Thứ Bảy, 15/12/2018 Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sở
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Hoạt động KH&CN cơ sở

Hiệu quả từ mô hình thâm canh lúa cải tiến
Năng suất cao, lượng thóc giống giảm bình quân 2,5 kg/sào, lượng phân đạm giảm 20 - 25%, tiết kiệm nước và đặc biệt là không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) nhưng cây lúa vẫn phát triển tốt, ít sâu bệnh… đó là những ưu thế của phương pháp thâm canh lúa cải tiến (System Rice Intensification - SRI) đang được triển khai tại huyện Hải Lăng.
Thu hoạch lúa mô hình thâm canh lúa cải tiến (SRI)

Vụ đông xuân 2017- 2018, được sự hỗ trợ của Chương trình phát triển vùng huyện Hải Lăng (Tổ chức Tầm nhìn Thế giới), Trạm Khuyến nông huyện Hải Lăng triển khai mô hình thâm canh lúa cải tiến (SRI) tại 6 xã gồm: Hải Thành, Hải Thiện, Hải Trường, Hải Quy, Hải Xuân và Hải Hòa trên diện tích hơn 2,4 ha với 37 hộ tham gia, sử dụng giống lúa Thiên Ưu 8 và Ma Lâm 48. Trao đổi với chúng tôi, ông Bùi Trường, Giám đốc HTX Thiện Tây (xã Hải Thiện) cho biết, HTX Thiện Tây có 14 hộ tham gia thực hiện mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI trên diện tích 0,9 ha. Theo ông Trường, trên diện tích này trước đây xã viên canh tác theo phương pháp truyền thống, gieo sạ dày, sử dụng các bộ giống cũ nên năng suất cũng như chất lượng lúa không cao. Khi tham gia thực hiện mô hình thâm canh lúa cải tiến (SRI), các hộ dân được hỗ trợ giống lúa mới có chất lượng cao Thiên Ưu 8; được hướng dẫn các kỹ thuật sản xuất lúa cải tiến theo hướng nông nghiệp hữu cơ như hoàn toàn không sử dụng thuốc BVTV mà chỉ sử dụng các chế phẩm được làm từ tỏi, ớt, gừng để phun ngừa; sử dụng công cụ sạ hàng; sử dụng phân bón, nước tưới theo từng giai đoạn phát triển của cây lúa. “Ban đầu khi bắt tay vào thực hiện mô hình này nông dân cũng rất lo lắng do lượng giống sử dụng quá ít, chỉ 2 kg giống/sào, lại không được sử dụng thuốc BVTV, giảm lượng phân bón hóa học mà chủ yếu sử dụng phân chuồng. Nhưng đến thời điểm này các diện tích đã thu hoạch xong, năng suất đều đạt trên 60 tạ/ ha. Đặc biệt là cây lúa rất cứng, chống đổ ngã tốt, ít sâu bệnh”, ông Trường chia sẻ.

 

