Thứ Hai, 16/9/2019 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệKỷ niệm 74 năm CMT8 và Quốc Khánh 2-9Hoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luật
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 13/5/2019

Tận dụng nguồn vi sinh vật bản địa: Phát triển Chế phẩm nấm rễ cộng sinh
Với nguyên liệu là các vi sinh vật bản địa, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh, Khoa Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (HVNNVN) đã tạo ra được các chế phẩm sinh học cải tạo đất giá thành rẻ nhưng hiệu quả tương đương sản phẩm ngoại nhập.
PGS.TS. Nguyễn Thị Minh cùng các chuyên gia Nhật Bản đi thăm mô hình thử nghiệm
Nhân giống nấm rễ cộng sinh
 
Công trình nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Thị Minh và cộng sự bắt đầu từ hiện trạng đang diễn ra ở Việt Nam: sử dụng phân bón hóa học vào hàng top thế giới với khoảng 7,7 triệu tấn/năm, dẫn đến tỉ lệ đất đai bị thoái hóa ở mức cao. Hậu quả này càng thêm nghiêm trọng bởi 70% diện tích Việt Nam là đồi núi, trong đó hơn một nửa (36%) là đất trống đồi núi trọc, theo thống kê của Cục Kiểm lâm năm 2017.
Đây cũng là tình trạng chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, đã có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư phát triển các chế phẩm sinh học cải tạo đất và nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đi theo con đường này, tự tạo ra một số chế phẩm tương tự. Tuy nhiên, các sản phẩm hiện có tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở mức chế phẩm sinh học hay hóa học có tác dụng giữ ẩm đất và kích thích cây trồng phát triển phần nào chứ chưa phải nhằm giải quyết vấn đề cải tạo đất triệt để, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh nhận xét.
 
Ngoài hạn chế này, các chế phẩm đó lại có nhược điểm là thời gian sử dụng ngắn, chỉ ở tầm vài tháng do có chứa các vi sinh vật sống như vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm mốc..., nghĩa là khi đến tay người nông dân thì họ chỉ còn rất ít thời gian để sử dụng và chất lượng không ổn định. Mặt khác, các sản phẩm của nước ngoài có giá thành cao (khoảng 600.000 đồng/lít chế phẩm), lại không phù hợp với điều kiện sinh thái ở Việt Nam (nhiều sản phẩm sử dụng ở nước ngoài rất hiệu quả nhưng khi áp dụng trên các vùng đất Việt Nam, vi sinh vật ngoại lai phải cạnh tranh với vi sinh vật bản địa nên bị giảm tác dụng).
 
Do vậy, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh đã quyết định phát triển chế phẩm sinh học sử dụng các giống nấm rễ nội cộng sinh Arbuscular Mycorrhizae (AM) và Rhizobium bản địa thông qua việc triển khai “Nghiên cứu vật liệu sinh học nhằm tái tạo thảm thực vật phủ xanh đất trống đồi núi trọc” - đề tài do HVNNVN cấp kinh phí và được thực hiện từ năm 2012.
 
Từ lâu, nấm rễ đã được biết đến với khả năng thúc đẩy phát triển hệ rễ và việc hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng, đồng thời giúp cải thiện cấu trúc đất qua việc tạo ra các chất hữu cơ và chất keo. PGS.TS. Nguyễn Thị Minh cho biết, mặc dù các chủng nấm rễ nội cộng sinh AM và Rhizobium đều phổ biến trong đất Việt Nam nhưng để có được những chủng giống phù hợp với mục đích sử dụng, chị Minh đã phải thực hiện rất nhiều bước tuyển chọn như chọn mẫu, phân lập, đọc mã gene để xác định loài và hoạt tính rồi thử nghiệm trên các mô thực vật và động vật. Quá trình này cứ lặp đi lặp lại hàng năm trời, “đó là trong trường hợp thuận lợi, nếu không còn mất nhiều thời gian hơn”, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh cho biết.
 
