Thứ Bảy, 06/6/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Ba, ngày 10/9/2019

Hợp tác nghiên cứu quốc tế về virut cúm và trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis
Virut cúm được chia làm 3 loại A, B và C trong đó virut cúm A có độc lực và khả năng biến chủng cao nhất, chính điều này chúng thường gây nên các đại dịch lớn trên thế giới. Từ năm 1918 đại dịch cúm do virut cúm A/ H1N1 gây chết 40 triệu người, năm 1957 virut cúm A/H2N2 gây chêt từ 1-1,5 triệu người, năm 1968 virut H3N2 gây chết khoảng 750 nghìn người. Virut cúm A/H5N1 xuất hiện đầu tiên tại Hồng Kông năm 1997 gây nhiễm cho 18 người, trong đó có 6 người tử vong, bệnh có liên quan chặt chẽ với dịch cúm gia cầm. Tại Việt Nam từ tháng 12/2003 đến nay đã xuất hiện những đợt dịch cúm gia cầm (cúm A/H5N1) trên 64 tỉnh trong cả nước tiêu huỷ hàng trăm triệu con gia cầm. Dịch trên người xảy ra ở nhiều tỉnh thành phố với 93 trường hợp mắc bệnh và 42 trường hợp tử vong. Năm 2009, một đợt đại dịch mới lại xuất hiện với chủng H1N1 swine, chúng có tốc độ lây lan nhanh chóng trong cộng đồng trên toàn thế giới.
Bệnh nhiễm virut cúm A/H1N1 là bệnh cấp tính đường hô hấp với biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Ho thường nặng và kéo dài. Có thể kèm theo các triệu chứng đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, ỉa chảy), đặc biệt ở trẻ em. Thông thường bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 2-7 ngày. Ở trẻ em và người lớn tuổi, người mắc bệnh mạn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc người có suy giảm miễn dịch, bệnh có thể diễn biến nặng hơn như viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi, viêm não có thể dẫn đến tử vong. 
 
Các nghiên cứu ở mức độ in vitro, in vivo với virut cúm A/H1N1, H5N1 được thực hiện ở nhiều công trình trên thế giới trong việc tìm hiều về cơ chế tác động cũng như vai trò của chúng tác động lên con người đồng thời tìm ra vaccine hay các loại thuốc biệt dược trong phòng chống bệnh cúm. Các nghiên cứu trong nước chủ yếu là các nghiên cứu chẩn đoán căn nguyên virut và xác định các dưới nhóm (subtype) bên cạnh đó các nghiên cứu về kháng nguyên bề mặt … Tuy nhiên, các nghiên cứu ở 40 nước ta vẫn chưa nhiều đặc biệt ở mức độ in vitro với biểu hiện của trật tự của các cytokine/chemokine trong tế bào khi có gây nhiễm với virut cúm A/H1N1. Tìm hiểu về cơ chế biểu hiện các cytokine/chemokine trong tế bào sẽ xây dựng được bức tranh hoàn thiện về sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể khi có sự xâm nhập của virut cúm A/H1N1 từ đó làm nền tảng cơ bản trong việc phát triển các loại biệt dược có tác dụng chống lại độc lực của virut và loại virut khỏi cơ thể giúp cứu sống người bệnh. Bệnh viện Nhi Trung ương là một đơn vị có áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán sinh học phân tử trong xác định các căn nguyên gây bệnh về mặt lâm sàng bên cạnh đó vẫn tiến hành các nghiên cứu để phục vụ lâm sàng, việc đưa các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản trong bệnh viện sẽ làm tiền đề phát triển các nghiên cứu sâu hơn trong thử nghiệm lâm sàng. Điều này sẽ mang lại hiệu quả trong điều trị đồng thời nâng cao năng lực của cán bộ và học viên nghiên cứu. Bên cạnh bệnh do virus cúm gây ra, bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm, không chỉ tác động đến sức khỏe cộng đồng mà còn có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội. Nguyên nhân gây bệnh lao là vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Vi khuẩn lao chủ yếu gây bệnh ở phổi (80 – 85%), lây truyền từ người này sang người kia qua đường hô hấp. Việt Nam là một trong 22 nước có gánh nặng lao cao. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2012, Việt Nam có tổng số hơn 100.000 bệnh nhân lao được phát hiện và điều trị trong năm 2011, trong đó 72% là lao phổi AFB (+), nghĩa là phát hiện được trực khuẩn lao trong đờm. Bản thân trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis là một yếu tố quan trọng gây nên hình thái bệnh; chúng bao gồm nhiều chủng khác nhau, có chủng lại phân nhóm nhỏ hơn thành các dưới nhóm (hoặc dưới chủng). Các nghiên cứu cho thấy một số nhóm/dưới nhóm trực khuẩn lao có thể làm thay đổi đáp ứng điều trị trước mắt hoặc lâu dài, thể hiện bằng tỷ lệ thất bại trong điều trị hoặc tái phát sau khi kết thúc điều trị. Trực khuẩn lao cũng có mối liên quan chặt chẽ với kháng thuốc; một số chủng trực khuẩn nhất định có khả năng kháng thuốc cao, kể cả kháng đơn thuốc hoặc kháng đa thuốc [53]. Đặc tính này 41 thậm chí có thể khác nhau tuỳ theo từng dưới nhóm của cùng một chủng trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis. 
 
