Thứ Ba, 22/10/2019 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luật
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Ba, ngày 10/9/2019

Hợp tác nghiên cứu quốc tế về virut cúm và trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis
Virut cúm được chia làm 3 loại A, B và C trong đó virut cúm A có độc lực và khả năng biến chủng cao nhất, chính điều này chúng thường gây nên các đại dịch lớn trên thế giới. Từ năm 1918 đại dịch cúm do virut cúm A/ H1N1 gây chết 40 triệu người, năm 1957 virut cúm A/H2N2 gây chêt từ 1-1,5 triệu người, năm 1968 virut H3N2 gây chết khoảng 750 nghìn người. Virut cúm A/H5N1 xuất hiện đầu tiên tại Hồng Kông năm 1997 gây nhiễm cho 18 người, trong đó có 6 người tử vong, bệnh có liên quan chặt chẽ với dịch cúm gia cầm. Tại Việt Nam từ tháng 12/2003 đến nay đã xuất hiện những đợt dịch cúm gia cầm (cúm A/H5N1) trên 64 tỉnh trong cả nước tiêu huỷ hàng trăm triệu con gia cầm. Dịch trên người xảy ra ở nhiều tỉnh thành phố với 93 trường hợp mắc bệnh và 42 trường hợp tử vong. Năm 2009, một đợt đại dịch mới lại xuất hiện với chủng H1N1 swine, chúng có tốc độ lây lan nhanh chóng trong cộng đồng trên toàn thế giới.
Bệnh nhiễm virut cúm A/H1N1 là bệnh cấp tính đường hô hấp với biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Ho thường nặng và kéo dài. Có thể kèm theo các triệu chứng đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, ỉa chảy), đặc biệt ở trẻ em. Thông thường bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 2-7 ngày. Ở trẻ em và người lớn tuổi, người mắc bệnh mạn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc người có suy giảm miễn dịch, bệnh có thể diễn biến nặng hơn như viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi, viêm não có thể dẫn đến tử vong. 
 
Các nghiên cứu ở mức độ in vitro, in vivo với virut cúm A/H1N1, H5N1 được thực hiện ở nhiều công trình trên thế giới trong việc tìm hiều về cơ chế tác động cũng như vai trò của chúng tác động lên con người đồng thời tìm ra vaccine hay các loại thuốc biệt dược trong phòng chống bệnh cúm. Các nghiên cứu trong nước chủ yếu là các nghiên cứu chẩn đoán căn nguyên virut và xác định các dưới nhóm (subtype) bên cạnh đó các nghiên cứu về kháng nguyên bề mặt … Tuy nhiên, các nghiên cứu ở 40 nước ta vẫn chưa nhiều đặc biệt ở mức độ in vitro với biểu hiện của trật tự của các cytokine/chemokine trong tế bào khi có gây nhiễm với virut cúm A/H1N1. Tìm hiểu về cơ chế biểu hiện các cytokine/chemokine trong tế bào sẽ xây dựng được bức tranh hoàn thiện về sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể khi có sự xâm nhập của virut cúm A/H1N1 từ đó làm nền tảng cơ bản trong việc phát triển các loại biệt dược có tác dụng chống lại độc lực của virut và loại virut khỏi cơ thể giúp cứu sống người bệnh. Bệnh viện Nhi Trung ương là một đơn vị có áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán sinh học phân tử trong xác định các căn nguyên gây bệnh về mặt lâm sàng bên cạnh đó vẫn tiến hành các nghiên cứu để phục vụ lâm sàng, việc đưa các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản trong bệnh viện sẽ làm tiền đề phát triển các nghiên cứu sâu hơn trong thử nghiệm lâm sàng. Điều này sẽ mang lại hiệu quả trong điều trị đồng thời nâng cao năng lực của cán bộ và học viên nghiên cứu. Bên cạnh bệnh do virus cúm gây ra, bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm, không chỉ tác động đến sức khỏe cộng đồng mà còn có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội. Nguyên nhân gây bệnh lao là vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Vi khuẩn lao chủ yếu gây bệnh ở phổi (80 – 85%), lây truyền từ người này sang người kia qua đường hô hấp. Việt Nam là một trong 22 nước có gánh nặng lao cao. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2012, Việt Nam có tổng số hơn 100.000 bệnh nhân lao được phát hiện và điều trị trong năm 2011, trong đó 72% là lao phổi AFB (+), nghĩa là phát hiện được trực khuẩn lao trong đờm. Bản thân trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis là một yếu tố quan trọng gây nên hình thái bệnh; chúng bao gồm nhiều chủng khác nhau, có chủng lại phân nhóm nhỏ hơn thành các dưới nhóm (hoặc dưới chủng). Các nghiên cứu cho thấy một số nhóm/dưới nhóm trực khuẩn lao có thể làm thay đổi đáp ứng điều trị trước mắt hoặc lâu dài, thể hiện bằng tỷ lệ thất bại trong điều trị hoặc tái phát sau khi kết thúc điều trị. Trực khuẩn lao cũng có mối liên quan chặt chẽ với kháng thuốc; một số chủng trực khuẩn nhất định có khả năng kháng thuốc cao, kể cả kháng đơn thuốc hoặc kháng đa thuốc [53]. Đặc tính này 41 thậm chí có thể khác nhau tuỳ theo từng dưới nhóm của cùng một chủng trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis. 
 
