Chủ Nhật, 17/02/2019 Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sở
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật và đánh giá kết quả điều trị hội chứng tắc phần nối bể thận niệu quản ở trẻ em bằng phẫu thuật nội soi sau phúc mạc
Phần nối bể thận niệu quản là phần tiếp nối giữa bể thận và niệu quản. Tắc nghẽn hoàn toàn hay một phần phần nối bể thận niệu quản làm cản trở lưu thông nước tiểu qua phần nối bể thận niệu quản xuống niệu quản, gây nên tình trạng ứ nước thận. Nguyên nhân tắc nghẽn là do đè ép từ bên ngoài hoặc chít hẹp bên trong. Mức độ ứ nước thận tùy thuộc vào mức độ tắc nghẽn tại phần nối bể thận niệu quản. Bệnh lý này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1816. Đến năm 1841, đặc tính của bệnh mới được mô tả đầy đủ trên y văn thế giới. Bệnh có thể do nguyên nhân bẩm sinh hoặc mắc phải. Năm 1993, Schuessler W. đã áp dụng thành công phẫu thuật nội soi điều trị hẹp phần nối bể thận niệu quản ở người lớn. Tan H.L. và cộng sự (1996) là người đầu tiên thông báo đã áp dụng thành công phẫu thuật nội soi điều trị hẹp phần nối bể thận niệu quản ở trẻ em.
Phẫu thuật nội soi cho kết quả điều trị tương đương như phẫu thuật mổ mở kinh điển. Với ưu thế là một phẫu thuật ít xâm hại, có tính thẩm mỹ cao, các nghiên cứu đều khẳng định phẫu thuật nội soi là sự lựa chọn hàng đầu trong điều trị bệnh lý hẹp phần nối bể thận niệu quản, đặc biệt ở trẻ em. Phẫu thuật nội soi có thể được thực hiện bằng đường qua phúc mạc hay sau phúc mạc. Tuy nhiên, kỹ thuật này đòi hỏi rất cao về dụng cụ phẫu thuật cũng như trình độ của phẫu thuật viên do phẫu trường làm việc rất hạn chế, đặc biệt với đường sau phúc mạc. Để rút ngắn thời gian phẫu thuật, đặc biệt ở trẻ em, một số tác giả đã đề xuất việc sử dụng nội soi để phẫu tích phần nối rồi đưa ra ngoài khâu nối. Lima M. (2007), Caione P. (2010) đã chứng minh phương pháp này mang lại kết quả rất tốt ở trẻ nhỏ. 

Nội soi hỗ trợ đường sau phúc mạc với 1 trocar cho phép phẫu tích dễ dàng phần nối bằng nội soi sau đó đưa ra ngoài thành bụng để cắt và khâu nối. Phương pháp này tận dụng được tối đa các lợi điểm của cả phẫu thuật nội soi và phẫu thuật mổ mở trong điều trị bệnh lý hẹp phần nối niệu quản bể thận ở trẻ em. Với mục đích đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật hẹp phần nối bể thận niệu quản ở trẻ em bằng phẫu thuật nội soi sau phúc mạc, nhóm nghiên cứu do GS. TS Nguyễn Thanh Liêm, Bệnh viện Nhi Trung ương đã kiến nghị và được chấp thuận cho thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi sau phúc mạc điều trị hẹp phần nối bể thận niệu quản ở trẻ dưới 5 tuổi” với các mục tiêu sau:

1. Nghiên cứu ứng dụng chỉ định và kỹ thuật của phẫu thuật nội soi hỗ trợ đường sau phúc mạc sử dụng 1 trocar điều trị bệnh hẹp Phần nối bể thận niệu quản ở trẻ dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi trung ương.

2. Đánh giá kết quả của phẫu thuật nội soi hỗ trợ đường sau phúc mạc sử dụng 1 trocar điều trị bệnh hẹp phần nối bể thận niệu quản ở trẻ dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi trung ương.

Từ 1/2011 đến tháng 6/2013 tại Bệnh viện Nhi Trung ương đã tiến hành áp dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ đường sau phúc mạc sử dụng 1 trocar để điều trị bệnh lý hẹp phần nối niệu quản bể thận cho 70 bệnh nhi. Qua kết quả nghiên cứu nhóm nghiên cứu nêu lên những kết luận sau:

1. Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc sử dụng 1 trocar điều trị bệnh lý hẹp Phần nối bể thận niệu quản chỉ định cho những trường hợp ứ nước thận ở trẻ dưới 5 tuổi.