Bệnh viện phổi Đà Nẵng là bệnh viện chuyên ngành lao tại khu vực miền Trung Việt Nam, chịu trách nhiệm triển khai công tác phòng chống lao theo Chương trình Chống lao Quốc gia trên toàn thành phố bao gồm 6 quận nội thành và 1 huyện ngoại thành. Bệnh viện chịu trách nhiệm chỉ đạo tuyến cho 13 tỉnh ở khu vực miền Trung từ Quảng Bình tới Tây Nguyên, và cũng là một trong các điểm được Chương trình Chống lao Quốc gia đưa vào mạng lưới quản lý và điều trị lao đa kháng thuốc mới triển khai những năm gần đây; và chịu trách nhiệm cho các tỉnh/thành Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Đà Nẵng. Tại khu vực TP. Đà Nẵng, hiện chưa có nghiên cứu chính thức nào về sự phân bố các chủng trực khuẩn lao, cũng như các đặc điểm khác của trực khuẩn như tính kháng thuốc, mối liên quan với các yếu tố về lâm sàng và dịch tễ học của bệnh nhân. Đặc biệt, do hạn chế về nguồn lực nên các kỹ thuật tiên tiến hoặc chuyên sâu chưa được áp dụng cho nghiên cứu. 
 
Do đó, TS. Phùng Thị Bích Thuỷ, Trưởng khoa Nghiên cứu sinh học phân tử các bệnh truyền nhiễm cùng cộng sự đã tiến hành nhiệm vụ Hợp tác Quốc tế về Khoa học và Công nghệ theo Nghị định Thư với Nhật Bản và Philipin “Hợp tác nghiên cứu quốc tế về virus cúm và trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis”.
 
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào những nội dung sau:
 
• Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử để phân lập gen NS1 của virus cúm A/H1N1 gây nhiễm trên dòng tế bào biểu mô phế nang A549 của người dưới mức độ in vitro, so sánh với Nhật Bản và Philipin. 
 
• Tìm hiểu cơ chế biểu hiện theo trật tự của các cytokine và chemokine trong quá trình gây nhiễm của virut cúm A/H1N1 lên tế bào biêu mô phế nang A459 của người. 
 
• Xác định các nhóm/dưới nhóm trực khuẩn lao đang lưu hành ở TP. Đà Nẵng bằng kỹ thuật sinh học phân tử và các đặc điểm của chúng bao gồm cả tính kháng thuốc, so sánh với Nhật Bản và Philipin.
 
Sau gần 3 năm thực hiện, đề tài đã đạt được một số kết quả nổi bật, bao gồm: 
 
- Đề tài đã thực hiện được kỹ thuật RT-PCR trong việc phân lập được gen NS1 của virus cúm A/H1N1pdm09 và giải trình tự thành công gen NS1 có kích thước 890bp tương đồng với trình tự NS1 của Đài Loan (Taiwan), New Caledonia (Pháp), Canterbery (Anh), Wellington, so sánh với phía Nhật bản không khác nhau. Nghiên cứu đã thực hiện tạo plasmid pCMV-myc NS1 để gây nhiễm vào tế bào A549 để thực hiện thí nghiệm ở mức độ invitro. 
 
