Thứ Năm, 15/11/2018 Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sở
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong tỉnh

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh Quảng Trị: Thực trạng và giải pháp
Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: Công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ.
Ký kết Bản ghi nhớ (MOU) giữa UBND tỉnh Quảng Trị với Công ty Sumitomo (Nhật Bản) về việc hợp tác triển khai dự án mô hình ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Quangtri.gov.vn
Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có. (Luật công nghệ cao, 2014)

Như vậy, mục tiêu cuối cùng của phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất nông nghiệp thấp, sản phẩm chất lượng thấp, đầu tư công lao động nhiều, chi phí cao, hiệu quả kinh tế thấp với việc áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ để đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định với năng suất, chất lượng, sản lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng cao. Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên với các nguồn lực đầu tư trong đó có nguồn lực con người, hướng tới việc hài hòa và thống nhất lợi ích xã hội, kinh tế và sinh thái môi trường. Từ những năm giữa thế kỷ XX, các nước phát triển đã quan tâm đến việc xây dựng các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhằm thúc đẩy sáng tạo khoa học công nghệ giúp cho kinh tế phát triển. Đầu những năm 80, tại Hoa Kỳ đã có hơn 100 khu khoa học công nghệ. Ở Anh Quốc, đến năm 1988 đã có 38 khu vườn khoa học công nghệ với sự tham gia của hơn 800 doanh nghiệp. Phần Lan đến năm 1996 đã có 9 khu khoa học nông nghiệp công nghệ cao. Phần lớn các khu này đều phân bố tại nơi tập trung các trường đại học, viện nghiên cứu để nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới và kết hợp với kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp để hình thành nên một khu khoa học với các chức năng cả nghiên cứu ứng dụng, sản xuất, tiêu thụ và dịch vụ. Bên cạnh các nước tiên tiến, nhiều nước và khu vực lãnh thổ ở Châu Á cũng đã và đang chuyển nền nông nghiệp theo hướng số lượng là chủ yếu sang nền nông nghiệp chất lượng, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá, cơ giới hoá, tin học hoá… để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, an toàn, hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác, nuôi trồng trong nông nghiệp hiện nay chủ yếu là công nghệ lai tạo giống, công nghệ nuôi cấy mô thực vật Invitro, công nghệ nuôi trồng trong nhà kính (nhà màng – green house hay nhà lưới – net house); công nghệ canh tác cây trồng trong dung dịch (thủy canh), khí canh và trên giá thể; công nghệ tưới nhỏ giọt; công nghệ chẩn đoán bệnh và dịch tể… Ở Việt Nam, năm 2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 176/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, các tỉnh, thành phố trong cả nước đang triển khai xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao; các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Điển hình như: Khu Nông nghiệp công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt; các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của các tỉnh Nghệ An, Bắc Ninh, Lâm Đồng… Các doanh nghiệp tham gia sản xuất trong Khu có sản lượng hàng hóa tập trung, kiểm soát được tiêu chuẩn, chất lượng nông sản, giảm được chi phí đầu tư về cơ sở hạ tầng trên một đơn vị diện tích. Được hưởng một số chính sách ưu đãi của Nhà nước về thuế đất, thuế các loại… Các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao thông thường do một doanh nghiệp đầu tư, quy mô tùy theo khả năng đầu tư vốn và sản phẩm của mô hình là sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp. Một số Doanh nghiệp công nghệ cao thành công với việc sản xuất rau hoa cao cấp như: Công ty Dalat Hasfarm và Công ty Cổ phần Rừng Hoa… Ngoài việc cung cấp cho thị trường trong nước thông qua mạng lưới phân phối vững chắc và rộng khắp, Doanh nghiệp còn xuất khẩu sang Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Đài Loan, Cambodia,... Việc xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là loại hình phổ biến và mang tính đại trà, có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp của nước ta trong điều kiện hiện nay. Việc phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có khả năng ứng dụng cao trên một vùng chuyên canh tạo nên khối lượng hàng hóa lớn; tận dụng được các lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động tại vùng. Chỉ sử dụng