Bệnh viện phổi Đà Nẵng là bệnh viện chuyên ngành lao tại khu vực miền Trung Việt Nam, chịu trách nhiệm triển khai công tác phòng chống lao theo Chương trình Chống lao Quốc gia trên toàn thành phố bao gồm 6 quận nội thành và 1 huyện ngoại thành. Bệnh viện chịu trách nhiệm chỉ đạo tuyến cho 13 tỉnh ở khu vực miền Trung từ Quảng Bình tới Tây Nguyên, và cũng là một trong các điểm được Chương trình Chống lao Quốc gia đưa vào mạng lưới quản lý và điều trị lao đa kháng thuốc mới triển khai những năm gần đây; và chịu trách nhiệm cho các tỉnh/thành Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Đà Nẵng. Tại khu vực TP. Đà Nẵng, hiện chưa có nghiên cứu chính thức nào về sự phân bố các chủng trực khuẩn lao, cũng như các đặc điểm khác của trực khuẩn như tính kháng thuốc, mối liên quan với các yếu tố về lâm sàng và dịch tễ học của bệnh nhân. Đặc biệt, do hạn chế về nguồn lực nên các kỹ thuật tiên tiến hoặc chuyên sâu chưa được áp dụng cho nghiên cứu. 
 
Do đó, TS. Phùng Thị Bích Thuỷ, Trưởng khoa Nghiên cứu sinh học phân tử các bệnh truyền nhiễm cùng cộng sự đã tiến hành nhiệm vụ Hợp tác Quốc tế về Khoa học và Công nghệ theo Nghị định Thư với Nhật Bản và Philipin “Hợp tác nghiên cứu quốc tế về virus cúm và trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis”.
 
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào những nội dung sau:
 
• Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử để phân lập gen NS1 của virus cúm A/H1N1 gây nhiễm trên dòng tế bào biểu mô phế nang A549 của người dưới mức độ in vitro, so sánh với Nhật Bản và Philipin. 
 
• Tìm hiểu cơ chế biểu hiện theo trật tự của các cytokine và chemokine trong quá trình gây nhiễm của virut cúm A/H1N1 lên tế bào biêu mô phế nang A459 của người. 
 
• Xác định các nhóm/dưới nhóm trực khuẩn lao đang lưu hành ở TP. Đà Nẵng bằng kỹ thuật sinh học phân tử và các đặc điểm của chúng bao gồm cả tính kháng thuốc, so sánh với Nhật Bản và Philipin.
 
Sau gần 3 năm thực hiện, đề tài đã đạt được một số kết quả nổi bật, bao gồm: 
 
- Đề tài đã thực hiện được kỹ thuật RT-PCR trong việc phân lập được gen NS1 của virus cúm A/H1N1pdm09 và giải trình tự thành công gen NS1 có kích thước 890bp tương đồng với trình tự NS1 của Đài Loan (Taiwan), New Caledonia (Pháp), Canterbery (Anh), Wellington, so sánh với phía Nhật bản không khác nhau. Nghiên cứu đã thực hiện tạo plasmid pCMV-myc NS1 để gây nhiễm vào tế bào A549 để thực hiện thí nghiệm ở mức độ invitro. 
 
