo ông Phan Ngọc Long, Phó Chủ tịch UBND xã Hướng Phùng, điểm vượt trội của mô hình là bên cạnh mang lại thu nhập cao, người dân còn được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, cách phòng trị bệnh nên cá phát triển nhanh, tỷ lệ hao hụt thấp; thời gian thu hoạch từ 1,5 - 2 năm như trước đây được rút ngắn xuống còn từ 8 tháng - 1 năm. Ông Long cho biết, lâu nay đồng bào dân tộc thiểu số chỉ quen đánh bắt cá tự nhiên ở sông, suối để cải thiện bữa ăn hàng ngày, còn việc nuôi cá thì chủ yếu chỉ thả cá giống, việc chăm sóc nuôi dưỡng hầu như là “nhờ trời”. Vì vậy bằng những mô hình được triển khai tại chỗ, hỗ trợ kỹ thuật thông qua phương pháp “cầm tay chỉ việc”, các cán bộ kỹ thuật của Trạm KN huyện đã tạo được niềm tin cho người dân trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, góp phần thay đổi tập quán nuôi cá của đồng bào dân tộc thiểu số từ chỗ chỉ nuôi theo tập quán lạc hậu và kinh nghiệm là chính sang nuôi có kỹ thuật, lựa chọn cá giống có chất lượng tốt, đầu tư thức ăn, phòng trị bệnh cho cá… Trên địa bàn xã Hướng Phùng có khoảng 15 ha nuôi cá, tuy nhiên ao hồ chủ yếu được đào ở nơi thấp, tận dụng các khe suối để đắp đập, be bờ giữ nước, lắp ống để dẫn nước vào ao nuôi. Vì vậy khi nuôi cá với thời gian dài thì rất dễ bị thất thoát do ảnh hưởng của thời tiết. Với việc rút ngắn được thời gian nuôi xuống còn khoảng 7 - 8 tháng như các mô hình do Trạm KN huyện triển khai sẽ giúp người dân chủ động được thời gian nuôi, né tránh được ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt. Trên cơ sở này, trong thời gian tới UBND xã sẽ có chủ trương vận động người dân học tập, đào thêm ao nuôi nhằm giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi, tăng thu nhập cho người dân, góp phần hoàn thành chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững ở địa phương. Theo ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm KN tỉnh, không chỉ năm 2017 này mà những năm trước, Trung tâm KN tỉnh cũng đã chỉ đạo Trạm KN huyện triển khai nhiều mô hình nuôi cá nước ngọt trên địa bàn các xã vùng khó như A Xing, Húc, Pa Tầng… như mô hình nuôi cá truyền thống, mô hình nuôi cá rô đầu vuông, cá rô phi đơn tính… và đã mang về thu nhập cho người dân hàng chục triệu đồng.

     Thành công của các mô hình này đã khẳng định việc áp dụng khoa học- kỹ thuật trong nuôi cá nước ngọt truyền thống tại khu vực miền núi là rất phù hợp. Thông qua mô hình này, đã chuyển giao được tiến bộ kỹ thuật cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Từ đó, giúp họ chủ động xây dựng kế hoạch làm ăn, tăng thu nhập và cải thiện đời sống, giảm thiểu việc khai thác tài nguyên rừng...

 