một số công nghệ cao phù hợp với một số khâu canh tác nên chi phí đầu vào giảm, phù hợp với khả năng đầu tư của nông dân.Tuy nhiên, do áp dụng công nghệ cao không đồng bộ nên chất lượng sản phẩm vẫn chưa đồng đều và cao.Khâu tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào các hợp đồng với các doanh nghiệp nên chưa ổn định. Lâm Đồng là nơi tập trung nhiều vùng sản xuất có ứng dụng các công nghệ cao như vùng trồng rau hoa Đà Lạt, vùng trồng trà olong Bảo Lộc… Trong đó, việc rà soát quỹ đất phục vụ việc lập quy hoạch các vùng nhằm đảm bảo tính ổn định về đất đai và có cơ sở để thu hút đầu tư được coi trọng. Các công nghệ trong từng lĩnh vực cũng được xem xét một cách kỹ lưỡng. Riêng đối với các vùng sản xuất rau, hoa việc ứng dụng trồng rau, hoa trong nhà lưới, nhà màng, sử dụng màng phủ, tưới phun sương, tưới nhỏ giọt đã triển khai khá phổ biến trong những năm qua. Cụ thể là, có tới 95,9% số hộ trồng hoa sử dụng nhà màng, nhà lưới để canh tác hoa. Hoa trồng trong nhà có mái che chủ yếu là các loại hoa cúc, salem, hồng, đồng tiền, cẩm chướng, phong lan, địa lan. Việc tiêu thụ sản phẩm của vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hiện nay chủ yếu thông qua mô hình liên kết giữa Hợp tác xã (đại diện cho các hộ sản xuất) và Doanh nghiệp. Đối với tỉnh Quảng Trị, việc quy hoạch các vùng sản xuất tập trung chuyên canh đã được thực hiện đồng bộ kể từ Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐND về quy hoạch phát triển nông nghiệp đến năm 2020, nhiều vùng chuyên canh cây trồng gắn với hệ thống các nhà máy/cơ sở chế biến đã hình thành như: cây cao su (xấp xỉ 20.000 ha) gắn với 7 nhà máy chế biến mủ cao su; cây hồ tiêu (2.500 ha), cây cà phê (5.500 ha) gắn với 14 nhà máy chế biến ướt, cây sắn 11.000 ha gắn với 03 nhà máy chế biến tinh bột sắn… Tuy nhiên, việc ứng dụng đồng bộ khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạn chế, chủ yếu canh tác truyền thống, thiếu đóng góp của yếu tố công nghệ nên năng suất, chất lượng và sản lượng thấp. Kể từ sau Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI, Quảng Trị xác định mục tiêu Phát triển nền nông nghiệp sạch, hiện đại, bền vững, duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định 3,5 - 4%, thực hiện thành công đề án tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở phát huy các kết quả đạt được của giai đoạn 2010 - 2015, giai đoạn 2016 - 2020 xác định nâng cao năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) là yếu tố then chốt, quyết định việc chuyển đổi sản xuất từ chiều rộng sang chiều rộng kết hợp với chiều sâu. Qua 02 năm thực hiện, việc ứng dụng khoa học và công nghệ (nhất là công nghệ cao) đã có những bước phát triển. Nhiều mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị quy mô lớn lần đầu được triển khai mang lại hiệu quả tích cực: Ký kết hợp đồng với Công ty cổ phẩn thực phẩm Đồng Giao phát triển vùng nguyên liệu Dứa với mục tiêu đến năm 2020 đạt 1.000 ha để xây dựng Nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu tại Quảng Trị (Năm 2017 đã trồng mới được gần 150 ha); Ký kết biên bản ghi nhớ với Tập đoàn Đại Nam – Nhà máy sản xuất phân bón Obi - Ong biển sản xuất nông nghiệp hữu cơ (Đến nay, đã triển khai được 250 ha trong 02 vụ); Đang ký kết với Tập đoàn Nafoods để triển khai vùng sản xuất Chanh leo xuất khẩu tại Hướng Hóa; Thành lập các HTX sản xuất Hồ tiêu hữu cơ và vùng sản xuất Hồ tiêu hữu cơ Quảng Trị tại huyện Vĩnh Linh… Ngoài ra, các Hợp tác xã nông nghiệp như: HTX Nguyên Khang Hải Lăng; HTX Trường Sơn – Vĩnh Tú… đã mạnh dạn đầu tư các công nghệ nhà màng, tưới tiết kiệm, thủy canh để sản xuất dưa lưới, rau xà lách, dưa hấu… Qua sơ kết, đánh giá các mô hình, các vùng sản xuất ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh Quảng Trị trong thời gian qua, chúng ta thấy một số khó khăn, tồn tại, hạn chế sau: Chưa có quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nên các địa phương đang lúng túng trong quá trình thực hiện; Việc xây dựng các mô hình đôi khi còn thiếu việc cân nhắc kỹ giữa lợi ích và chi phí do rủi ro nhất là tại các địa bàn thường xuyên chịu tác động của thiên tai; Việc tiêu thụ phụ thuộc chủ yếu vào Doanh nghiệp, tuy nhiên hầu hết các mô hình Nhà kính trên địa bàn vẫn chưa có đầu ra ổn định; Việc lựa chọn phương thức, công nghệ xây dựng nhà kính khác nhau, chưa có mô hình nhà kính chuẩn cho từng vùng sinh thái; Chưa xác định được bộ cây trồng, vật nuôi chủ lực để trồng trong nhà kính nên sản lượng thấp, chưa đồng đều, khó kết nối thị trường…

