Thứ Ba, 31/3/2020 Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin hoạt động SởTin trong tỉnhTin trong nướcTin thế giớiTin tổng hợpSở hữu trí tuệHoạt động KH&CN cơ sởPhổ biến pháp luậtPhòng, chống dịch bệnh COVID-19
TIN TỨC - SỰ KIỆN: Tin tổng hợp
Cập nhật: Thứ Ba, ngày 04/02/2020

Truy xuất nguồn gốc hàng hóa - bước tiến trong hội nhập, tạo niềm tin cho người tiêu dùng và sự cạnh tranh bình đẳng
Truy xuất nguồn gốc (TXNG) theo Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm Quốc tế (Ủy ban Codex-Codex Alimentarius Commission): “TXNG là khả năng theo dõi sự dịch chuyển của thực phẩm thông qua (các) giai đoạn sản xuất, chế biến và phân phối cụ thể”. Theo Quyết định số 100/QĐ-TTg ngày 19/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống TXNG, TXNG là khả năng theo dõi, nhận diện được một đơn vị sản phẩm qua từng công đoạn của quá trình sản xuất, chế biến, lưu trữ, vận chuyển và kinh doanh.
TXNG hàng hóa góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Ảnh: Sỹ Tiến
TXNG giúp kiểm soát rủi ro phát sinh khi theo dõi, xác minh toàn bộ đường đi của hàng hóa. Đây không chỉ là bước để các doanh nghiệp tạo sự tin tưởng nơi khách hàng mà còn là “hàng rào” bảo vệ uy tín của sản phẩm và doanh nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp hướng đến chinh phục thị trường quốc tế vốn đòi hỏi rất khắt khe về TXNG hàng hóa trong cả sản xuất lẫn thương mại. Đối với cơ quan quản lý nhà nước thì đây chính là công cụ hữu ích phục vụ cho công tác quản lý, kiểm soát thị trường hàng hóa.

TXNG hàng hóa cũng góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Đối với xuất khẩu hàng hóa, truy xuất giống như hàng rào kỹ thuật, nếu không đáp ứng được yêu cầu về TXNG thì sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh. Khi áp dụng TXNG vào hàng hóa xuất khẩu tức là đã tiến thêm một bước trong việc hội nhập sâu vào chuỗi giá trị chung. Còn đối với hàng hóa nhập khẩu, thông qua việc truy xuất có thể kiểm soát chất lượng của các mặt hàng nhập khẩu tốt hơn, tạo được niềm tin cho người tiêu dùng và sự cạnh tranh bình đẵng giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước.

Đối với người tiêu dùng có thể trực tiếp tìm hiểu, thu thập thông tin về sản phẩm họ đã mua một cách đầy đủ và chi tiết nhất. Qua đó, hạn chế mua phải hàng kém chất lượng, hàng nhái, đặc biệt là những sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng như thực phẩm, dược phẩm…

Liên quan đến các hoạt động TXNG hiện tại cũng có rất nhiều doanh nghiệp cung cấp các giải pháp TXNG nhưng chưa có hiệu ứng mạnh, chưa trở thành giải pháp giúp người tiêu dùng phân biệt các sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch.

Xuất phát từ yêu cầu đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 100/QĐ-TTg ngày 19/01/2019 phê duyệt Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống TXNG, trong đó quy định triển khai, áp dụng và thống nhất quản lý hệ thống TXNG toàn quốc. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ và các Ủy ban nhân dân trên 63 tỉnh thành thống nhất hệ thống TXNG trong các sản phẩm quản lý của mình để kết nối với Cổng thông tin truy xuất quốc gia.

TXNG có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng, đời sống xã hội toàn dân nói chung. Trong hệ thống TXNG, tem TXNG là yếu tố quan trọng đóng vai trò định danh đối tượng cần truy xuất, giúp liên kết dữ liệu và truy cứu thông tin truy xuất trong suốt chuỗi cung ứng.

Tại Việt Nam, TXNG là một hoạt động còn khá mới, tuy nhiên, hoạt động này đã và đang được triển khai nhanh chóng. Việc sử dụng Tem TXNG trên các sản phẩm, hàng hóa ngày càng trở nên phổ biến, người tiêu dùng và các bên liên quan có thể truy xuất thông tin nhanh chóng, chính xác, qua đó nâng cao niềm tin của người tiêu dùng vào các sản phẩm có gắn tem TXNG.

Việc sử dụng Tem TXNG trên các sản phẩm, hàng hóa giúp người tiêu dùng và các bên liên quan có thể truy xuất thông tin nhanh chóng, chính xác, qua đó nâng cao niềm tin của người tiêu dùng vào các sản phẩm có gắn tem TXNG. Ảnh: Sỹ Tiến.

