Thứ Sáu, 06/12/2019 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luật
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin trong nước
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 07/10/2019

Cơ hội thương mại hóa dữ liệu khí tượng hải văn
Thông qua đề tài do Dự án FIRST (Bộ KH&CN) tài trợ, Trung tâm Động lực học Thủy khí môi trường của trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) không chỉ có được một hệ thống quan trắc và mô phỏng để dự báo các điều kiện khí tượng hải văn mà còn đứng trước cơ hội thương mại hóa các dữ liệu quý này.
Cán bộ CEFD đang tổ chức bố trí tuyến quan trắc và đo nồng độ bùn cát tại khu vực ven biển Trà Lý, Thái Bình. Nguồn: CEFD

Chỉ trong vòng hai năm thực hiện (2017-2019) với khoản kinh phí 1,86 triệu USD từ Dự án FIRST, đề tài “Hiện đại hóa hệ thống quan trắc và mô phỏng/dự báo các điều kiện khí tượng hải văn - môi trường biển và đới ven bờ độ phân giải cao phục vụ khai thác bền vững tài nguyên biển và giảm thiểu rủi ro thiên tai” đã giúp các nhà nghiên cứu ở Trung tâm động lực học thủy khí môi trường (CEFD) làm chủ được một hệ thống quan trắc khí tượng hải văn có độ phân giải cao hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á – nền tảng để trung tâm phát triển mô hình tích hợp dự báo khí tượng hải văn, phục vụ cho công tác phân tích, dự báo trường sóng và dòng chảy ven bờ, cảnh báo sớm thiên tai ở vùng ven biển Việt Nam. Cơ hội này đã đưa “CEFD trở thành một trong những đơn vị có hệ thống thiết bị quan trắc hiện trường các yếu tố thủy động lực và môi trường biển, khu vực ven bờ hiện đại nhất Việt Nam và là một trong những đơn vị đầu tiên của cả nước phát triển thành công bộ mô hình tích hợp”, PGS.TS. Trần Ngọc Anh, Giám đốc CEFD kiêm Trưởng Bộ môn Thủy văn, ĐHKHTN và là chủ nhiệm dự án, nhận xét về kết quả lớn nhất mà đề tài đem lại.

Giải bài toán dữ liệu khí tượng hải văn

Ý tưởng để PGS.TS. Trần Ngọc Anh đề xuất đề tài bắt nguồn từ những quan sát trong thực tế, khi thấy nhiều nơi trên thế giới đã ứng dụng dữ liệu khí tượng hải văn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực và tận dụng thuận lợi của các yếu tố thời tiết. Chẳng hạn, nhờ việc sử dụng thông tin về các dòng hải lưu để đưa ra lịch trình phù hợp, xuôi dòng theo hải lưu, một công ty vận tải của Nhật Bản đã tiết kiệm được 30% nhiên liệu so với thông thường. Đây có thể là một điều mới với nhiều người ở Việt Nam bởi hiện nay, chỉ một số tổ chức, doanh nghiệp lớn hoặc hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến thời tiết mới quan tâm còn đa số vẫn chỉ sử dụng thông tin dự báo thời tiết chung chung ở các bản tin trên truyền hình.

Sau hai năm triển khai, nhóm nghiên cứu của CEFD đã tích hợp thành công 3 mô hình ROMS, SWAN và WRF trong bộ mô hình COAWST, chạy tự động theo thời gian thực thông qua phần mềm MCT, theo PGS.TS. Trần Ngọc Anh.
Sau hai năm triển khai, nhóm nghiên cứu của CEFD đã tích hợp thành công 3 mô hình ROMS, SWAN và WRF trong bộ mô hình COAWST, chạy tự động theo thời gian thực thông qua phần mềm MCT, theo PGS.TS. Trần Ngọc Anh.