Quá trình phân lập và tuyển chọn đã khó, việc nhân giống nấm rễ cộng sinh còn phức tạp hơn. Khác với các loại vi sinh vật thông thường có thể sinh sản rất nhanh trong vài giờ đồng hồ bằng phương pháp lên men, nấm rễ AM bắt buộc phải cộng sinh trên rễ. Có 2 phương pháp nhân giống nấm rễ AM là in vitro (nhân giống trong ống nghiệm) và in vivo (nuôi cấy trong điều kiện tự nhiên ngoài ống nghiệm). Bởi các kỹ thuật này khá phức tạp, lại yêu cầu các dụng cụ và hóa chất đặc biệt nên giá thành của các chủng giống nấm rễ cộng sinh thường cao gấp 4-5 lần so với các chủng vi sinh vật bình thường, “một chủng giống vi sinh vật bình thường có giá khoảng 50 triệu đồng, nhưng nấm rễ cộng sinh có thể lên tới 200 triệu đồng”, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh cho biết.
 
Sau gần 1 năm, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh và nhóm nghiên cứu đã chế tạo thành công chế phẩm sinh học chứa nấm rễ cộng sinh, phối trộn thêm một số loài vi sinh vật bản địa khác, cùng các chất dinh dưỡng và hạt giống cây. Kết quả thử nghiệm ban đầu cho thấy, chế phẩm có khả năng tái tạo thảm thực vật thành công 100% ngay cả trong điều kiện đất đai cạn kiệt dinh dưỡng, bị axit hóa hay bị tàn phá sau thiên tai cũng như ở các địa hình phức tạp.
 
Mặc dù nhận được phản ứng tích cực từ người dùng nhưng PGS.TS. Nguyễn Thị Minh vẫn chưa cảm thấy hài lòng về sản phẩm của mình vì “thấy nó chưa hoàn hảo, chưa thể ứng dụng cho nhiều mục đích khác nhau”. Ý nghĩ này đến với chị ngay trong quá trình thử nghiệm sản phẩm và nhận thấy nhu cầu của người dùng rất đa dạng. “Có bác gọi điện đến bảo là sản phẩm dùng rất tốt và hỏi thêm có sản phẩm nào tương tự chữa được bệnh tuyến trùng cho hồ tiêu mà nhà bác ấy đang gặp không”, chị Minh kể lại. Những phản hồi trên đã giúp chị Minh nảy sinh thêm ý tưởng để hoàn thiện thêm sản phẩm bằng cách thay đổi hệ vi sinh vật trong chế phẩm và phối trộn theo các công thức khác nhau tùy từng mục đích.
 
Từ dòng chế phẩm tái tạo thảm thực vật ban đầu, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh đến nay đã mở rộng ra nhiều dòng khác như dòng chế phẩm kích thích sinh trưởng, trị bệnh truyến trùng cho hồ tiêu hoặc chế phẩm cải tạo đất bị axit, thoái hóa, rửa trôi, nhiễm mặn, khô hạn quá, hoặc bị ô nhiễm,…
 
Năm 2016, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh đã nộp đề xuất xin tài trợ về chuyên gia giỏi nước ngoài của Dự án FIRST, để thực hiện dự án ứng dụng nấm rễ cộng sinh trong tái tạo thảm thực vật. Thông qua dự án, chị đã nhận được sự hỗ trợ từ các chuyên gia Nhật Bản. Một điều trùng hợp là trong số các chuyên gia có GS. Mamoru Yamada - thầy hướng dẫn của chị khi nghiên cứu bên Nhật và cũng là chuyên gia hàng đầu của Nhật Bản trong lĩnh vực này. “Họ rất nhiệt tình hỗ trợ, sẵn sàng tư vấn, tiếp nhận người của mình sang Nhật để hướng dẫn, tạo điều kiện cho mình sử dụng các trang thiết bị hiện đại bên đó”, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh cho biết.
 