- Tìm hiểu được biểu hiện của các cytokine và chemokine dưới mức độ invitro khi gây nhiễm plasmid pCMV-myc NS1 vào tế bào A549, biểu hiện cytokine và chemokine ở mức độ biểu hiện gen của các cytokine và chemokine như IL-6, IL-8, IFN-α, IFN-β, IFN-γ, Rantes, MCP-1 ở nhóm tế bào gây nhiễm với plasmid NS1 cao hơn so với nhóm tế bào không nhiễm sau 2 ngày và 4 ngày. Kết quả định lượng nồng độ của các cytokine và cytokine IL-6, IL-8, MCP1, Rantes MIP-1β cao hơn trong 2 ngày và 4 ngày đối với tế bào A549 đã gây nhiễm với plasmid NS1. 
 
- Trong nghiên cứu, xác định các nhóm và dưới nhóm trực khuẩn lao đang lưu hành tại thành phố Đà Nẵng bằng kỹ thuật sinh học phân tử cho thấy, vi khuẩn lao nhóm EAI là lưu hành phổ biến nhất, sau đó đến nhóm Beijing. Kết quả này có khác so với nghiên cứu ở Nhật Bản là nhóm Beijing chiếm tỷ lệ cao nhất. Ở Philipin, sự phân bố lại có chiều hướng giống với nghiên cứu của chúng tôi, khi chủng gặp nhiều nhất là thuộc nhóm EAI. Tuy nhiên, lại là chủng EAI đặc hiệu cho Philipin. Các chủng vi khuẩn lao thuộc nhóm Beijing bao gồm cả Beijing cổ và hiện đại có liên quan có ý nghĩa thống kê tình trạng kháng thuốc, nhưng chủ yếu là với kháng SM và kháng bất kỳ thuốc nào trong 4 thuốc hàng một (trừ PZA).
 