 

Hạn chế lớn nhất khiến việc áp dụng thông tin dự báo thời tiết trong các hoạt động kinh tế xã hội ở Việt Nam chưa phổ biến là “chúng ta thiếu nguồn dữ liệu khí tượng, hải văn đầu vào để tính toán, đưa ra thông tin dự báo thời tiết chi tiết và chính xác, đặc biệt là dữ liệu vùng ven bờ biển”, PGS.TS. Trần Ngọc Anh cho biết.

Do đó, anh và đồng nghiệp ở CEFD đã tìm đến Dự án FIRST để đề xuất việc hiện đại hóa hệ thống quan trắc và mô phỏng/dự báo các điều kiện khí tượng hải văn - môi trường biển và đới ven bờ độ phân giải cao, điều mà nhiều nhà nghiên cứu khí tượng, hải văn ở Việt Nam đã mong muốn từ lâu nhưng chưa thành hiện thực vì đòi hỏi “kinh phí quá lớn”. Với những đơn vị lớn như Tổng cục khí tượng thủy văn, Tổng cục Biển và Hải đào (Bộ TNMT) “chủ yếu tập trung quan trắc khu vực xa bờ nên họ đầu tư những hệ thống có tầm quét rất rộng - khiến độ phân giải bị giảm xuống”, PGS.TS. Trần Ngọc Anh nói. Để chạy các mô hình dự báo thời tiết và sóng, dòng chảy khu vực ven bờ biển, các nhà chuyên môn hiện nay vẫn phải sử dụng số liệu tái phân tích của nước ngoài hoặc phải chạy mô hình cho toàn bộ khu vực Biển Đông sau đó hạ quy mô xuống khu vực ven bờ, vốn mất nhiều thời gian xử lý và “số liệu miễn phí của nước ngoài thường không được như mình mong muốn nên dễ gây khó khăn trong tính toán chi tiết trên khu vực cụ thể”, anh nói. Bởi vậy, khoản tài trợ nâng cao năng lực cho các tổ chức KH&CN công lập vào cuối năm 2016 của Dự án FIRST là cơ hội quý cho CEFD.

Kinh phí từ Dự án FIRST đã giúp CEFD có được hệ thống radar di động ven bờ quan trắc sóng và dòng chảy biển độ phân giải cao (300mx300m) có tầm quét từ 30-200km. Hệ thống này còn đi kèm các thiết bị quan trắc theo điểm và theo mặt cắt các yếu tố thủy động lực và môi trường biển, có thể hoạt động trong điều kiện thời tiết bất lợi. PGS.TS. Trần Ngọc Anh cho biết: “Các thiết bị cũ trước đây thường chỉ đo được trong lúc ‘trời yên biển lặng’ nên không thu được đầy đủ dữ liệu cần thiết. Với thiết bị mới, chúng tôi có thể linh động di chuyển thiết bị quan trắc theo từng thời điểm và đến khu vực phù hợp”.

Để xử lý được các dữ liệu này cần hệ thống máy tính hiệu năng cao bởi năng lực của hệ thống cũ không đủ đáp ứng, kéo dài thời gian xử lý. Do vậy, một hệ thống máy tính có năng lực tính toán khoảng 25 Teraflop cũng được trang bị và đặt ở Trường ĐHKHTN.

Mô hình tích hợp các trường số liệu thời gian thực và dữ liệu lịch sử

Việc có được các thiết bị quan trắc, hệ thống máy tính hiệu năng cao,… mới chỉ là “phần cứng”, yếu tố quyết định tới độ chính xác của kết quả dự báo đầu ra là mô hình “phần mềm” chạy trên hệ thống máy tính này. Tưởng chừng đây là một thách thức lớn với CEFD bởi khoản hỗ trợ của Dự án FIRST chủ yếu hỗ trợ phần trang thiết bị, còn mô hình phần mềm nằm trong khoản đối ứng (hơn 3 tỷ đồng) của CEFD (bao gồm đầu tư hạ tầng phòng máy chủ, công nghệ, nhân lực…), nhưng đây cũng là cơ hội thúc đẩy PGS.TS. Trần Ngọc Anh và các cộng sự chủ động sáng tạo triển khai ứng dụng mô hình tích hợp COASWT (khí tượng, hải dương, sóng) cung cấp các trường số liệu thời gian thực và cho phép tái hiện lại cả các dữ liệu lịch sử.