Tuy nhiên, hoạt động TXNG và áp dụng tem TXNG hiện còn tồn tại một số vấn đề khó khăn, bất cập, cụ thể: TXNG mới chỉ tập trung áp dụng ở một số sản phẩm và một số địa phương, thị trường lớn. Hệ thống TXNG mang tính khép kín, không có khả năng mở để các bên tham gia hệ thống TXNG này có thể tham gia với các hệ thống TXNG khác. Việc sử dụng tem TXNG chưa được thực hiện thống nhất, bài bản và có hệ thống; có hiện tượng “không xác định được tem TXNG” trên thị trường.

Bên cạnh đó, suy giảm sự quan tâm và lo ngại chất lượng sản phẩm không đúng như thông tin truy xuất. Người tiêu dùng chưa hiểu đúng giá trị cũng như nguyên lý của Tem TXNG, chưa quen với việc cài đặt, sử dụng ứng dụng thiết bị di động để quét tra cứu thông tin TXNG.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, nguyên nhân của các bất cập, hạn chế là do việc triển khai hệ thống TXNG mới chỉ triển khai thí điểm ở một số địa phương và thị trường lớn (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội…), chưa có quy định, hướng dẫn thống nhất của các Bộ, ngành và cơ quan có liên quan. Tem TXNG áp dụng trên các sản phẩm hiện nay không được chuẩn hóa về nội dung và hình thức, người tiêu dùng không thể phân biệt giữa tem TXNG với các loại dấu hiệu nhãn khác.

Các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn trong việc tự nghiên cứu, xây dựng triển khai hệ thống TXNG cho từng sản phẩm, nhóm sản phẩm ngành hàng cụ thể. Nhiều doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng hiện chưa hiểu hết ý nghĩa, chưa hiểu đúng bản chất của vấn đề truy xuất, đồng thời phải mất chi phí ban đầu để thực hiện TXNG nên nhiều doanh nghiệp/cơ sở sản xuất còn e ngại.

Hệ thống TXNG ở Việt Nam hiện nay thường không có khả năng tham gia vào hệ thống TXNG khác là do các hệ thống TXNG hiện tại thường sử dụng các mã phân định có cấu trúc tự đặt chỉ có giá trị phân định trong phạm vi nội bộ, mà không sử dụng các hệ thống mã phân định toàn cầu. Ngoài ra, do không có sự quản lý và điều phối chung về cấu trúc mã phân định nên rất dễ xảy ra trường hợp trùng mã giữa các hệ thống TXNG khác nhau…

Tuy nhiên, tính trung thực của dữ liệu TXNG hiện tại vẫn chưa được đảm bảo toàn diện trong quá trình vận hành hệ thống. Nguyên nhân nằm ở thời điểm phát sinh dữ liệu và ghi nhận diễn ra không đồng thời. Bên cạnh đó, cách thức lưu trữ truyền thống bằng hồ sơ nên dễ phát sinh sự nhầm lẫn, thay đổi thông tin. Hệ quả là khách hàng nhập khẩu lẫn doanh nghiệp trong nước phải tốn rất nhiều công sức và tài chính để kiểm soát hệ thống TXNG truyền thống.

Ngoài ra, các loại tem TXNG chưa thống nhất, rất nhiều bên cung cấp, hoặc tự phát khiến người tiêu dùng không hoàn toàn tin tưởng, ủng hộ.

Việc xây dựng hệ thống TXNG (theo Quyết định 100/QĐ-TTg ngày 19/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ) và sử dụng tem TXNG cho các sản phẩm đặc sản, sản phẩm truyền thống của tỉnh là hết sức cần thiết.

Trong năm 2020, Sở KH&CN Quảng Trị sẽ xây dựng mô hình thí điểm áp dụng hệ thống TXNG đối với sản phẩm Nước mắm Cửa Việt.

Để xây dựng hệ thống TXNG (theo Quyết định 100/QĐ-TTg ngày 19/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ) cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, Đăng ký sử dụng mã truy vết
Mã truy vết sản phẩm là dãy số và chữ được dùng để định danh sản phẩm, hàng hóa ở từng công đoạn sản xuất, kinh doanh trong quá trình TXNG. Mã truy vết địa điểm là dãy số và chữ được dùng để định danh địa điểm diễn ra sự kiện ở từng công đoạn sản xuất, kinh doanh trong TXNG.

Tổ chức, cá nhân sử dụng mã truy vết (mã truy vết sản phẩm, mã truy vết địa điểm) để TXNG cho các sản phẩm, hàng hóa phải đăng ký sử dụng mã truy vết tại Trung tâm Mã số, Mã vạch Quốc gia trực thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng. Hồ sơ đăng ký được nộp trực tuyến trên trang đăng ký mã số mã vạch trực tuyến của Trung tâm Mã số, Mã vạch Quốc gia.