Tuổi mổ trung bình trong nghiên cứu 22,6±18,6 tháng. 65,71% bệnh nhân trong nghiên cứu dưới 24 tháng tuổi. Chỉ định phẫu thuật dựa vào chẩn đoán trước sinh và các thăm dò hình ảnh. 82,14% bệnh nhân dưới 12 tháng có chẩn đoán trước sinh. Đường kính trước sau bể thận trung bình trên siêu âm trước mổ 34,3 mm±8,1mm. Xạ hình thận trước mổ có hình ảnh tắc nghẽn đường bài xuất với thời gian bán thải (T/2) kéo dài trên 20 phút. Chức năng thận trung bình là 47,9±9,8%. Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc 1 trocar điều trị hẹp Phần nối bể thận niệu quản là một ứng dụng kỹ thuật phù hợp ở trẻ dưới 5 tuổi. Kỹ thuật này có được những lợi điểm của cả phẫu thuật mổ mở và phẫu thuật nội soi. Với 1 trocar đặt ở dưới xương sườn 12, đường rạch da 1,5cm, sử dụng ống kính có 2 kênh, với áp lực bơm hơi 10mmHg ở trẻ dưới 1 tuổi, 12mmHg ở trẻ lớn, việc phẫu tích phần nối bể thận niệu quản và niệu quản dài 2cm dưới phần nối bằng nội soi đường sau phúc mạc cho phép đưa phần nối ra ngoài thành bụng dễ dàng. Có 2/70(2,86%) bệnh nhân phải mổ mở do thủng phúc mạc. Phẫu thuật tạo hình theo phương pháp AndersonHynes tiến hành thuận lợi qua đường rạch da ở chân trocar trong 91,2% các trường hợp. Có 8,8% trường hợp phải rạch rộng chân trocar thêm 1,5cm do bể thận viêm dính hoặc do phải dẫn lưu qua nhu mô thận. Tình trạng viêm bể thận là yếu tố nguy cơ phải mở rộng vết mổ. 

2. Đánh giá kết quả áp dụng phẫu thuật nội soi sau phúc mạc sử dụng 1 trocar trị bệnh lý hẹp phần nối bể thận niệu quản ở trẻ dưới 5 tuổi tại bệnh viện Nhi trung ương