Ý tưởng tạo ra mô hình tích hợp cũng xuất phát từ kinh nghiệm của PGS.TS. Trần Ngọc Anh trong quá trình ứng dụng các mô hình khí tượng hải văn. Từ trước đến nay, số liệu khí tượng hải văn thường được chạy riêng biệt trên các mô hình: mô hình dòng chảy, nhiệt muối và môi trường nước ba chiều (ROMS), mô hình sóng (SWAN) và mô hình khí tượng (WRF). Nhưng trên thực tế các yếu tố dòng chảy, sóng, khí tượng,... đều có tương tác với nhau chứ không hề tách rời, nếu chạy riêng biệt từng mô hình sẽ không đảm bảo độ chính xác của thông tin đầu ra, anh giải thích.

Việc tích hợp các mô hình này không hề đơn giản, thậm chí tốn rất nhiều thời gian vì 3 mô hình này vốn được thiết kế độc lập chứ không nhằm kết nối với nhau, PGS.TS. Trần Ngọc Anh cho biết. Để giải quyết bài toán này, anh và các cộng sự đã chủ động trao đổi với các chuyên gia ở Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học (Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN) và Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia (Tổng cục khí tượng thủy văn), Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu... “Điều may mắn là chúng tôi có mối quan hệ hợp tác với các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực khí tượng, thủy hải văn”, anh nói.

Dự án FIRST mang lại cơ hội cho nhóm nghiên cứu của PGS.TS. Trần Ngọc Anh cử 2 cán bộ sang đào tạo và làm việc với các chuyên gia ở Đại học Rutgers (Hoa Kỳ) – nơi khai sinh ra mô hình ROMS, giúp nhóm nghiên cứu hiểu rõ hơn về bản chất của các mô hình này. Sự hỗ trợ của FIRST kết hợp với tinh thần chủ động của PGS.TS. Trần Ngọc Anh và các cộng sự đã đem lại kết quả xứng đáng: sau 2 năm triển khai, nhóm nghiên cứu đã tích hợp thành công 3 mô hình ROMS, SWAN và WRF trong bộ mô hình COAWST, chạy tự động theo thời gian thực thông qua phần mềm MCT.

Để kiểm chứng hiệu quả trong thực tế, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm hệ thống này trong vòng 1 tháng ở Phú Yên và thu được kết quả tích cực: hệ thống xử lý số liệu quan trắc nhanh chóng, cho ra kết quả dự báo thời tiết trong vòng 24 giờ với độ ổn định cao. Tuy nhiên, quá trình thử nghiệm cũng cho thấy những điểm cần khắc phục để hoàn hiện và cải tiến hệ thống hơn nữa. “Sự tương tác giữa mô hình ROMS và WRF trong hệ thống mới chỉ theo một chiều, ngoài ra, chúng tôi muốn kéo dài thời gian dự báo thời tiết lên 48 giờ nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác theo yêu cầu”, PGS.TS. Trần Ngọc Anh cho biết.

Cơ hội thương mại hóa

Sự hỗ trợ của dự án FIRST kết hợp với năng lực và kinh nghiệm sẵn có của CEFD đã giúp tiềm năng thương mại hóa dữ liệu khí tượng thủy văn đã trở thành hiện thực. Ngay trong quá trình thực hiện dự án, CEFD đã kí kết biên bản ghi nhớ và thỏa thuận hợp tác cung cấp dữ liệu khí tượng thủy văn cho các tổ chức tư vấn và xây dựng điện gió như CTV Wind, Deltares,… “Những dữ liệu này có vai trò hết sức quan trọng đối với việc thiết kế, xây dựng và vận hành hiệu quả các nhà máy điện gió ở ngoài khơi”, PGS.TS. Trần Ngọc Anh cho biết. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp lớn như tập đoàn Vingroup, FLC,… có nhu cầu dữ liệu khí tượng hải văn phục vụ việc xây dựng các khu nghỉ dưỡng và công trình ở khu vực ven biển cũng trở thành khách hàng của CEFD.

