Thứ Tư, 23/01/2019 Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sở
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước

Nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai hai dòng có năng suất cao, chất lượng tốt và có mùi thơm
Trong giai đoạn 2001-2015, công tác chọn tạo lúa lai của Việt Nam đã được thúc đẩy mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu đáng kể. Tỷ trọng lúa lai thương hiệu Việt Nam đã tăng lên rõ rệt, số giống được công nhận chính thức chiếm 28% trong tổng số các giống được công nhận. Các cơ quan nghiên cứu và phát triển lúa lai trong nước đã tập trung vào việc chọn tạo các dòng bất dục và các tổ hợp lúa lai thích hợp với điều kiện sản xuất tại Việt Nam. Đây là một hướng quan trọng nhằm ổn định khả năng phát triển lúa lai của Việt Nam.
Lúa lai “hai dòng” là bước tiến mới của loài người trong công cuộc ứng dụng ưu thế lai ở cây lúa. Hai công cụ di truyền cơ bản để phát triển lúa lai “hai dòng” là dòng bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ - TGMS (Thermosensitive genic male sterile) và bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm với chu kỳ chiếu sáng - PGMS (Photoperiod sensitive genic male sterile). Tính chuyển hoá từ bất dục sang hữu dục và ngược lại ở dòng TGMS và PGMS gây ra do điều kiện môi trường - EGMS (Environment sensitive genic male Sterile). 

Từ năm 1998, Việt Nam đã nhập nội một số tổ hợp lúa lai hai dòng, các tổ hợp này đều cho năng suất cao, chống chịu khá với sâu bệnh hại. Tuy nhiên, diện tích chưa được mở rộng là do giá hạt lai khá cao không phù hợp với điều kiện người nông dân; công nghệ nhân dòng bất dục đực và sản xuất hạt lai F1 còn gặp nhiều khó khăn. Để chủ động sản xuất giống tại chỗ với giá thành hạ, các nhà chọn giống Việt Nam đã nghiên cứu và chọn tạo nhiều tổ hợp lai mới, trong đó có các tổ hợp lai hai dòng: Việt lai 20, TH3-3, TH3-4, HYT102... Các tổ hợp này có năng suất chất lượng khá, thời gian sinh trưởng ngắn nên diện tích ngày càng được mở rộng. 

Do điều kiện khí hậu Việt Nam có hai mùa nóng lạnh tương đối rõ rệt, thuận lợi cho việc nghiên cứu và ứng dụng các dòng TGMS. Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước đã cho biết có thể lợi dụng sự thay đổi của nhiệt độ trong năm để duy trì các dòng TGMS và sản xuất lúa lai hai dòng. 

Tuy nhiên hiện nay các vật liệu chọn giống lúa lai hai dòng đang được sử dụng ở Việt Nam phần lớn có nguồn gốc nhập nội từ IRRI và Trung Quốc. Một số dòng mẹ mới đã được chọn tạo song số lượng còn rất hạn chế. Chính vì vậy, nghiên cứu và chọn tạo được các giống lúa, đặc biệt là lúa lai hai dòng có năng suất cao, chất lượng tốt, có mùi thơm không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước là một vấn đề vô cùng cấp bách đối với các nhà chọn giống lúa.

Nhằm chọn tạo được các giống lúa lai hai dòng năng suất 7,0-7,5 tấn/ ha; chất lượng tốt (hàm lượng amylose 16-20%); có mùi thơm (điểm 3-4), nhiễm nhẹ sâu bệnh, thích hợp cho các tỉnh phía Bắc, nhóm nghiên cứu do PGS.TS Trần Văn Quang, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đứng đầu đã đề xuất và được chấp thuận thực hiện triển khai đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai hai dòng có năng suất cao, chất lượng tốt và có mùi thơm”. Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất hạt giống lai và gia tăng hiệu quả kinh tế sản xuất từ 10-25% so với sản xuất lúa thuần. 

Sau một thời gian triển khai thực hiện, nhóm nghiên cứu đã thu được các kết quả như sau: 
- Đã thu thập và đánh giá 210 mẫu giống lúa, trong đó có 17 dòng TGMS, 100 mẫu giống lúa địa phương (65 mẫu thuộc loài phụ indica, 30 mẫu thuộc loài phụ japonica và 5 mẫu chưa phân loại), 110 dòng lúa thuần có chất lượng, gạo có mùi thơm. Tuyển chọn được 22 dòng lúa thuần, có thời gian sinh trưởng phù hợp, năng suất khá, chất lượng tốt để làm dòng bố lúa lai và 13 dòng TGMS có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt, tính dục ổn định để làm dòng mẹ lúa lai hai dòng.