Vùng thử nghiệm chế phẩm nấm rễ cộng sinh ở Bắc Giang
Vùng thử nghiệm chế phẩm nấm rễ cộng sinh ở Bắc Giang
 
Tiềm năng thương mại hóa
 
Sau khi áp dụng thành công ở Bắc Giang, HVNNVN đã sản xuất thử và trưng bày chế phẩm ở siêu thị HVNNVN - một kênh tiếp thị đã được mở từ khá lâu và thu hút được sự chú ý của cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Ngay sau đó, đã có rất nhiều người liên hệ với trường để hỏi mua, phần lớn là những người làm trang trại hồ tiêu, cà phê... ở trong miền Nam.
 
Không chỉ các cá nhân mà cả công ty vi sinh của TS. Phạm Xuân Đại cũng muốn mua lại kết quả nghiên cứu này để triển khai sản xuất.
 
Đây là dấu hiệu đáng mừng vì không chỉ chứng minh được giá trị của sản phẩm mà với PGS.TS. Nguyễn Thị Minh, đó là cơ hội để giúp người dùng tiếp cận được sản phẩm có giá thành phù hợp mà vẫn mang lại hiệu quả cao. Chị bày tỏ: “Là nhà khoa học, mình thấy có nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị nhưng không thể thương mại hóa được, rất lãng phí trong khi người dùng nhiều lúc mua phải những sản phẩm kém chất lượng, vừa ảnh hưởng lại vừa tốn tiền”.
http://khoahocphattrien.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Xử lý nước hồ bơi không dùng hóa chất (13/9/2019)
Tre và điện mặt trời cho phát triển bền vững (13/9/2019)
Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2019: SAVIS giành giải với ba bộ giải pháp (13/9/2019)
Biotechmart 2019: Ấn tượng trước nhiều công nghệ ưu việt (12/9/2019)
Túi tự phân hủy sau 2 tháng làm bằng cellulose sinh học (12/9/2019)
Ứng dụng công nghệ xâm nhập vào đời sống, đáp ứng xu hướng tiêu dùng (10/9/2019)
Lần đầu tiên chế tạo được xi măng trên vũ trụ (10/9/2019)
Hợp tác nghiên cứu quốc tế về virut cúm và trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis (10/9/2019)
Không gian mạng của Việt Nam phải an toàn để phát triển kinh tế (10/9/2019)
Fintech Summit 2019: Tuyển chọn và kết nối đầu tư cho các startup xuất sắc (10/9/2019)
Tăng hiệu suất pin quang điện được giải bài báo khoa học xuất sắc (09/9/2019)
Phát minh “xanh” biến khí nhà kính thành nhiên liệu lỏng (09/9/2019)
Ứng dụng khoa học - công nghệ trong phòng, chống thiên tai (09/9/2019)
Bộ Khoa học và Công nghệ kết nối startup Việt hợp tác Silicon Valley, Mỹ (09/9/2019)
Thanh gốm tiết kiệm nhiên liệu, giảm 70% khí thải (09/9/2019)
Ứng dụng phân phối thuốc Medlink giành giải nhất cuộc thi VietChallenge 2019 (09/9/2019)
VCCA 2019: Cơ hội kết nối "ba nhà" trong lĩnh vực tự động hóa (09/9/2019)
Công nghệ - ‘Chìa khoá’ kết nối du lịch liên vùng (06/9/2019)
Sử dụng năng lượng hiệu quả: Cốt lõi vẫn là công nghệ (06/9/2019)
Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đổi mới, ứng dụng công nghệ (06/9/2019)
Đề án 844: Tạo lập môi trường thuận lợi hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo (05/9/2019)
Việt Nam có công trình thực nghiệm về vật lý hạt nhân ở tầm thế giới (05/9/2019)
9 đội khởi nghiệp tranh tài giành giải thưởng 50.000 USD (05/9/2019)
Triển lãm quốc tế về điều khiển và tự động hóa 2019 (05/9/2019)
Hội Khảo cổ học Việt Nam: Nhiều đóng góp trong bảo tồn di tích và di vật khảo cổ (05/9/2019)
Chia sẻ các giải pháp KH&CN hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng (05/9/2019)
"Hạt nhân" của chuyển đổi số (05/9/2019)
Bộ trưởng Chu Ngọc Anh: EVFTA tạo điều kiện cho doanh nghiệp xác lập, bảo vệ thành quả đầu tư cho hoạt động sáng tạo (03/9/2019)
Sản xuất cát nhân tạo từ xỉ thải nhà máy luyện gang (03/9/2019)
39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường châu Âu (03/9/2019)
Kỹ sư hóa xử lý bã cà phê làm nguyên liệu sản xuất giày (03/9/2019)
Startup Việt Nam: Khát vọng tạo ra sản phẩm công nghệ không thua kém thế giới (03/9/2019)
Tech Sumit 2019 - Xu hướng ứng dụng công nghệ vào chuyển đổi kinh doanh (03/9/2019)
Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo (03/9/2019)
Nhà khoa học nữ Việt Nam công bố công trình trên tạp chí khoa học uy tín nhất thế giới (28/8/2019)
Ứng dụng vi cơ điện tử và vật liệu nano xây dựng thành phố an toàn, thân thiện (28/8/2019)
Hội nghị khoa học trẻ đầu tiên tại ĐH Công nghiệp TPHCM: Nhiều nghiên cứu gắn với thực tiễn (28/8/2019)
T-Farm và AirIOT giành giải Nhất Vietnam Startup Wheel 2019 (28/8/2019)
Vietnam Startup Day 2019: Quy tụ gần 200 dự án khởi nghiệp ĐMST nổi bật của Việt Nam và quốc tế (28/8/2019)
Sản xuất gạch không nung nhẹ bằng công nghệ ép tĩnh (28/8/2019)
Chuyển đổi số khu vực công: Những bước đi đầu tiên (23/8/2019)
Công nghệ “biến” chất thải từ nhà máy lọc dầu thành đất hiếm (23/8/2019)
Đề xuất tiêu chuẩn mới lựa chọn, công nhận nhà khoa học trẻ tài năng (23/8/2019)
Đa dạng hóa giống cây có dầu (23/8/2019)
Ứng dụng công nghệ mới trong kinh tế chia sẻ (23/8/2019)
VINIF tài trợ từ 2,5 đến 10 tỷ đồng cho 20 dự án KH&CN (23/8/2019)
Triển lãm quốc tế về điều khiển và tự động hóa trong thời 4.0 (20/8/2019)
Tổng đài ảo thông minh giành quán quân cuộc thi quốc gia về trí tuệ nhân tạo (20/8/2019)
Phát triển cây sâm Việt Nam công nghệ cao tại Lâm Đồng (20/8/2019)
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Trí tuệ nhân tạo sẽ đưa Việt Nam phát triển (20/8/2019)
Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Ban hành Quy trình triển khai thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017 - 2025