Một thuận lợi lớn của CEFD là việc ứng dụng dữ liệu khí tượng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh ở Việt Nam ngày càng phổ biến. Gần đây, Vietnam Airlines đã sử dụng thông tin dự báo thời tiết do Tổng Cục khí tượng thủy văn phối hợp với một số đơn vị nghiên cứu của Nhật Bản cung cấp và giảm bớt số chuyến bay phải quay đầu do điều kiện thời tiết bất lợi. “Trong tương lai gần, chúng tôi muốn thương mại hóa các dữ liệu này thông qua các ứng dụng trên điện thoại, cung cấp bản tin dự báo phù hợp cho từng đối tượng khách hàng”, anh cho biết.

http://khoahocphattrien.vn
Tin, bài cùng lĩnh vực
Bộ Khoa học và Công nghệ nhận Huân chương lao động hạng Nhất (01/12/2019)
Thủ tướng: Việc đầu tiên phải làm là đổi mới sáng tạo cách trọng dụng con người (01/12/2019)
Những công nghệ nổi bật tại triển lãm thành tựu ứng dụng khoa học (01/12/2019)
Khoa học và Công nghệ Việt Nam - 60 năm xây dựng và phát triển (01/12/2019)
Ba đại diện Việt Nam được trao giải thưởng ASOCIO 2019 (15/11/2019)
Nuôi khát vọng khởi nghiệp từ… đề tài khoa học (15/11/2019)
Ra mắt sách chuyên khảo nghiên cứu về nông dân Việt Nam (15/11/2019)
Chỉ 15% số đơn sáng chế được chấp nhận (15/11/2019)
Nông dân ứng dụng công nghệ để phát triển thương hiệu nông sản (14/11/2019)
Hội thảo khoa học: “Bảo đảm thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nghiên cứu và đào tạo tại Việt Nam” (14/11/2019)
Bảo mật thông tin trong kết nối vạn vật (14/11/2019)
Gạo ST24 Việt Nam đạt giải “Gạo ngon nhất thế giới năm 2019” (13/11/2019)
Đốt dầu thải không khói nhờ thiết bị đốt lò áp lực (13/11/2019)
3 đội học sinh Việt Nam giành vị trí cao tại cuộc thi Sáng tạo Robot toàn cầu (12/11/2019)
Việt Nam tổ chức Techfest tại Singapore (12/11/2019)
Việt Nam đang dần làm chủ kỹ thuật lấy, ghép mô, tạng (12/11/2019)
Cuộc thi Hack4Growth: “Tinh luyện” ý tưởng thành cơ hội khởi nghiệp (12/11/2019)
Tiểu dự án FIRST chế tạo bột thạch anh từ nguồn nguyên liệu trong nước (11/11/2019)
Chế tạo và ứng dụng thành công các dung môi sinh học trong sản xuất năng lượng mới (11/11/2019)
Cơ hội để startup Việt kết nối với các nhà đầu tư Hàn Quốc (11/11/2019)
Khoa học và công nghệ vật liệu xây dựng vì sự phát triển bền vững (11/11/2019)
Khai mạc Diễn đàn quốc tế về đo lường (11/11/2019)
Nâng tầm an toàn thông tin quốc gia trong kỷ nguyên số (11/11/2019)
Ngày trình diễn giải pháp công nghệ FCV 2019 (11/11/2019)
Khai thác hiệu quả IoT, mở rộng thị trường toàn cầu (11/11/2019)
Khối đại học đứng đầu về tiềm năng nghiên cứu ở Việt Nam (11/11/2019)
Hiệp hội doanh nghiệp KH&CN Việt Nam: nơi chắp cánh cho những ý tưởng sáng tạo công nghệ (07/11/2019)
Sinh viên Sài Gòn chế nước uống hỗ trợ phòng chống tiểu đường từ lá dâu tằm (07/11/2019)
Vietnamica: Xây dựng kho tư liệu số hóa về lịch sử và văn bia Việt Nam (07/11/2019)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất vắc xin cúm mùa ở quy mô công nghiệp (06/11/2019)
Nghiên cứu biểu hiện protein tái tổ hợp của virut PCV2 để chế tạo sinh phẩm chẩn đoán và làm nguyên liệu tiến tới sản xuất vắc xin (06/11/2019)
Lĩnh vực KHCN chuyển động đúng hướng, sát thực tế (05/11/2019)
Phương pháp không xâm lấn phát hiện bệnh gan giai đoạn đầu (05/11/2019)
Thử nghiệm công nghệ blockchain truy xuất nguồn gốc (04/11/2019)
Tôn vinh 112 trí thức khoa học và công nghệ tiêu biểu (05/11/2019)
Sản xuất bồn hợp kim nhôm chuyên chở xăng dầu (31/10/2019)
Sinh viên chế máy trồng hành tím chạy bằng năng lượng mặt trời (31/10/2019)
ViettelStudy được công nhận xuất sắc nhất Asean ICT Awards (31/10/2019)
Hội thảo trực tuyến về dữ liệu chỉ số đổi mới sáng tạo 2020 của Việt Nam (31/10/2019)
Việt Nam giành giải Vàng và Bạc tại ASEAN ICT Awards (28/10/2019)
Xây dựng thành phố thông minh cần lấy người dân làm trung tâm (27/10/2019)
Xử lý nước thải dệt nhuộm bằng nano TiO2 (27/10/2019)
Cuộc thi đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp trao giải cho 5 dự án (27/10/2019)
ISO 22301:2012 và sự khác biệt (27/10/2019)
Cuộc thi đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp trao giải cho 5 dự án (27/10/2019)
Nhiều công nghệ nông nghiệp 4.0 được trình diễn tại Growtech Vietnam 2019 (23/10/2019)
Khai mạc Techmart - Techfest Mekong 2019 (23/10/2019)
Khoa học và công nghệ góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới (23/10/2019)
Việt Nam tham gia chế tạo vệ tinh radar (22/10/2019)
Vai trò “bốn nhà” trong ứng dụng khoa học và công nghệ vào nông nghiệp (22/10/2019)
Quyết định số 3110/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v Phê duyệt đề tài: Nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong nuôi cá chình lồng tại Quảng Trị