- Tìm hiểu được biểu hiện của các cytokine và chemokine dưới mức độ invitro khi gây nhiễm plasmid pCMV-myc NS1 vào tế bào A549, biểu hiện cytokine và chemokine ở mức độ biểu hiện gen của các cytokine và chemokine như IL-6, IL-8, IFN-α, IFN-β, IFN-γ, Rantes, MCP-1 ở nhóm tế bào gây nhiễm với plasmid NS1 cao hơn so với nhóm tế bào không nhiễm sau 2 ngày và 4 ngày. Kết quả định lượng nồng độ của các cytokine và cytokine IL-6, IL-8, MCP1, Rantes MIP-1β cao hơn trong 2 ngày và 4 ngày đối với tế bào A549 đã gây nhiễm với plasmid NS1. 
 
- Trong nghiên cứu, xác định các nhóm và dưới nhóm trực khuẩn lao đang lưu hành tại thành phố Đà Nẵng bằng kỹ thuật sinh học phân tử cho thấy, vi khuẩn lao nhóm EAI là lưu hành phổ biến nhất, sau đó đến nhóm Beijing. Kết quả này có khác so với nghiên cứu ở Nhật Bản là nhóm Beijing chiếm tỷ lệ cao nhất. Ở Philipin, sự phân bố lại có chiều hướng giống với nghiên cứu của chúng tôi, khi chủng gặp nhiều nhất là thuộc nhóm EAI. Tuy nhiên, lại là chủng EAI đặc hiệu cho Philipin. Các chủng vi khuẩn lao thuộc nhóm Beijing bao gồm cả Beijing cổ và hiện đại có liên quan có ý nghĩa thống kê tình trạng kháng thuốc, nhưng chủ yếu là với kháng SM và kháng bất kỳ thuốc nào trong 4 thuốc hàng một (trừ PZA).
 