- Thông qua lai tạo đã chọn lọc được 05 dòng TGMS là E13S, E15S, E17S, E26S, E30S và 10 dòng bố là R2KBL, R16, R27, R28, R29, R34, R41, R73, R92, R94. các dòng TGMS và R có nhiều đặc điểm nông sinh học, đặc điểm tính dục, có mùi thơm phù hợp cho chọn giống lúa lai hai dòng chất lượng cao và gạo có mùi thơm, đặc biệt các dòng TGMS thơm được chọn phân ly từ tổ hợp 135S/Hoa sữa Mỹ (từ E15S-1 đến E15S-14). 

- Các dòng TGMS thích hợp cho chọn tạo giống lúa lai thơm và hàm lượng amylose trung bình là: E15S-1, E15S-2 và E15S-3, HC1 (R2), HC3, Hoa sữa, Sén cù, ST19, A2, A3 và A11. Các dòng TGMS mới chọn tạo đều mang gen tms5. Dòng E15S có khả năng kết hợp chung ở tất cả các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cá thể.

- Đã lai tạo được hơn 500 tổ hợp lai, thông qua đánh giá đã chọn được 07 tổ hợp lai có triển vọng nhất là : E13S/R2, E15S/11X73, E15S/R3, E15S/R29, E26S/R527, E30S/R2, E30S/MT-2. Trong số các tổ hợp lai được chọn có tổ hợp lai E15S/R2 (đặt tên là HQ19) có thời gian sinh trưởng ngắn, 125-130 ngày trong vụ Xuân, 105-110 ngày trong vụ Mùa, nhiễm nhẹ sâu bệnh, năng suất thực thu biến động từ 75,0-80,0 tạ/ha (trong vụ Xuân), 65-70 tạ/ha (trong vụ Mùa), có chất lượng tốt như hạt gạo dài 7,5mm, tỷ lệ gạo xát đạt 72,1%, tỷ lệ gạo nguyên 89,8%, hàm lượng amylose 18,0%, gạo có mùi thơm, cơm trắng, đậm.

- Nhân nguyên chủng dòng E15S ở vùng đồng bằng sông Hồng trong vụ Xuân nên gieo mạ từ ngày 20-27/12, cấy với mật độ 50 khóm/m2, bón phân với lượng 100 kg N + 75 kg P205 + 75 kg K20/ha. Tại Mộc Châu, Sơn La nên gieo từ ngày 20-30/6 cho năng suất đạt 37,2 tạ/ha. Tại Eakar, Đăk Lăk, gieo sạ dòng E15S từ ngày 13-20/11, mật độ gieo sạ 40kg giống/ha và bón phân 120kg N + 84kg P2O5 + 60kg K2O/ha đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.

- Kết quả sản xuất thử hạt lai F1 các tổ hợp lai có triển vọng cho thấy các dòng mẹ đều bất dục 100%, dòng bố có tỷ lệ hạt phấn hữu dục từ 94,0-97,1%; đã xác định khoảng cách thời gian gieo dòng bố, mẹ để trỗ trùng khớp; ảnh hưởng của GA3 đến sinh trưởng, tính dục của các dòng mẹ; năng suất thực thu của ruộng sản xuất thử biến động từ 14,4-24,7 tạ/ha.

- Hoàn thiện quy trình sản xuất hạt lai F1 tổ hợp lai HQ19 tại vùng đồng bằng sông Hồng, cụ thể: gieo dòng bố Hương cốm (R2) thành 2 đợt, mỗi đặt cách nhau 6 ngày, sau gieo dòng bố khoảng 18-20 ngày gieo dòng mẹ, bón phân với lượng 120kg N+ 80kg P205 + 80kg K20, cấy tỷ lệ hàng bố: mẹ là 2:14, phun GA3 với lượng 180gam/ha. 

- Để giống lúa lai hai dòng đạt năng suất cao 
+ Tại vùng đồng bằng sông Hồng, trong điều kiện vụ Xuân cấy với mật độ 35 khóm/m2 và bón phân với lượng 140kgN + 140kgP2O5 + 105kgK2O/ha và vụ Mùa cấy với mật độ 40 khóm/m2 bón phân với lượng 110kgN + 82,5kgP2O5 + 110kgK2O/ha; 
+ Tại vùng miền núi phía Bắc, trong vụ Xuân cấy mật độ 40 khóm/m2, bón phân với lượng 140kgN+140kgP2O5+105K2O, trong vụ Mùa cấy mật độ 40 khóm/m2, bón phân với lượng 110kg N+82,5kg P205+110kg K20; 
+ Tại vùng Bắc Trung bộ, trong vụ Xuân nên cấy với mật độ 35 khóm/m2 và bón phân với lượng 120 kg N + 120 kg P205 + 90 kg K20/ha, trong vụ Mùa (hoặc Hè Thu) nên cấy với 40 khóm/m2 và bón phân với lượng 90kg N+ 67,5kg P205 + 90kg K20/ha.