Quyết định số 214/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt danh mục nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng và Thông tin KH_CN thực hiện năm 2020

Quyết định số 2625/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt đề tài: "Đánh giá nhu cầu thị trường lao động và đề xuất các giải pháp về đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2019 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030"

Quyết định số 221/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Đoàn thẩm tra về An toàn và kiểm soát bức xạ

Quyết định số 222/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Đoàn thẩm tra về An toàn và kiểm soát bức xạ tại cơ sở phòng khám Đa khoa Tâm An

Báo cáo số 94/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ

Kế hoạch số 31/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc

Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Ban hành Quy trình triển khai thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017 - 2025

Quyết định số 27/QĐ-SKHCN về việc Về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN Quảng Trị

Kế hoạch số 10/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Tập huấn xây dựng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001 vào hoạt động UBND các Phường, xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh năm 2019.

Thông báo về việc Điều chỉnh tuyển dụng viên chức

Thông báo về việc tổ chức xét tuyển viên chức làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN

Thông báo về việc tổ chức xét tuyển viên chức làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu Chuẩn Đo lường Chất lượng

Kết luận thanh tra về đo lường

Kết luận thanh tra về an toàn bức xạ, hạt nhân và đo lường

Thống kê lượt truy cập
Số người online 399
Hôm nay 724
Hôm qua 3.420
Tất cả 1.283.028

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này