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 15041) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
http://www.vista.gov.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam 2019: Ghi nhận vai trò phụ nữ trong khoa học (17/10/2019)
12 startup Việt vào chung kết RBSA khu vực Đông Nam Á (17/10/2019)
CiC 2019: 4 ý tưởng khởi nghiệp gọi được vốn đầu tư (17/10/2019)
Liên kết tốt “ba nhà” - nền tảng tạo ra nhiều sản phẩm khởi nghiệp sáng tạo (16/10/2019)
Ô-tô điện tích hợp công nghệ số đầu tiên của Việt Nam (16/10/2019)
Jaxa sẽ cung cấp ảnh vệ tinh để Việt Nam quan sát ngập lụt (16/10/2019)
Nghiên cứu tổng hợp vật liệu polyme siêu thấm từ phế liệu (rơm rạ) để ứng dụng trong nông nghiệp (16/10/2019)
Ba dự án chiến thắng tại Cuộc thi AioT & Smart Cities 2019 (15/10/2019)
Kỳ vọng với thiết bị y tế sản xuất trong nước (15/10/2019)
Kết nối mạng lưới truyền thông cho khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam (15/10/2019)
VAIS: Giải pháp gỡ băng cuộc họp tự động (15/10/2019)
Hỗ trợ phát triển công nghệ và sản phẩm thương mại (14/10/2019)
Kỷ niệm Ngày tiêu chuẩn thế giới 14.10.2019: Tiêu chuẩn hóa thúc đẩy hội nhập toàn cầu (14/10/2019)
Chất quý từ gạo gây chết tế bào ung thư (14/10/2019)
Công nghệ nén video giúp nhiều người kiếm tiền từ smartphone (14/10/2019)
Phát hiện loài cây gỗ mới ở dãy Trường Sơn (14/10/2019)
Ba giải pháp cho người khuyết tật nhận thưởng 16.000 USD (14/10/2019)
9X nghiên cứu vật liệu xử lý khí thải từ động cơ xe (11/10/2019)
Cơ hội kết nối, chuyển giao công nghệ tại Techmart y tế 2019 (11/10/2019)
Robot biến hình từ phế liệu: “Rác thải nếu biết tái chế sẽ thành điều kỳ diệu!” (11/10/2019)
Nâng cao chuỗi giá trị nhờ phát triển nông nghiệp hữu cơ thông minh (11/10/2019)
Sinh viên chế tạo gậy thông minh hỗ trợ người già (11/10/2019)
Ứng dụng công nghệ 3D chế tạo sản phẩm phục vụ y tế và giáo dục - Giải Nhất ý tưởng khởi nghiệp dành cho học sinh, sinh viên năm 2019 (11/10/2019)
Bộ KH&CN hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với CMCN 4.0 (11/10/2019)
Trình Chính phủ sửa đổi thủ tục công nhận nhà khoa học trẻ tài năng (10/10/2019)
Doanh nghiệp Việt liên kết tham gia chuỗi giá trị nông sản toàn cầu (10/10/2019)
Công bố các dự án đoạt giải thưởng Đối tác Đổi mới Sáng tạo (10/10/2019)
Thành công trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính bằng tế bào gốc (10/10/2019)
VIETWATER: Giới thiệu nhiều công nghệ và giải pháp tối tân trong ngành cấp thoát và lọc (09/10/2019)
Việt Nam: 70% số doanh nghiệp Fintech là công ty khởi nghiệp (09/10/2019)
Nghiên cứu phát triển điện hải lưu tại Việt Nam (09/10/2019)
Thông điệp Ngày tiêu chuẩn thế giới 2019: Tiêu chuẩn video tạo lập sân khấu toàn cầu (11/10/2019)
Sở hữu trí tuệ trở thành công cụ nâng cao sức cạnh tranh nền kinh tế (09/10/2019)
Học sinh lớp 8 chế tạo thành công máy bóc vỏ dừa (08/10/2019)
Nghiên cứu về hệ gene người Việt tìm ra nhiều bệnh hiếm gặp (09/10/2019)
Việt Nam sẽ có cổng truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp (08/10/2019)
Cơ hội thương mại hóa dữ liệu khí tượng hải văn (09/10/2019)
Phát triển môi trường sở hữu trí tuệ kiến tạo và cải thiện Chỉ số đổi mới sáng tạo (07/10/2019)
Tuần lễ Kĩ năng và Đổi mới sáng tạo: Kết nối khởi nghiệp với khoa học và nghiên cứu (07/10/2019)
Ra mắt Hiệp hội Doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam (07/10/2019)
Triển vọng công nghệ sản xuất túi ni-lông tự hủy (07/10/2019)
Lần đầu tiên viện nghiên cứu Việt Nam có phòng thí nghiệm tại nước ngoài (07/10/2019)
Cần hành động để thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị về Cách mạng công nghiệp 4.0 (04/10/2019)
Sản xuất thành công thuốc Pegfilgrastim phối hợp điều trị ung thư (04/10/2019)
WIPO hỗ trợ Việt Nam phát triển môi trường sở hữu trí tuệ (04/10/2019)
Nhiều vũ khí, công nghệ hiện đại trưng bày tại DSE Vietnam 2019 (03/10/2019)
Công bố một số kết quả nghiên cứu về bộ gien người Việt Nam (03/10/2019)
Vai trò của truyền thông địa phương trong xây dựng Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (03/10/2019)
Kỹ thuật đột biến hô hấp tạo giống lúa giàu protein (02/10/2019)
Hỗ trợ phòng thí nghiệm trong công nhận theo tiêu chuẩn mới (02/10/2019)
Quyết định số 214/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt danh mục nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng và Thông tin KH_CN thực hiện năm 2020

Quyết định số 2625/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt đề tài: "Đánh giá nhu cầu thị trường lao động và đề xuất các giải pháp về đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2019 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030"

Quyết định số 221/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Đoàn thẩm tra về An toàn và kiểm soát bức xạ

Quyết định số 222/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Đoàn thẩm tra về An toàn và kiểm soát bức xạ tại cơ sở phòng khám Đa khoa Tâm An

Báo cáo số 94/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ

Kế hoạch số 31/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc

Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Ban hành Quy trình triển khai thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017 - 2025

Quyết định số 27/QĐ-SKHCN về việc Về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN Quảng Trị

Kế hoạch số 10/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Tập huấn xây dựng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001 vào hoạt động UBND các Phường, xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh năm 2019.

Kế hoạch số 09/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Duy trì áp dụng và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2019.

V/v đề xuất đề tài/dự án thuộc Chương trình KH_CN trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2025

Về việc nghiệm thu đề tài “Địa chí Quảng Trị”.

Kết luận thanh tra về đo lường

Thông báo V/v đề xuất và đề xuất đặt hàng nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh bắt đầu thực hiện năm 2020

Kết luận thanh tra về an toàn bức xạ, hạt nhân và đo lường

Thống kê lượt truy cập
Số người online 727
Hôm nay 1.156
Hôm qua 4.688
Tất cả 1.110.893

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này