Từ những mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nước và thế giới, để phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị chúng ta cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

1. Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tập trung đánh giá rà soát kết quả thực hiện công tác quy hoạch ngành nông nghiệp. Trên cơ sở đó, xây dựng quy hoạch vùng sản xuất ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh Quảng Trị trình UBND tỉnh phê duyệt. Trong đó, ưu tiên xác định được đối tượng cây trồng, vật nuôi, quy mô diện tích, địa điểm, loại công nghệ áp dụng… phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, từng địa phương. Việc quy hoạch mang tính chất lâu dài cho giai đoạn 2016 - 2020 và tầm nhìn đến 2030. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để kêu gọi, xúc tiến đầu tư trên lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời giúp các tổ chức/cá nhân/doanh nghiệp yên tâm, có kế hoạch đầu tư bài bản lâu dài.

2. Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng tại các vùng Quy hoạch sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Việc quy hoạch, xác định các Quỹ đất sạch, các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao gắn với việc đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện… là yếu tố quyết định đến thu hút đầu tư của Doanh nghiệp. Các địa phương, đơn vị cần chủ động rà soát quy hoạch đất, lựa chọn các Quỹ đất sạch, kêu gọi, tìm kiếm, lồng ghép các nguồn lực khác nhau để hoàn thiện các hệ thống hạ tầng nhằm phục vụ sản xuất.

3. Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Việc đầu tư xây dựng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ngoài đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn còn phải phù hợp với khí hậu, thời tiết và điều kiện tự nhiên của từng vùng. Đồng thời, việc xác định loại cây trồng, vật nuôi có lợi thế so sánh của địa phương cũng cần đặc biệt lưu ý. Do đó, việc xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao cho từng địa phương, từng vùng sinh thái, từng đối tượng sản xuất là rất cần thiết. Tránh việc copy hay áp dụng nguyên xi các công nghệ cao mà nơi khác đã làm; cần phải có sự điều chỉnh để mang lại hiệu quả cao nhất. Trong đó cần tập trung ứng dụng công nghệ cao trong các khâu chọn tạo giống và bảo quản, chế biến sản phẩm sau thu hoạch.

4. Giải pháp về nguồn nhân lực phục vụ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đòi hỏi việc đào tạo và thu hút một lực lượng lớn lao động trẻ vào nông nghiệp. Đây là lực lượng lao động có khả năng tiếp thu và phát huy tốt nhất trong việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Do đó, việc phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi phải có chiến lược đào tạo, thu hút lực lượng lao động có tay nghề cao vào nông nghiệp. Các chương trình đào tạo nghề cần tập trung vào việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nông nghiệp; đồng thời phải hợp tác với các Tổ chức/ Doanh nghiệp/Tập đoàn lớn để đào tạo một đội ngũ kỹ thuật viên nông nghiệp đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi mới.

5. Phát huy liên kết 4 nhà trong việc phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Với quy mô sản xuất nhỏ lẻ như hiện nay, mối liên kết giữa các hộ nông dân thông qua việc thành lập Hợp tác xã trên nguyên tắc tự nguyện sẽ tạo thuận lợi hơn về mặt pháp lý trong việc giao dịch, ký kết hợp đồng với các đơn vị tiêu thụ và quá trình đăng ký thương hiệu nông sản.  Hợp tác xã sẽ đảm nhiệm vai trò đầu mối cho các xã viên tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, ký kết hợp đồng liên kết với doanh nghiệp trong cung cấp yếu tố đầu vào, đầu ra cho nông dân, trên cơ sở tham khảo ý kiến và cân đối với khả năng sản xuất ổn định của các xã viên. Doanh nghiệp liên kết cần đảm bảo sự ổn định trong các điều khoản cam kết và hỗ trợ đã ký kết với hợp tác xã. Tránh tình trạng chậm trễ trong thanh toán, và hành động có ý tiêu cực với nông dân. Do đó, việc lựa chọn các hình thức liên kết và đối tượng liên kết là rất quan trọng. Việc tìm kiếm được đối tác liên kết có đủ tiềm lực và tâm huyết là yếu tố quyết định sự thành công của sản xuất.
 