Thời gian mổ trung bình là 74,8±15,2 phút. Thời gian bơm hơi trung bình là 19,7±5,8 phút. Không có tai biến trong mổ. Không có biến chứng rò nước tiểu sau mổ. Thời gian nằm viện trung bình là 3,7±2,6 ngày. 80,88% bệnh nhân nằm viện dưới 4 ngày. 75,71% bệnh nhân được khám lại sau mổ tối thiểu 6 tháng. Có 2 bệnh nhân phải mổ lại do hẹp miệng nối sau mổ, chiếm 3,92%. Kết quả tốt đạt 88,24% với kích thước bể thận sau mổ dưới 20mm. 7,84% bệnh nhân có kết quả khá với kích thước bể thận trên 20mm, nhưng không có biểu hiện lâm sàng. Kích thước bể thận trung bình sau mổ là 14,3±5,1mm. Có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê giữa kích thước trung bình của bể thận và dày nhu mô thận trước và sau mổ (p<0,05). Tuổi mổ có ý nghĩa quan trọng đến sự phục hồi chức năng thận sau mổ (p<0,05). Kích thước bể thận trên siêu âm phản ánh tình trạng lưu thông nước tiểu qua phần nối và là thông số quan trọng để đánh giá và theo dõi sự phục hồi chức năng thận sau mổ. 
Theo vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Đề xuất cơ chế hỗ trợ sản phẩm công nghệ cao thâm nhập thị trường (15/02/2019)
Nhiều chính sách ưu đãi doanh nghiệp khoa học và công nghệ (14/02/2019)
Quy định mức chi thực hiện hoạt động sáng kiến (14/02/2019)
Nhà khoa học Việt tìm ra chất chống tiểu đường trong gạo trắng (14/02/2019)
Sản xuất vật liệu xây dựng từ tro bay bằng công nghệ geopolymer bán khô (14/02/2019)
Thủ tướng Chính phủ: Cần tập trung chuyển đổi mạnh mẽ nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng dựa vào khoa học và công nghệ (14/02/2019)
Hệ thống không dây giám sát các thông số môi trường trong nhà trồng nấm (13/02/2019)
Xây dựng Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia (29/01/2019)
Tạo màu thực phẩm bằng lá chùm ngây (29/01/2019)
Phòng phân tích dioxin thứ hai của Việt Nam đi vào hoạt động (29/01/2019)
Vệ tinh MicroDragon gửi những bức ảnh thử nghiệm đầu tiên (28/01/2019)
Cầu nối giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ (28/01/2019)
Sớm hoàn thiện Bản đồ số Việt Nam (28/01/2019)
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia (24/01/2019)
Huy động các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo (24/01/2019)
Phóng thành công vệ tinh MicroDragon (24/01/2019)
Chính thức triển khai 02 thủ tục hành chính của Cục ATBXHN trên hệ Cổng thông tin một cửa quốc gia (24/01/2019)
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: “Kết quả của ngành KH&CN là rõ và thực chất” (22/01/2019)
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt, biểu dương kỹ sư trẻ chế tạo vệ tinh MicroDragon (22/01/2019)
Hỗ trợ các công ty khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực phát triển xanh (22/01/2019)
Cầu nối giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ (22/01/2019)
Khởi động Cuộc thi Chứng minh ý tưởng lần thứ 3 (18/01/2019)
Dự án Khởi tạo môi trường Sở hữu trí tuệ và định hướng một số hoạt động trong năm 2019 (18/01/2019)
Đầu tư vào khoa học và công nghệ: Doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm (18/01/2019)
Cơ hội ứng dụng công nghệ bơm nhiệt tiên tiến của Nhật Bản (18/01/2019)
IPP2 - Chương trình ODA tiên phong trong hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam (18/01/2019)
Australia hỗ trợ Việt Nam đổi mới sáng tạo (16/01/2019)
Gần 20.000 tiêu chuẩn quản lý chất lượng đã được ban hành (11/01/2019)
Nhà nước hỗ trợ khởi nghiệp: Bốn năm nhìn lại (11/01/2019)
Nghiên cứu và phát triển trực thăng không người lái phục vụ nông nghiệp (10/01/2019)
Thử nghiệm công nghệ xử lý rác thải hữu cơ tái tạo năng lượng của Nhật Bản (10/01/2019)
Tăng cường sự phối hợp trong triển khai Nghị quyết về chỉ số đổi mới sáng tạo (07/01/2019)
Phát động Chương trình Danh hiệu Sao Khuê 2019 (07/01/2019)
Trí tuệ nhân tạo ở Việt Nam: 5 xu hướng chủ đạo (07/01/2019)
‘Xây dựng NTM và giảm nghèo phải bứt phá trên mọi phương diện’ (07/01/2019)
Khánh thành nhà máy chế biến rau củ quả đầu tiên ở Việt Nam đạt chuẩn Mỹ (07/01/2019)
Những dấu ấn khoa học công nghệ Việt 2018 (05/01/2019)
Sản xuất dấm gỗ diệt côn trùng, cải tạo đất (07/01/2019)
Mười tài năng trẻ nhận giải Quả cầu vàng năm 2018 (05/01/2019)
24 doanh nghiệp và cá nhân nhận Giải thưởng Công nghệ thông tin – truyền thông TPHCM (02/01/2019)
Việt Nam - Thái Lan đẩy mạnh hợp tác khoa học, công nghệ (02/01/2019)
Lần đầu Việt Nam sản xuất hạt khoáng nano Calcium Phosphate (02/01/2019)
Viện Tế bào gốc: Kết nối quốc tế ngay từ bước khởi đầu (02/01/2019)
Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia: Sẽ là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế (26/12/2018)
Sở hữu trí tuệ hỗ trợ đắc lực doanh nghiệp khởi nghiệp (25/12/2018)
Dự án xóa sẹo và tái tạo da bằng công nghệ laser vi điểm tốt nghiệp ươm tạo (21/12/2018)
Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong công tác dân tộc (21/12/2018)
Hơn 100 đội diễn tập ứng cứu sự cố an toàn thông tin mạng (21/12/2018)
Tuyển chọn thực hiện 3 đề tài lĩnh vực Khoa học sự sống (21/12/2018)
Quản trị dữ liệu - Thách thức mới của nhân loại (21/12/2018)
Kế hoạch số 10/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Tập huấn xây dựng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001 vào hoạt động UBND các Phường, xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh năm 2019.

Kế hoạch số 09/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Duy trì áp dụng và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2019.

Quyết định số 323/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Ban hành Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị.

Quyết định số 2677/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc thành lập Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin Khoa học và Công nghệ, trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ.

Quyết định số 10/QĐ-SKHCN về việc Quyết định V/v công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

Quyết định số 11/QĐ-SKHCN về việc Quyết định V/v công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

Quyết định số 12/QĐ-SKHCN về việc Quyết định V/v công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

Quyết định số 108/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo Cuộc "Sáng tạo trẻ Quảng Trị".

Quyết định số 121/QĐ-BCĐ về việc Quyết định Về việc ban hành Kế hoạch tổ chức Cuộc thi "Sáng tạo trẻ Quảng Trị" lần thứ VIII, năm 2019.

Quyết định số 348/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Về việc ban hành Chương trình công tác trọng tâm năm 2019 của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài

Thông báo về việc đề xuất và đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh bắt đầu thực hiện năm 2019.

TB về việc thống nhất áp dụng Bảng phân loại quốc tế về các yếu tố hình của nhãn hiệu (theo Thỏa ước Vienna) phiên bản 8

Kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh đã cấp giấy chứng nhận

Thông báo về việc kết quả tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài:"Nghiên cứu thực trạng nhiễm vi rút viêm gan B ở cán bộ y tế và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị

Xem thêm
Thống kê truy cập
256650
138

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN Quảng Trị. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này