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 15041) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
http://www.vista.gov.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: Mối quan tâm thường trực của các Sở KH&CN (05/6/2020)
Hoạt động khoa học địa phương: Trên 70% được ứng dụng (05/6/2020)
Kết nối nguồn lực phát triển khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (03/6/2020)
Doanh nghiệp Việt Nam trước công cuộc chuyển đổi số: Thấu hiểu xu thế toàn cầu và nâng tầm tư duy chiến lược (03/6/2020)
Ứng dụng công nghệ sinh học trong công nghiệρ chế biến (03/6/2020)
ISO/IEC 17000: Đánh giá sự phù hợp toàn cầu (03/6/2020)
ĐH Khoa học Tự nhiên chuyển giao công nghệ AI khoanh vùng ảnh y tế cho công ty Mỹ (01/6/2020)
Triển vọng mới trong sản xuất vắc-xin cúm gia cầm (01/6/2020)
Xây dựng hệ thống phần mềm hỗ trợ chẩn đoán ung thư phổi (01/6/2020)
Tháo gỡ khó khăn về mã số mã vạch nước ngoài cho doanh nghiệp xuất khẩu (01/6/2020)
Hội nghị trực tuyến Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ toàn quốc năm 2020 (01/6/2020)
“Xây dựng thương hiệu, gọi vốn và pitching” cho doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (01/6/2020)
Thúc đẩy chuyển đổi số tại Việt Nam (29/5/2020)
Xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ đợt 6 (29/5/2020)
Diêm mạch: Một gợi ý cho bài toán hạn mặn (29/5/2020)
Xây dựng mô hình hoạt động của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia: Kinh nghiệm của một số nước (29/5/2020)
Công bố phát hiện một số loài côn trùng mới tại Việt Nam (29/5/2020)
Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác sáng tạo, lành mạnh trên môi trường mạng (01/6/2020)
Bộ KH&CN: Những nhiệm vụ lớn thúc đẩy KH&CN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (29/5/2020)
Đập mở ngăn thủy triều đối phó với hạn mặn (29/5/2020)
Hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua rào cản khi tham gia FTA (28/5/2020)
Phát triển cơ giới hóa nông nghiệp trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (28/5/2020)
Môi trường và giải pháp cho chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo của Việt Nam (28/5/2020)
Đẩy mạnh ứng dụng an toàn bức xạ phòng chống dịch COVID-19 (27/5/2020)
Ứng dụng công nghệ sinh học giải quyết ô nhiễm môi trường ở nhiều quy mô (27/5/2020)
Logistics Việt Nam: Ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (27/5/2020)
Cơ hội cho startup Việt mở rộng thị trường ở Hàn Quốc và châu Á (27/5/2020)
Phát hiện loài sa giông cá sấu mới tại Việt Nam (26/5/2020)
Thành lập viện nghiên cứu công nghệ Plasma đầu tiên ở Việt Nam (26/5/2020)
Công nghệ thanh toán mới giúp giảm tỷ lệ dùng tiền mặt (25/5/2020)
Đà Nẵng: Trao giải thưởng cho nhiều công trình khoa học có giá trị (25/5/2020)
Máy cắt băm gốc rạ: Hai trong một (25/5/2020)
Thúc đẩy chuyển đổi số bằng nền tảng điện toán đám mây Việt Nam (22/5/2020)
Hợp tác quốc tế về phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030: Đẩy mạnh nghiên cứu KH&CN gắn với điều tra cơ bản biển (22/5/2020)
Phát triển công nghệ vi sinh trong công nghiệp tại Việt Nam (22/5/2020)
Để doanh nghiệp KH&CN đóng góp nhiều hơn vào GDP (22/5/2020)
Hài hòa tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế (21/5/2020)
Những nhà khoa học nữ bền bỉ trong hành trình nghiên cứu (21/5/2020)
Nền tảng số hoạt động giống như một hệ thống cơ sở hạ tầng để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đối số (21/5/2020)
Trao tặng Giải thưởng Kovalevskaia năm 2019 (20/5/2020)
Công bố Chỉ số cải cách hành chính và Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (20/5/2020)
Công nghệ nhận dạng hành vi giúp nâng cao năng suất lao động VinHR (20/5/2020)
Chế tạo thành công máy tự động sản xuất túi dán bằng công nghệ dán siêu âm (20/5/2020)
Tôn vinh 41 nhà nghiên cứu trong 'cuộc chiến' Covid-19 (19/5/2020)
Vai trò của khoa học và công nghệ ngày càng được khẳng định (19/5/2020)
Cầu nối nghiên cứu đến thị trường (19/5/2020)
Quản lý và khai thác nhãn hiệu tập thể các sản phẩm Gạo và Chuối ở huyện Hải Lăng và huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị (22/5/2020)
Ra mắt sản phẩm chấm công “Made in Vietnam” sử dụng trí tuệ nhân tạo (18/5/2020)
Hai nền tảng chuyển đổi số của FPT lọt Top 10 Sao Khuê 2020 (18/5/2020)
Công bố và trao Danh hiệu Sao Khuê 2020 qua hình thức trực tuyến (18/5/2020)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Quyết định số 726/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh (Lần 1, năm 2020)

Quyết định số 3110/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v Phê duyệt đề tài: Nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong nuôi cá chình lồng tại Quảng Trị

Quyết định số 214/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt danh mục nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng và Thông tin KH_CN thực hiện năm 2020

Quyết định số 2625/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt đề tài: "Đánh giá nhu cầu thị trường lao động và đề xuất các giải pháp về đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2019 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030"

Quyết định số 221/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Đoàn thẩm tra về An toàn và kiểm soát bức xạ

Quyết định số 222/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Đoàn thẩm tra về An toàn và kiểm soát bức xạ tại cơ sở phòng khám Đa khoa Tâm An

Báo cáo số 94/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ

Kế hoạch số 31/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc

Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Ban hành Quy trình triển khai thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017 - 2025

Quyết định số 27/QĐ-SKHCN về việc Về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" tỉnh Quảng Trị năm 2020

Báo cáo kiểm tra về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa trước, trong và sau Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020

Báo cáo tình hình giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2019

Thông báo đề xuất tham gia Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả KH_CN thực hiện năm 2020

Quyết định về việc giao dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước (đợt 1) Kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ năm 2020

Quy chế tiếp công dân của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nội quy tiếp công dân
Thống kê lượt truy cập
Số người online 160
Hôm nay 1.091
Hôm qua 2.959
Tất cả 2.006.926

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này