Theo baoquangtri.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Ứng dụng khoa học- kỹ thuật trong trồng cây dược liệu (19/7/2018)
Kết quả 5 năm phát triển khoa học - công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (17/7/2018)
Nâng cao chất lượng tôm nuôi từ mô hình 2 giai đoạn (13/7/2018)
Tăng cường xác lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu cho đặc sản (09/7/2018)
Hỗ trợ thanh niên nông thôn khởi nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới (29/6/2018)
Triển khai thu mua dứa nguyên liệu cho nông dân (25/6/2018)
Chung niềm đam mê sáng tạo kỹ thuật công nghệ cao (24/6/2018)
Tọa đàm: “Nâng cao vai trò trách nhiệm của các cá nhân tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ trong việc thực hiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” (08/6/2018)
Gỡ “nút thắt” để phát triển sản xuất nông nghiệp mới (04/6/2018)
Nâng cao năng lực sản xuất chế phẩm vi sinh (04/6/2018)
Sản xuất thành công sản phẩm đông trùng hạ thảo Sa Mù (29/5/2018)
Hoàn thiện công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng các chế phẩm vi sinh vật xử lý các phế phụ phẩm nông nghiệp và môi trường nuôi trồng thủy sản (16/5/2018)
Đưa khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống: Kết quả và chiến lược (21/5/2018)
Ngành khoa học và công nghệ: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (16/5/2018)
Chè vằng hòa tan tralavang - sản phẩm của sự liên kết “4 nhà” (21/5/2018)
Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND: Đồng hành cùng Doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ (25/5/2018)
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh Quảng Trị: Thực trạng và giải pháp (04/6/2018)
Quảng Trị qua 5 năm thực hiện chương trình hành động số 64-CTHĐ/TU thực hiện NQ20-NQ/TW về phát triển khoa học và công nghệ (17/5/2018)
Sử dụng wifi miễn phí tại các điểm du lịch của Quảng Trị (14/5/2018)
Sản phẩm, mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tiêu biểu (16/5/2018)
Tạo động lực để thúc đẩy phong trào lao động sáng tạo (15/5/2018)
Nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống Liên hiệp Hội, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ (15/5/2018)
Những đơn vị điển hình trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ (21/5/2018)
Đẩy mạnh ứng dụng và nhân rộng tiến bộ khoa học và công nghệ (27/4/2018)
Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sản xuất (27/4/2018)
Khi tiềm năng vùng cát được đánh thức (24/4/2018)
Cà gai leo, một sản phẩm nông nghiệp sạch (20/4/2018)
Đánh thức khát vọng khởi nghiệp (16/4/2018)
Doanh nghiệp Quảng Trị hội nhập và phát triển (06/4/2018)
Sáng tạo, động lực để doanh nghiệp phát triển (04/4/2018)
Sắn dây, cây trồng có hiệu quả kinh tế cao (04/4/2018)
Bộ Khoa học và Công nghệ bàn giao nhà tình nghĩa và tặng quà gia đình chính sách tại tỉnh Quảng Trị (28/3/2018)
Đẩy mạnh hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng kết quả khoa học và công nghệ (24/3/2018)
Sản xuất tỏi đen và chè vằng hòa tan (21/3/2018)
Hành động vì chủ đề “Năm Doanh nghiệp” (21/3/2018)
Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến rau quả sạch (20/3/2018)
Cây Trạch tả - hướng đi mới trong trồng, chăm sóc cây dược liệu trên địa bàn huyện Cam Lộ. (20/3/2018)
Tăng cường thu hút đầu tư và đồng hành cùng doanh nghiệp (19/3/2018)
Hai cây chủ lực thúc đẩy kinh tế vùng gò đồi phát triển (19/3/2018)
Nhân rộng mô hình canh tác nông nghiệp thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu (18/3/2018)
Tỏi đen mang lại “nguồn lợi vàng” (18/3/2018)
Sắc hoa ôn đới nở trên miền nắng gió (18/3/2018)
Triệu Phong đẩy mạnh phát triển kinh tế (09/3/2018)
Triển khai nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn (09/3/2018)
Trồng hoa tulip trên đèo Sa Mù, mở ra hướng phát triển mới (08/3/2018)
Sở Khoa học và Công nghệ chuyển giao thành công mô hình trồng nấm dược liệu cho người dân (08/3/2018)
Mô hình nuôi chim bồ câu mang lại hiệu quả kinh tế cao (07/3/2018)
Xây dựng các tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật nhằm phổ cập đèn LED cho tàu đánh bắt xa bờ thuộc dự án tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả công việc với trang thiết bị đèn LED đặc biệt công nghệ mới (COB) cho tàu đánh bắt xa bờ Quảng Trị (05/3/2018)
Chè vằng hòa tan TRALAVANG: Sản phẩm nông nghiệp sạch của tỉnh Quảng Trị (02/3/2018)
Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất cam đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại tỉnh Quảng Trị (06/3/2018)
Quyết định số 1792/QĐ-BKHCN về việc Quyết định Về việc Điều tra nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ năm 2018

Quyết định số 1750/QĐ-BKHCN về việc Quyết định Về việc Điều tra nhận thức công chúng về khoa học và công nghệ năm 2018

Thông tư số 03/2018/TT-BKHCN về việc Thông tư Ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ và phân công thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu thống kê quốc gia về khoa học và công nghệ

Quyết định số 202/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt nhiệm vụ KH_CN cấp cơ sở thực hiện năm 2018, dự án:"Nghiên cứu quy trình và sản xuất sản phẩm hàng hóa từ thảo dược"

Quyết định số 204/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở thực hiện năm 2018, đề tài:"Xây dựng CSDL nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Quyết định số 338/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Về việc sữa đổi, bổ sung hệ thống biểu mẫu áp dụng quy chế quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Quyết định số 78/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Quyết định số 383/QĐ/QĐ - SKHCN về việc Quyết định về việc ban hành Chương trình công tác trọng tâm năm 2018 của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Quyết định số 84/QĐ-UBND về việc Quyết định V/v Phê duyệt đề tài khoa học "Nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và thôn bản, khu phố trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Quyết định số 3719/QĐ-UBND về việc Quyết định V/v Phê duyệt đề tài khoa học "Nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và thôn bản, khu phố trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

TB về việc thống nhất áp dụng Bảng phân loại quốc tế về các yếu tố hình của nhãn hiệu (theo Thỏa ước Vienna) phiên bản 8

Sao y Công văn số 74 ngày 19/01/2018 của Trường Đại học Ngoại ngữ Quốc gia Hà Nội V/v Cảnh báo về chứng chỉ năng lực ngoại ngữ giả

Thông báo V/v tổ chức thi thăng hạng viên chức hành chính

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài:"Nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và thôn bnar, khu phố trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh đã cấp giấy chứng nhận

Xem thêm
Thống kê truy cập
255756
791

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN Quảng Trị. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này