- Mô hình sản xuất thử hạt lai F1 giống lúa lai hai dòng HQ19 tại một số địa phương với diện tích 13,8ha đạt năng suất từ 22,0-27,0 tạ/ha; mô hình trình diễn lúa lai thương phẩm tại 03 vùng sinh thái phía Bắc với diện tích trên 100ha, năng suất đạt 75,0-89,0 tạ/ha trong vụ Xuân, 65,0-80,0 tạ/ha trong vụ Mùa (hoặc Hè Thu), hạt gạo dài, gạo và cơm có mùi thơm, vị đậm. 

- Trong quá trình thực hiện đề tài đã tham gia đào tạo, tập huấn: 01 Tiến sĩ, 06 Thạc sĩ, 15 sinh viên đại học, 04 cán bộ tập huấn ngắn hạn ở Trung Quốc, 32 cán bộ kỹ thuật, 200 lượt nông dân về phương pháp chọn tạo, kỹ thuật sản xuất giống, thâm canh lúa lai thương phẩm. Đồng thời, công bố 07 bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước.

Như vậy, các mẫu giống thu thập, dòng bố mẹ mới chọn tạo là nguồn vật liệu phục vụ cho công tác chọn tạo giống lúa lai ở Việt Nam do đó cần được lưu giữ, duy trì hàng năm. Giống lúa lai hai dòng HQ19 có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt, có năng suất, chất lượng cao cần được mở rộng sản xuất tại các tỉnh phía Bắc. Các qui trình nhân dòng bố mẹ, qui trình sản xuất hạt lai F1, qui trình canh tác giống lúa lai hai dòng HQ19 cần chuyển giao cho các địa phương nhằm chủ động sản xuất giống bố mẹ, hạt lai F1 và thâm canh lúa lai thương phẩm. 
Theo vista.gov.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: “Kết quả của ngành KH&CN là rõ và thực chất” (22/01/2019)
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt, biểu dương kỹ sư trẻ chế tạo vệ tinh MicroDragon (22/01/2019)
Hỗ trợ các công ty khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực phát triển xanh (22/01/2019)
Cầu nối giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ (22/01/2019)
Khởi động Cuộc thi Chứng minh ý tưởng lần thứ 3 (18/01/2019)
Dự án Khởi tạo môi trường Sở hữu trí tuệ và định hướng một số hoạt động trong năm 2019 (18/01/2019)
Đầu tư vào khoa học và công nghệ: Doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm (18/01/2019)
Cơ hội ứng dụng công nghệ bơm nhiệt tiên tiến của Nhật Bản (18/01/2019)
IPP2 - Chương trình ODA tiên phong trong hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam (18/01/2019)
Australia hỗ trợ Việt Nam đổi mới sáng tạo (16/01/2019)
Gần 20.000 tiêu chuẩn quản lý chất lượng đã được ban hành (11/01/2019)
Nhà nước hỗ trợ khởi nghiệp: Bốn năm nhìn lại (11/01/2019)
Nghiên cứu và phát triển trực thăng không người lái phục vụ nông nghiệp (10/01/2019)
Thử nghiệm công nghệ xử lý rác thải hữu cơ tái tạo năng lượng của Nhật Bản (10/01/2019)
Tăng cường sự phối hợp trong triển khai Nghị quyết về chỉ số đổi mới sáng tạo (07/01/2019)
Phát động Chương trình Danh hiệu Sao Khuê 2019 (07/01/2019)
Trí tuệ nhân tạo ở Việt Nam: 5 xu hướng chủ đạo (07/01/2019)
‘Xây dựng NTM và giảm nghèo phải bứt phá trên mọi phương diện’ (07/01/2019)
Khánh thành nhà máy chế biến rau củ quả đầu tiên ở Việt Nam đạt chuẩn Mỹ (07/01/2019)
Những dấu ấn khoa học công nghệ Việt 2018 (05/01/2019)
Sản xuất dấm gỗ diệt côn trùng, cải tạo đất (07/01/2019)
Mười tài năng trẻ nhận giải Quả cầu vàng năm 2018 (05/01/2019)
24 doanh nghiệp và cá nhân nhận Giải thưởng Công nghệ thông tin – truyền thông TPHCM (02/01/2019)
Việt Nam - Thái Lan đẩy mạnh hợp tác khoa học, công nghệ (02/01/2019)
Lần đầu Việt Nam sản xuất hạt khoáng nano Calcium Phosphate (02/01/2019)
Viện Tế bào gốc: Kết nối quốc tế ngay từ bước khởi đầu (02/01/2019)
Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia: Sẽ là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế (26/12/2018)
Sở hữu trí tuệ hỗ trợ đắc lực doanh nghiệp khởi nghiệp (25/12/2018)
Dự án xóa sẹo và tái tạo da bằng công nghệ laser vi điểm tốt nghiệp ươm tạo (21/12/2018)
Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong công tác dân tộc (21/12/2018)
Hơn 100 đội diễn tập ứng cứu sự cố an toàn thông tin mạng (21/12/2018)
Tuyển chọn thực hiện 3 đề tài lĩnh vực Khoa học sự sống (21/12/2018)
Quản trị dữ liệu - Thách thức mới của nhân loại (21/12/2018)
Hội thảo “Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tới hoạt động thông tin khoa học và công nghệ” (21/12/2018)
Truyền thông - phần tất yếu của phát triển khoa học và công nghệ (21/12/2018)
CMCN 4.0 là cơ hội lớn để VN thực hiện được các mục tiêu phát triển (21/12/2018)
Hợp tác về khoa học và công nghệ với tỉnh Salavan giai đoạn mới (21/12/2018)
Trao giải cuộc thi cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp - SWIS 2018” (19/12/2018)
Ngành Cơ học Việt Nam: Thực hiện nhiều hướng nghiên cứu liên quan đến CMCN 4.0 (19/12/2018)
Kết nối phát triển thị trường công nghệ xe máy điện Việt Nam và Hàn Quốc (19/12/2018)
Đèn LED dùng chiếu sáng trong nông nghiệp: Sản phẩm của “ba nhà” (19/12/2018)
Chế tạo thành công Masterbatch làm tăng tính năng của một số loại nhựa (14/12/2018)
Xe máy điện tại Việt Nam trong tương lai sẽ là xu hướng tất yếu (14/12/2018)
Google coi Việt Nam là đối tác tốt trong khởi nghiệp sáng tạo (14/12/2018)
Hội thảo “Thông tin sở hữu công nghiệp phục vụ cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo” (11/12/2018)
Nafosted: Bước đột phá trong quản lý KH&CN, tiệm cận quốc tế (10/12/2018)
5 startup châu Á tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Việt Nam (10/12/2018)
Hệ thống sấy lúa công suất 150 tấn/mẻ, giảm 30% chi phí (10/12/2018)
53 tác giả được tôn vinh nhờ nghiên cứu phục vụ nông dân (10/12/2018)
Tăng cường ứng dụng công nghệ 4.0 trong lĩnh vực y tế (05/12/2018)
Quyết định số 348/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Về việc ban hành Chương trình công tác trọng tâm năm 2019 của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Quyết định số 147/QĐ-UBND về việc Quyết định V/v Phê duyệt đề tài: "Nghiên cứu sản xuất và thương mại hóa sản phẩm Trà thảo dược hòa tan Giảo Cổ Lam từ nguồn nguyên liệu tự nhiên trên đảo Cồn Cỏ"

