Thứ Hai, 19/11/2018 Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sở
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước

Nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai hai dòng có năng suất cao, chất lượng tốt và có mùi thơm
Trong giai đoạn 2001-2015, công tác chọn tạo lúa lai của Việt Nam đã được thúc đẩy mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu đáng kể. Tỷ trọng lúa lai thương hiệu Việt Nam đã tăng lên rõ rệt, số giống được công nhận chính thức chiếm 28% trong tổng số các giống được công nhận. Các cơ quan nghiên cứu và phát triển lúa lai trong nước đã tập trung vào việc chọn tạo các dòng bất dục và các tổ hợp lúa lai thích hợp với điều kiện sản xuất tại Việt Nam. Đây là một hướng quan trọng nhằm ổn định khả năng phát triển lúa lai của Việt Nam.
Lúa lai “hai dòng” là bước tiến mới của loài người trong công cuộc ứng dụng ưu thế lai ở cây lúa. Hai công cụ di truyền cơ bản để phát triển lúa lai “hai dòng” là dòng bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ - TGMS (Thermosensitive genic male sterile) và bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm với chu kỳ chiếu sáng - PGMS (Photoperiod sensitive genic male sterile). Tính chuyển hoá từ bất dục sang hữu dục và ngược lại ở dòng TGMS và PGMS gây ra do điều kiện môi trường - EGMS (Environment sensitive genic male Sterile). 

Từ năm 1998, Việt Nam đã nhập nội một số tổ hợp lúa lai hai dòng, các tổ hợp này đều cho năng suất cao, chống chịu khá với sâu bệnh hại. Tuy nhiên, diện tích chưa được mở rộng là do giá hạt lai khá cao không phù hợp với điều kiện người nông dân; công nghệ nhân dòng bất dục đực và sản xuất hạt lai F1 còn gặp nhiều khó khăn. Để chủ động sản xuất giống tại chỗ với giá thành hạ, các nhà chọn giống Việt Nam đã nghiên cứu và chọn tạo nhiều tổ hợp lai mới, trong đó có các tổ hợp lai hai dòng: Việt lai 20, TH3-3, TH3-4, HYT102... Các tổ hợp này có năng suất chất lượng khá, thời gian sinh trưởng ngắn nên diện tích ngày càng được mở rộng. 

Do điều kiện khí hậu Việt Nam có hai mùa nóng lạnh tương đối rõ rệt, thuận lợi cho việc nghiên cứu và ứng dụng các dòng TGMS. Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước đã cho biết có thể lợi dụng sự thay đổi của nhiệt độ trong năm để duy trì các dòng TGMS và sản xuất lúa lai hai dòng. 

Tuy nhiên hiện nay các vật liệu chọn giống lúa lai hai dòng đang được sử dụng ở Việt Nam phần lớn có nguồn gốc nhập nội từ IRRI và Trung Quốc. Một số dòng mẹ mới đã được chọn tạo song số lượng còn rất hạn chế. Chính vì vậy, nghiên cứu và chọn tạo được các giống lúa, đặc biệt là lúa lai hai dòng có năng suất cao, chất lượng tốt, có mùi thơm không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước là một vấn đề vô cùng cấp bách đối với các nhà chọn giống lúa.

Nhằm chọn tạo được các giống lúa lai hai dòng năng suất 7,0-7,5 tấn/ ha; chất lượng tốt (hàm lượng amylose 16-20%); có mùi thơm (điểm 3-4), nhiễm nhẹ sâu bệnh, thích hợp cho các tỉnh phía Bắc, nhóm nghiên cứu do PGS.TS Trần Văn Quang, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đứng đầu đã đề xuất và được chấp thuận thực hiện triển khai đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai hai dòng có năng suất cao, chất lượng tốt và có mùi thơm”. Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất hạt giống lai và gia tăng hiệu quả kinh tế sản xuất từ 10-25% so với sản xuất lúa thuần. 

Sau một thời gian triển khai thực hiện, nhóm nghiên cứu đã thu được các kết quả như sau: 
- Đã thu thập và đánh giá 210 mẫu giống lúa, trong đó có 17 dòng TGMS, 100 mẫu giống lúa địa phương (65 mẫu thuộc loài phụ indica, 30 mẫu thuộc loài phụ japonica và 5 mẫu chưa phân loại), 110 dòng lúa thuần có chất lượng, gạo có mùi thơm. Tuyển chọn được 22 dòng lúa thuần, có thời gian sinh trưởng phù hợp, năng suất khá, chất lượng tốt để làm dòng bố lúa lai và 13 dòng TGMS có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt, tính dục ổn định để làm dòng mẹ lúa lai hai dòng.