6. Đẩy mạnh công tác truyền thông, xây dựng thương hiệu các sản phẩm chủ lực, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Trong giai đoạn hiện nay, công tác truyền thông có vai trò quan trọng quyết định đến xu hướng thị trường và tiêu dùng của thế giới. Việc xây dựng nhận diện, thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực là nền tảng để nâng cao giá trị gia tăng và kích cầu tiêu dùng. Song song với quá trình tuyên truyền để thay đổi cách nghĩ, cách làm của người sản xuất, cần tập trung vào các chính sách để hỗ trợ nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản thông qua thương hiệu.

Các sản phẩm tại các vùng sản xuất ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao phải được chứng nhận theo các tiêu chuẩn như: VietGAP, GlobalGAP, An toàn thực phẩm… Trên cơ sở đó, có chính sách hỗ trợ cho các Hợp tác xã/Tổ hợp tác  tham gia các hội chợ, triển lãm tổ chức tại các tỉnh, thành phố khác trong nước và có thể là các hội chợ trong khu vực để tăng cường quảng bá sản phẩm của các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh. Tóm lại, cốt lõi của sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là tạo ra những sản phẩm chất lượng với quy mô sản xuất lớn. Chất lượng ở đây đòi hỏi phải đáp ứng được 3 khía cạnh: kỹ thuật, chức năng và dịch vụ. Bởi vì nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao không chỉ sản xuất để đáp ứng yêu cầu cho nhu cầu tiêu dùng hằng ngày của con người mà còn phải mang lợi nhuận cao, khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên. Do đó, việc lựa chọn đối tượng sản xuất, phương thức sản xuất phù hợp để đáp ứng nhu cầu của thị trường là yêu cầu hết sức quan trọng.
Đặc san KH&CN Quảng Trị
Tin, bài cùng lĩnh vực
Hội thảo: Giảm phát thải 6 tỉnh Bắc Trung bộ tại Quảng Trị (12/11/2018)
Phát triển hồ tiêu sạch (09/11/2018)
Mở lối đưa nông sản sạch vào siêu thị (31/10/2018)
Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo trong thanh niên (22/10/2018)
Nỗ lực kết nối chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản (22/10/2018)
Trao giải cuộc thi “Sáng tạo trẻ Quảng Trị” lần thứ VII (19/10/2018)
Kết nối cung cầu tiêu thụ sản phẩm của các mô hình Phụ nữ phát triển kinh tế (18/10/2018)
Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp trồng và chế biến rượu dâu (18/10/2018)
Quảng Trị và ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo duyên hải miền Trung và Tây Nguyên (15/10/2018)
Tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh trên cây ăn quả có múi (15/10/2018)
Tăng cường quản lý đo lường đối với hàng đóng gói sẵn (15/10/2018)
Nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp được cơ giới hóa (08/10/2018)
Xây dựng chính sách phát triển công nghiệp Quảng Trị đến năm 2030 (02/10/2018)
Tiếp sức cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (18/9/2018)
Tổ chức sản xuất tốt hướng đến xây dựng nông thôn mới bền vững (11/9/2018)
Tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển và doanh nghiệp khởi nghiệp thành công (23/8/2018)
Thâm canh cây trồng chống suy thoái và hoang mạc hóa trên vùng cát (17/8/2018)
Diễn đàn Xúc tiến chuyển giao công nghệ Việt Nam – Lào 2018 (14/8/2018)
Thực hiện thành công mô hình nước mắm cao đạm tại huyện đảo Cồn Cỏ (14/8/2018)
Tổng kết Chương trình Khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới (07/8/2018)
Từ ngày 11/7/2018, Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả KH&CN trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017 – 2025 đã có kế hoạch triển khai thực hiện (03/8/2018)
Ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp (01/8/2018)
Cuộc thi “Tin học trẻ”, nơi kết nối và lan tỏa niềm đam mê Tin học (01/8/2018)
Công bố Chỉ dẫn địa lý "Hạt tiêu Quảng Trị" và các văn bằng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận (01/8/2018)
Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Quảng Trị tham gia, giới thiệu sản phẩm tại Hội chợ Công thương khu vực miền Trung – Tây Nguyên – Nhịp cầu Xuyên Á – Quảng Trị 2018 (01/8/2018)
Kết nối cung - cầu, tìm đầu ra bền vững cho nông sản (27/7/2018)
Ứng dụng khoa học- kỹ thuật trong trồng cây dược liệu (19/7/2018)
Kết quả 5 năm phát triển khoa học - công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (17/7/2018)
Nâng cao chất lượng tôm nuôi từ mô hình 2 giai đoạn (13/7/2018)
Tăng cường xác lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu cho đặc sản (09/7/2018)
Hỗ trợ thanh niên nông thôn khởi nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới (29/6/2018)
Triển khai thu mua dứa nguyên liệu cho nông dân (25/6/2018)
Chung niềm đam mê sáng tạo kỹ thuật công nghệ cao (24/6/2018)
Tọa đàm: “Nâng cao vai trò trách nhiệm của các cá nhân tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ trong việc thực hiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” (08/6/2018)
Gỡ “nút thắt” để phát triển sản xuất nông nghiệp mới (04/6/2018)
Nâng cao năng lực sản xuất chế phẩm vi sinh (04/6/2018)
Sản xuất thành công sản phẩm đông trùng hạ thảo Sa Mù (29/5/2018)
Hoàn thiện công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng các chế phẩm vi sinh vật xử lý các phế phụ phẩm nông nghiệp và môi trường nuôi trồng thủy sản (16/5/2018)
Đưa khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống: Kết quả và chiến lược (21/5/2018)
Ngành khoa học và công nghệ: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (16/5/2018)
Chè vằng hòa tan tralavang - sản phẩm của sự liên kết “4 nhà” (21/5/2018)
Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND: Đồng hành cùng Doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ (25/5/2018)
Quảng Trị qua 5 năm thực hiện chương trình hành động số 64-CTHĐ/TU thực hiện NQ20-NQ/TW về phát triển khoa học và công nghệ (17/5/2018)
Sử dụng wifi miễn phí tại các điểm du lịch của Quảng Trị (14/5/2018)
Sản phẩm, mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tiêu biểu (16/5/2018)
Tạo động lực để thúc đẩy phong trào lao động sáng tạo (15/5/2018)
Nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống Liên hiệp Hội, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ (15/5/2018)
Những đơn vị điển hình trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ (21/5/2018)
Đẩy mạnh ứng dụng và nhân rộng tiến bộ khoa học và công nghệ (27/4/2018)
Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sản xuất (27/4/2018)
Quyết định số 281/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐND về việc Nghị Quyết Về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, khởi nghiệp doanh nghiệp tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2018 - 2021

Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết điịnh Ban hành Quy trình triển khai thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017 - 2025

Quyết định số 2232/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ

Quyết định số 2330/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc công bố Danh mục thủ tục hành chính mới ban hành; thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị.

Quyết định số 249/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp ơ sở - Sở KH&CN Quảng Trị tuyển chọn, xét giao trực tiếp thực hiện năm 2018, đợt 2.

Quyết định số 2225/QĐ-UBND về việc Quyết định V/v Phê duyệt đề tài: "Phát huy những phẩm chất tốt đẹp của con người Quảng Trị trong thời kỳ hội nhập và phát triển"

Quyết định số 227/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc ban hành Hướng dẫn thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017-2025

Quyết định số 1727/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc ban hành Kế hoạch thanh tra chuyên ngành khoa học và công nghệ năm 2018 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

Quyết định số 1658/QĐ-UBND về việc Quyết định V/v điều chỉnh tên "Hội tiêu Vĩnh Linh" tại Quyết định số 19994/QĐ-UBND ngày 19/9/2014 quy định quản lý và sử dụng Chỉ dẫn địa lý "Quảng Trị" cho sản phẩm tiêu của tỉnh Quảng Trị.

Thông báo về Cuộc thi Sáng chế năm 2018

Thông báo về việc tuyển chọn hồ sơ đăng ký tham gia Đề án đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực KH&CN trong và ngoài nước

TB về việc thống nhất áp dụng Bảng phân loại quốc tế về các yếu tố hình của nhãn hiệu (theo Thỏa ước Vienna) phiên bản 8

Sao y Công văn số 74 ngày 19/01/2018 của Trường Đại học Ngoại ngữ Quốc gia Hà Nội V/v Cảnh báo về chứng chỉ năng lực ngoại ngữ giả

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài:"Nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và thôn bản, khu phố trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Xem thêm
Thống kê truy cập
254610
136

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN Quảng Trị. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này