Theo ông Trần Thiên Văn, Trạm trưởng Trạm Khuyến nông huyện Hải Lăng, việc canh tác lúa theo truyền thống trước đây của nông dân là cấy mạ già, gieo sạ dày, để nước sâu… đã cản trở và làm giảm sức đẻ nhánh tiềm năng của cây lúa. Mặt khác, nông dân thường bón phân không cân đối, chủ yếu sử dụng đạm; không hoặc ít sử dụng phân kali làm cho cây sinh trưởng không cân đối, lá mỏng, non dễ đổ gãy đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh tấn công phá hại. Để bảo vệ năng suất cây trồng người dân quá lạm dụng thuốc BVTV; mặt khác vỏ chai, bao bì thuốc BVTV còn vứt bừa bãi trên đồng ruộng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất, nước, không khí, sức khoẻ con người và môi trường sinh thái luôn bị đe dọa. Để khắc phục tình trạng này, giải pháp tối ưu là phải nuôi dưỡng đất, làm cho đất không bị khô cằn, bị bạc màu mà trở lên màu mỡ hơn. Theo đó, bên cạnh việc sử dụng các loại phân có nguồn gốc hữu cơ để bón lúa, cán bộ kỹ thuật còn hướng dẫn người dân ứng dụng phương pháp canh tác lúa cải tiến (SRI). Đây là hệ thống canh tác dựa trên các nguyên tắc cơ bản là sử dụng mạ non để tận dụng được những dảnh hữu hiệu ngay từ ban đầu. Gieo cấy thưa để phát huy khả năng quang hợp, tạo sự thông thoáng trong hệ sinh thái đồng ruộng, hạn chế sâu bệnh hại, tạo điều kiện cho các dảnh lúa có khả năng phát triển thành dảnh hữu hiệu. Rút nước xen kẽ 3 - 4 lần trong vụ, giữ đất ẩm; làm cỏ kết hợp xới xáo mặt ruộng, sục bùn để thông khí cho đất; tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ, phân chuồng hoai mục để cải tạo độ phì của đất. Cụ thể, với mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI này, nông dân chỉ sử dụng 2 kg giống lúa/sào so với từ 5 - 6 kg/sào khi làm theo cách truyền thống, nông dân được hỗ trợ chế phẩm EMIC để làm phân hữu cơ sinh học từ phân chuồng và các phụ phẩm nông nghiệp nên đã giảm được khoảng 30% lượng phân bón hóa học. Đặc biệt là mô hình này hoàn toàn không sử dụng thuốc BVTV mà chỉ sử dụng các chế phẩm sinh học được ủ từ gừng, tỏi, ớt. Đối với cỏ dại, người dân hoàn toàn không sử dụng thuốc diệt cỏ để phun trừ mà sử dụng công cụ làm cỏ cải tiến và tăng cường làm cỏ bằng tay. “Bên cạnh thực hiện mô hình trình diễn trên diện tích gần 2,5 ha với 37 hộ trực tiếp tham gia thì các điểm thực hiện mô hình này còn là ruộng học tập cho 180 học viên là những hộ có trẻ em dưới 16 tuổi, trẻ khuyết tật, hộ nghèo và cận nghèo… học xuyên suốt cả vụ đông xuân với thời lượng 6 ngày/lớp theo phương pháp FFS”, ông Văn cho hay.

 

Đánh giá về hiệu quả của các mô hình này, bà Võ Thị Huê ở xã Hải Quy cho biết: “Sản xuất lúa theo mô hình SRI này nông dân tiết kiệm được nhiều thứ. Thứ nhất là giống, trước đây gieo sạ 1 sào hết 5 - 6 kg lúa giống, nay chỉ hết 2 kg. Thứ hai là giảm được lượng phân bón, nhất là phân đạm từ 6 - 8 kg/sào xuống còn 4 kg/sào. Chính vì gieo thưa lại sử dụng công cụ sạ hàng nên ruộng lúa thông thoáng, sâu bệnh ít. Thêm nữa, đó là mô hình này hoàn toàn không sử dụng bất kỳ một loại thuốc BVTV nào, kể cả thuốc trừ cỏ nên rất an toàn. Lúc đầu gia đình tôi chỉ trồng 2 sào theo SRI nhưng vụ hè thu này tôi sẽ áp dụng toàn bộ diện tích 10 sào của mình”.