- Thông qua lai tạo đã chọn lọc được 05 dòng TGMS là E13S, E15S, E17S, E26S, E30S và 10 dòng bố là R2KBL, R16, R27, R28, R29, R34, R41, R73, R92, R94. các dòng TGMS và R có nhiều đặc điểm nông sinh học, đặc điểm tính dục, có mùi thơm phù hợp cho chọn giống lúa lai hai dòng chất lượng cao và gạo có mùi thơm, đặc biệt các dòng TGMS thơm được chọn phân ly từ tổ hợp 135S/Hoa sữa Mỹ (từ E15S-1 đến E15S-14). 

- Các dòng TGMS thích hợp cho chọn tạo giống lúa lai thơm và hàm lượng amylose trung bình là: E15S-1, E15S-2 và E15S-3, HC1 (R2), HC3, Hoa sữa, Sén cù, ST19, A2, A3 và A11. Các dòng TGMS mới chọn tạo đều mang gen tms5. Dòng E15S có khả năng kết hợp chung ở tất cả các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cá thể.

- Đã lai tạo được hơn 500 tổ hợp lai, thông qua đánh giá đã chọn được 07 tổ hợp lai có triển vọng nhất là : E13S/R2, E15S/11X73, E15S/R3, E15S/R29, E26S/R527, E30S/R2, E30S/MT-2. Trong số các tổ hợp lai được chọn có tổ hợp lai E15S/R2 (đặt tên là HQ19) có thời gian sinh trưởng ngắn, 125-130 ngày trong vụ Xuân, 105-110 ngày trong vụ Mùa, nhiễm nhẹ sâu bệnh, năng suất thực thu biến động từ 75,0-80,0 tạ/ha (trong vụ Xuân), 65-70 tạ/ha (trong vụ Mùa), có chất lượng tốt như hạt gạo dài 7,5mm, tỷ lệ gạo xát đạt 72,1%, tỷ lệ gạo nguyên 89,8%, hàm lượng amylose 18,0%, gạo có mùi thơm, cơm trắng, đậm.

- Nhân nguyên chủng dòng E15S ở vùng đồng bằng sông Hồng trong vụ Xuân nên gieo mạ từ ngày 20-27/12, cấy với mật độ 50 khóm/m2, bón phân với lượng 100 kg N + 75 kg P205 + 75 kg K20/ha. Tại Mộc Châu, Sơn La nên gieo từ ngày 20-30/6 cho năng suất đạt 37,2 tạ/ha. Tại Eakar, Đăk Lăk, gieo sạ dòng E15S từ ngày 13-20/11, mật độ gieo sạ 40kg giống/ha và bón phân 120kg N + 84kg P2O5 + 60kg K2O/ha đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.

- Kết quả sản xuất thử hạt lai F1 các tổ hợp lai có triển vọng cho thấy các dòng mẹ đều bất dục 100%, dòng bố có tỷ lệ hạt phấn hữu dục từ 94,0-97,1%; đã xác định khoảng cách thời gian gieo dòng bố, mẹ để trỗ trùng khớp; ảnh hưởng của GA3 đến sinh trưởng, tính dục của các dòng mẹ; năng suất thực thu của ruộng sản xuất thử biến động từ 14,4-24,7 tạ/ha.

- Hoàn thiện quy trình sản xuất hạt lai F1 tổ hợp lai HQ19 tại vùng đồng bằng sông Hồng, cụ thể: gieo dòng bố Hương cốm (R2) thành 2 đợt, mỗi đặt cách nhau 6 ngày, sau gieo dòng bố khoảng 18-20 ngày gieo dòng mẹ, bón phân với lượng 120kg N+ 80kg P205 + 80kg K20, cấy tỷ lệ hàng bố: mẹ là 2:14, phun GA3 với lượng 180gam/ha. 

- Để giống lúa lai hai dòng đạt năng suất cao 
+ Tại vùng đồng bằng sông Hồng, trong điều kiện vụ Xuân cấy với mật độ 35 khóm/m2 và bón phân với lượng 140kgN + 140kgP2O5 + 105kgK2O/ha và vụ Mùa cấy với mật độ 40 khóm/m2 bón phân với lượng 110kgN + 82,5kgP2O5 + 110kgK2O/ha; 
+ Tại vùng miền núi phía Bắc, trong vụ Xuân cấy mật độ 40 khóm/m2, bón phân với lượng 140kgN+140kgP2O5+105K2O, trong vụ Mùa cấy mật độ 40 khóm/m2, bón phân với lượng 110kg N+82,5kg P205+110kg K20; 
+ Tại vùng Bắc Trung bộ, trong vụ Xuân nên cấy với mật độ 35 khóm/m2 và bón phân với lượng 120 kg N + 120 kg P205 + 90 kg K20/ha, trong vụ Mùa (hoặc Hè Thu) nên cấy với 40 khóm/m2 và bón phân với lượng 90kg N+ 67,5kg P205 + 90kg K20/ha.