Quyết định số 27/QĐ-SKHCN về việc Về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN Quảng Trị

Kế hoạch số 10/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Tập huấn xây dựng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001 vào hoạt động UBND các Phường, xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh năm 2019.

Kế hoạch số 09/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Duy trì áp dụng và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2019.

Quyết định số 323/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Ban hành Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị.

Quyết định số 2677/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc thành lập Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin Khoa học và Công nghệ, trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ.

Quyết định số 10/QĐ-SKHCN về việc Quyết định V/v công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

Quyết định số 11/QĐ-SKHCN về việc Quyết định V/v công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

Quyết định số 12/QĐ-SKHCN về việc Quyết định V/v công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

Quyết định số 108/QĐ-UBND về việc Quyết định Về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo Cuộc "Sáng tạo trẻ Quảng Trị".

Thông báo về việc tuyển dụng viên chức

V/v thay đổi tên đơn vị và mẫu dấu của Trạm Nghiên cứu và Phát triển Nấm

Thông báo V/v đề xuất và đề xuất đặt hàng nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh bắt đầu thực hiện năm 2020

Kết luận thanh tra về an toàn bức xạ, hạt nhân và đo lường

Thông báo V/v kết quả xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài: "Nghiên cứu xây dựng mô hình kết nối Cung - Cầu hàng hóa hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế "

Xem thêm
Thống kê lượt truy cập
Số người online 934
Hôm nay 260
Hôm qua 3.600
Tất cả 982.373

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này