 

Theo ông Dương Viết Hải, Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Hải Lăng, mặc dù hiệu quả của SRI đã rõ nhưng việc triển khai rộng rãi trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn do đồng ruộng không đồng đều về địa hình, diện tích manh mún, hệ thống thủy lợi còn hạn chế. Nông dân sử dụng thuốc trừ cỏ đã thành tập quán, vì vậy, việc áp dụng làm cỏ bằng biện pháp thủ công như cào cỏ, nhổ bằng tay gặp nhiều khó khăn. Một số vùng do tập quán của người dân, địa hình không đồng đều ảnh hưởng đến việc vận chuyển phân hữu cơ ra ruộng nên khó áp dụng nguyên tắc này. Ông Hải nhẩm tính, với lợi nhuận cao hơn so với sản xuất truyền thống, chỉ cần khoảng 10% trên tổng diện tích hơn 6.800 ha của toàn huyện thực hiện theo quy trình SRI thì người nông dân đã lãi thêm khoảng 2 tỷ đồng. Vì vậy, để đưa mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI sản xuất đại trà, trong thời gian tới Phòng Nông nghiệp huyện sẽ tham mưu UBND huyện chỉ đạo các địa phương tiếp tục thực hiện mô hình này trong các năm tiếp theo. Đồng thời, mở các lớp tập huấn, kết hợp với tăng cường tuyên truyền vận động, hướng nông dân đi vào sản xuất theo “Cánh đồng lớn”, thực hiện 3 cùng (cùng giống, cùng cánh đồng và cùng thời vụ) để thuận tiện cho việc chăm sóc, điều chỉnh nước, hạn chế dịch bệnh lây lan và phòng trừ hiệu quả, góp phần đổi mới và hướng đến một nền nông nghiệp an toàn, hiệu quả, phát triển bền vững.

Theo baoquangtri.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Những chuyển biến tích cực trong xây dựng thương hiệu sản phẩm (11/12/2018)
Nuôi kết hợp tôm thẻ chân trắng - cá đối mục và cua: Hướng đi mới cho các vùng nuôi tôm thường xuyên bị dịch bệnh (11/12/2018)
Trồng rau xứ lạnh trên đất Hướng Hóa (11/12/2018)
Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị đưa vào hoạt động máy Cộng hưởng từ 1.5T (11/12/2018)
Giới thiệu phần mềm trò chơi trực tuyến giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn cho học sinh (10/12/2018)
Một mô hình trồng nấm hiệu quả ở Khe Sanh (10/12/2018)
Triển khai mô hình trồng rau sạch trong nhà lưới ở xã Trung Hải (05/12/2018)
Trồng cây mây nước dưới tán rừng (05/12/2018)
Chú trọng nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ (29/11/2018)
Khởi nghiệp với mô hình nuôi ong lấy mật (29/11/2018)
Cậu học trò đam mê nghiên cứu khoa học (29/11/2018)
Sản xuất nông nghiệp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu (27/11/2018)
Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị thực hiện thành công thủ thuật đặt stent graft vào động mạch chủ (27/11/2018)
Thành công của mô hình nuôi cá lóc trong bể xi măng lót bạt (27/11/2018)
Tăng cường công tác quản lý công nghệ trên địa bàn (26/11/2018)
Nghệ vàng, cây trồng chủ lực ở miền tây Gio Linh (26/11/2018)
Trao giải cuộc thi “Sáng tạo trẻ” huyện Triệu Phong lần thứ VII (26/11/2018)
Mở hướng nuôi tôm mới (20/11/2018)
Bệnh viện đa khoa tỉnh lấy sỏi ống mật chủ thành công bằng nội soi ngược dòng (22/11/2018)
Sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ mùn cưa (16/11/2018)
Phát triển mô hình đa cây, đa con trên vùng gò đồi (16/11/2018)
Triển khai mô hình chăn nuôi dê tại xã Húc Nghì (13/11/2018)
Nông dân Gio Linh với phong trào thi đua “Làm giàu cho mình, làm giàu cho quê hương” (13/11/2018)
Theo đuổi giấc mơ nông sản sạch (13/11/2018)
Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ để hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (13/11/2018)
Triệu Phong nhân rộng nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả (12/11/2018)
Quyết làm giàu trên vùng cát quê hương (12/11/2018)
Quyết tâm làm giàu từ vườn cây ăn quả VietGap (09/11/2018)
Tìm giải pháp để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ở Hải Dương (12/11/2018)
Hướng đi mới từ trồng chanh leo liên kết (06/11/2018)
Trồng cam bón phân hữu cơ, hướng đi mới cho nền nông nghiệp sạch (06/11/2018)
Hỗ trợ người sản xuất đăng ký nhãn hiệu hàng hóa (02/11/2018)
Nâng cao thu nhập thông qua chuỗi giá trị cây sả ở xã Hải Phúc (02/11/2018)
Cam Lộ tập trung phát triển sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh (02/11/2018)
Hải Dương nâng cao giá trị sản xuất vùng cát. (31/10/2018)
Gio Linh quan tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất (30/10/2018)
Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh hai giai đoạn (25/10/2018)
Hiệu quả nuôi gà trên nền chuồng đệm lót (25/10/2018)
Triển vọng từ mô hình Tổ hợp tác sản xuất rau sạch Tân An (22/10/2018)
Nữ thầy thuốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị với hoạt động nghiên cứu khoa học (22/10/2018)
Chuyển sang trồng thành long ruột đỏ, cho thu nhập khá hơn (22/10/2018)
Mô hình kinh tế tiêu biểu ở vùng gò đồi (18/10/2018)
Gio Linh nhân rộng mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác (18/10/2018)
Mở hướng làm giàu từ mô hình nuôi gà theo công nghệ khép kín (10/10/2018)
Hướng đi mới cho nghề rèn truyền thống ở Hướng Hóa (10/10/2018)
Tăng cường áp dụng y học cổ truyền trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân (10/10/2018)
Triển vọng từ mô hình trồng chanh leo ở Vĩnh Thủy (10/10/2018)
Cây ném tạo cơ hội làm chủ kinh tế cho phụ nữ Hải Dương (08/10/2018)
Tập trung triển khai chương trình mỗi xã một sản phẩm (08/10/2018)
Xã Triệu Thượng: Chuyển đổi hơn 32 ha đồng hoang sang trồng sen, nuôi cá (08/10/2018)
Nghị định số 154/2018/NĐ-CP về việc Nghị điịnh Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ và một số quy định về kiểm tra chuyên ngành.