- Mô hình sản xuất thử hạt lai F1 giống lúa lai hai dòng HQ19 tại một số địa phương với diện tích 13,8ha đạt năng suất từ 22,0-27,0 tạ/ha; mô hình trình diễn lúa lai thương phẩm tại 03 vùng sinh thái phía Bắc với diện tích trên 100ha, năng suất đạt 75,0-89,0 tạ/ha trong vụ Xuân, 65,0-80,0 tạ/ha trong vụ Mùa (hoặc Hè Thu), hạt gạo dài, gạo và cơm có mùi thơm, vị đậm. 

- Trong quá trình thực hiện đề tài đã tham gia đào tạo, tập huấn: 01 Tiến sĩ, 06 Thạc sĩ, 15 sinh viên đại học, 04 cán bộ tập huấn ngắn hạn ở Trung Quốc, 32 cán bộ kỹ thuật, 200 lượt nông dân về phương pháp chọn tạo, kỹ thuật sản xuất giống, thâm canh lúa lai thương phẩm. Đồng thời, công bố 07 bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước.

Như vậy, các mẫu giống thu thập, dòng bố mẹ mới chọn tạo là nguồn vật liệu phục vụ cho công tác chọn tạo giống lúa lai ở Việt Nam do đó cần được lưu giữ, duy trì hàng năm. Giống lúa lai hai dòng HQ19 có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt, có năng suất, chất lượng cao cần được mở rộng sản xuất tại các tỉnh phía Bắc. Các qui trình nhân dòng bố mẹ, qui trình sản xuất hạt lai F1, qui trình canh tác giống lúa lai hai dòng HQ19 cần chuyển giao cho các địa phương nhằm chủ động sản xuất giống bố mẹ, hạt lai F1 và thâm canh lúa lai thương phẩm. 
Theo vista.gov.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nguồn nhân lực CNTT chưa đáp ứng đủ nhu cầu (16/11/2018)
Việt Nam chế tạo tên lửa đẩy mang thiết bị thu thập dữ liệu khí quyển tầng cao (16/11/2018)
Triển khai truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm trọng điểm và đặc sản vùng miền (16/11/2018)
Bãi bỏ Nghị định về điều kiện kinh doanh mũ bảo hiểm (16/11/2018)
Kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam - Hàn Quốc: tiềm năng và triển vọng tương lai (16/11/2018)
Gọi vốn cho các dự án khởi nghiệp tiềm năng (16/11/2018)
Việt-Úc hợp tác nghiên cứu thành công hệ thống lọc asen trong nước ngầm (16/11/2018)
Lần đầu tiên trao Giải thưởng Công nghệ số Việt Nam (16/11/2018)
Việt Nam dự Hội nghị quốc tế về nghiên cứu, sử dụng mô hình côn trùng (16/11/2018)
Ứng dụng KHCN để giải quyết nhiều vấn đề "nóng" (16/11/2018)
Tạp chí tiếng Anh của Bộ KH&CN được chấp nhận tham gia cơ sở dữ liệu của ASEAN Citation Index (12/11/2018)
20 sản phẩm công nghệ thông tin tranh giải Nhân tài Đất Việt (12/11/2018)
Kết nối hợp tác nhà khoa học nữ với doanh nghiệp (09/11/2018)
TP.HCM: Tạo hệ sinh thái phát triển khoa học và công nghệ (12/11/2018)
IMC làm chủ công nghệ sản xuất một số chế phẩm vi sinh quy mô công nghiệp (06/11/2018)
Nghiên cứu chọn tạo giống lúa nếp kháng bệnh bạc lá bằng chỉ thị phân tử cho các tỉnh phía Bắc (06/11/2018)
Khoa học và công nghệ sát cánh cùng các ngành, địa phương giải quyết các vấn đề của thực tiễn (06/11/2018)
Sinh viên sáng chế hệ thống giám sát, cảnh báo ô nhiễm không khí (06/11/2018)
Sản xuất thử nghiệm giống lúa chất lượng PĐ211 và P9 tại các tỉnh phía Bắc (31/10/2018)
Họp Ban tổ chức chuẩn bị cho ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2018 (31/10/2018)
Khởi động Cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo công nghệ 4.0 (30/10/2018)
Nghiên cứu chọn tạo giống cao su thích hợp cho các tỉnh Trung Bộ và miền núi phía Bắc (31/10/2018)
Hội thảo khoa học phục vụ tổng kết Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (30/10/2018)
Nam sinh cấp 3 chế tạo robot mô phỏng chính xác hoạt động cánh tay của con người (25/10/2018)
Trao giải cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng toàn quốc lần thứ 14 (25/10/2018)
Quy định mới về sản phẩm CNTT cũ bị cấm nhập khẩu (25/10/2018)
Tàu khảo sát biển không người lái do người Việt chế tạo (25/10/2018)
Lần đầu trao giải ĐMST và khởi nghiệp TPHCM (24/10/2018)
Ý tưởng chống kẹt xe đoạt giải nhất Cuộc thi Code Game (24/10/2018)
Phần mềm quản lý vận tải của Việt Nam chiến thắng tại WISE Challenge (24/10/2018)
Chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài: Phải chủ động tìm kiếm cơ hội (24/10/2018)
Nhà khoa học nữ châu Á - Thái Bình Dương thảo luận về phát triển bền vững trong bối cảnh CMCN 4.0 (24/10/2018)
Thủ tướng phê duyệt Đề án phát triển nguồn tin khoa học và công nghệ (19/10/2018)
Phát huy sức sáng tạo của nhà khoa học nữ trong kỷ nguyên số (22/10/2018)
Ứng dụng khoa học và công nghệ để xử lý rơm rạ thành phân vi sinh (18/10/2018)
Hai nhà khoa học nhận Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam 2018 (18/10/2018)
Đóng góp cả học thuật lẫn kinh nghiệm để xây dựng hệ thống ĐMST Vùng và đô thị khoa học (17/10/2018)
Giống ngô nếp lai VNUA69 (15/10/2018)
Thiết bị bay siêu nhẹ ứng dụng trong nông nghiệp (15/10/2018)
TPHCM: Giới thiệu, trình diễn hơn 100 công nghệ, thiết bị ngành y tế (15/10/2018)
Khởi động cuộc thi Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp (15/10/2018)
Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN - Đầu mối chuyển giao, ứng dụng công nghệ tại địa phương (15/10/2018)
TECHFEST 2018 đưa khởi nghiệp Việt Nam vươn tầm khu vực (15/10/2018)
Biến phế phụ phẩm ngành điều thành Thực phẩm giàu dưỡng chất nhờ khoa học và công nghệ (10/10/2018)
Ứng dụng công nghệ cao là xu hướng tất yếu của nông nghiệp Việt Nam (10/10/2018)
Thiết bị thu sương dùng làm nước sinh hoạt của người Việt (10/10/2018)
Giống cây quý trị ung thư gan được nhân giống thành công ở Việt Nam (10/10/2018)
Ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực Đo đạc và Bản đồ (08/10/2018)
Phát triển thị trường điện gió tại Việt Nam: Những tín hiệu tích cực (08/10/2018)
Khai mạc TechDemo 2018 và Tôn vinh doanh nghiệp đổi mới công nghệ tiêu biểu (08/10/2018)
Quyết định số 281/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐND về việc Nghị Quyết Về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, khởi nghiệp doanh nghiệp tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2018 - 2021

Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết điịnh Ban hành Quy trình triển khai thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017 - 2025

Quyết định số 2232/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ

Quyết định số 2330/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc công bố Danh mục thủ tục hành chính mới ban hành; thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị.

Quyết định số 249/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp ơ sở - Sở KH&CN Quảng Trị tuyển chọn, xét giao trực tiếp thực hiện năm 2018, đợt 2.

Quyết định số 2225/QĐ-UBND về việc Quyết định V/v Phê duyệt đề tài: "Phát huy những phẩm chất tốt đẹp của con người Quảng Trị trong thời kỳ hội nhập và phát triển"

Quyết định số 227/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc ban hành Hướng dẫn thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017-2025

Quyết định số 1727/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc ban hành Kế hoạch thanh tra chuyên ngành khoa học và công nghệ năm 2018 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

Quyết định số 1658/QĐ-UBND về việc Quyết định V/v điều chỉnh tên "Hội tiêu Vĩnh Linh" tại Quyết định số 19994/QĐ-UBND ngày 19/9/2014 quy định quản lý và sử dụng Chỉ dẫn địa lý "Quảng Trị" cho sản phẩm tiêu của tỉnh Quảng Trị.

Thông báo về Cuộc thi Sáng chế năm 2018

Thông báo về việc tuyển chọn hồ sơ đăng ký tham gia Đề án đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực KH&CN trong và ngoài nước

TB về việc thống nhất áp dụng Bảng phân loại quốc tế về các yếu tố hình của nhãn hiệu (theo Thỏa ước Vienna) phiên bản 8

Sao y Công văn số 74 ngày 19/01/2018 của Trường Đại học Ngoại ngữ Quốc gia Hà Nội V/v Cảnh báo về chứng chỉ năng lực ngoại ngữ giả

Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài:"Nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và thôn bản, khu phố trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Xem thêm
Thống kê truy cập
256146
631

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN Quảng Trị. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này