Quyết định số 173/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc thay đổi thành viên Hội đồng quản lý Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Trị, nhiệm kỳ 2016 -2021

Quyết định số 05/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Về việc phân công quản lý dự án: "Xây dựng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sản xuất hoa lan hồ điệp, hoa lily tại Quảng Trị"

Quyết định số 07/ QĐ-SKHCN về việc Quyết định Về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Quyết định số 06/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Kế hoạch số 54/KH_SKHCN về việc Kế hoạch Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Sở Khoa học và Công nghệ năm 2019.

Quyết định số 326/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Phê duyệt Kế hoạch Thanh tra, kiểm tra năm 2019 của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị.

Quyết định số 2677/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc thành lập Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin Khoa học và Công nghệ, trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ.

Quyết định số 323/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Ban hành Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị.

V/v góp ý dự thảo nội dung công trình Địa chí Quảng Trị

Thông báo về việc đề xuất và đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh bắt đầu thực hiện năm 2019.

TB về việc thống nhất áp dụng Bảng phân loại quốc tế về các yếu tố hình của nhãn hiệu (theo Thỏa ước Vienna) phiên bản 8

Kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh đã cấp giấy chứng nhận

Thông báo về việc kết quả tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài:"Nghiên cứu thực trạng nhiễm vi rút viêm gan B ở cán bộ y tế và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị

Xem thêm
Thống kê truy cập
255879
143

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN Quảng Trị. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này