Quyết định số 281/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐND về việc Nghị Quyết Về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, khởi nghiệp doanh nghiệp tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2018 - 2021

Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết điịnh Ban hành Quy trình triển khai thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017 - 2025

Quyết định số 2232/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ

Quyết định số 2330/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc công bố Danh mục thủ tục hành chính mới ban hành; thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị.

Quyết định số 249/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp ơ sở - Sở KH&CN Quảng Trị tuyển chọn, xét giao trực tiếp thực hiện năm 2018, đợt 2.

Quyết định số 2225/QĐ-UBND về việc Quyết định V/v Phê duyệt đề tài: "Phát huy những phẩm chất tốt đẹp của con người Quảng Trị trong thời kỳ hội nhập và phát triển"

Quyết định số 227/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc ban hành Hướng dẫn thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017-2025

Quyết định số 1727/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc ban hành Kế hoạch thanh tra chuyên ngành khoa học và công nghệ năm 2018 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

Thông báo về việc đề xuất và đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh bắt đầu thực hiện năm 2019.

Thông báo về Cuộc thi Sáng chế năm 2018

Thông báo về việc tuyển chọn hồ sơ đăng ký tham gia Đề án đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực KH&CN trong và ngoài nước

TB về việc thống nhất áp dụng Bảng phân loại quốc tế về các yếu tố hình của nhãn hiệu (theo Thỏa ước Vienna) phiên bản 8

Sao y Công văn số 74 ngày 19/01/2018 của Trường Đại học Ngoại ngữ Quốc gia Hà Nội V/v Cảnh báo về chứng chỉ năng lực ngoại ngữ giả

Xem thêm
Thống kê truy cập
255417
137

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN Quảng Trị. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này