Thứ hai, xây dựng hệ thống TXNG sản phẩm, hàng hóa đáp ứng các yêu cầu:
Một bước trước - một bước sau để bảo đảm khả năng nhận diện được cơ sở sản xuất kinh doanh/công đoạn sản xuất trước và cơ sở sản xuất kinh doanh/công đoạn sản xuất tiếp theo sau trong quy trình sản xuất, kinh doanh đối với một sản phẩm, hàng hóa;

(Nguyên tắc truy xuất một bước trước - một bước sau là nguyên tắc mà đơn vị phải lưu giữ thông tin để bảo đảm khả năng nhận diện được cơ sở sản xuất, kinh doanh/công đoạn sản xuất trước và cơ sở sản xuất kinh doanh/công đoạn sản xuất tiếp theo sau trong quá trình sản xuất, kinh doanh đối với một sản phẩm được TXNG).

Dữ liệu TXNG có thể tra cứu được;
Nguồn nhân lực quản lý TXNG sản phẩm, hàng hóa phải được đào tạo và cấp chứng chỉ về TXNG tại Trung tâm Mã số, Mã vạch Quốc gia trực thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.

Hệ thống TXNG của tổ chức, cá nhân phải bảo đảm đầy đủ quy trình TXNG theo các quy định trong tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng với chủng loại sản phẩm, hàng hóa và được công bố phù hợp tiêu chuẩn về hệ thống TXNG theo tiêu chuẩn GS1 toàn cầu. Căn cứ để công bố phù hợp dựa trên kết quả tự đánh giá của tổ chức, cá nhân hoặc kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được chỉ định theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, thông qua hệ thống TXNG, mỗi sản phẩm, hàng hóa có dữ liệu TXNG cơ bản gồm các thông tin sau:
Tên sản phẩm, hàng hóa; Hình ảnh sản phẩm, hàng hóa; Tên đơn vị sản xuất; Địa chỉ sản xuất; Quy trình sản xuất (tối thiểu bao gồm trang thiết bị, nhân sự của từng công đoạn); Thời gian sản xuất; Mã số TXNG sản phẩm, hàng hóa; Mã truy vết địa điểm của cơ sở sản xuất nguyên liệu và cơ sở tiếp nhận sản phẩm trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh (nếu có).

Thứ tư, sản phẩm trong từng sự kiện sau mỗi công đoạn phải được gán mã số để TXNG. Việc gắn thẻ, tem, nhãn để TXNG phải bảo đảm tuân thủ quy định tại tiêu chuẩn quốc gia về chuẩn hóa vật mang dữ liệu để TXNG.

Thứ năm, thực hiện đăng ký và quản lý dữ liệu về TXNG sản phẩm, hàng hóa
Dữ liệu TXNG của mỗi sản phẩm, hàng hóa sẽ đưa lên Cổng thông tin TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia. Mã quản lý TXNG sản phẩm, hàng hóa được cập nhật định kỳ theo ngày vào Cổng thông tin TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia. Mã truy vết sản phẩm và mã truy vết địa điểm phải đăng ký và được cấp mã truy vết theo quy định. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải chi trả kinh phí duy trì mã truy vết sản phẩm và mã truy vết địa điểm hằng năm theo thỏa thuận đối với tổ chức quản lý Cổng thông tin TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Xây dựng hệ thống TXNG đáp ứng các yêu cầu trên sẽ giúp kiểm soát rủi ro phát sinh khi theo dõi, xác minh toàn bộ đường đi của hàng hóa. Đây không chỉ là bước để các doanh nghiệp tạo sự tin tưởng nơi khách hàng mà còn là “hàng rào” bảo vệ uy tín của dản phẩm và doanh nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp hướng đến chinh phục thị trường quốc tế vốn đòi hỏi rất khắt khe về TXNG hàng hóa trong cả sản xuất lẫn thương mại. Đối với cơ quan quản lý nhà nước thì đây chính là công cụ hữu ích phục vụ cho công tác quản lý, kiểm soát thị trường hàng hóa.

TXNG hàng hóa cũng góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Đối với xuất khẩu hàng hóa, truy xuất giống như hàng rào kỹ thuật, nếu không đáp ứng được yêu cầu về TXNG thì sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh. Khi áp dụng TXNG vào hàng hóa xuất khẩu tức là đã tiến thêm một bước trong việc hội nhập sâu vào chuỗi giá trị chung. Còn đối với hàng hóa nhập khẩu, thông qua việc truy xuất có thể kiểm soát chất lượng của các mặt hàng nhập khẩu tốt hơn, tạo được niềm tin cho người tiêu dùng và sự cạnh tranh bình đẵng giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước.

Đối với người tiêu dùng có thể trực tiếp tìm hiểu, thu thập thông tin về sản phẩm họ đã mua một cách đầy đủ và chi tiết nhất. Qua đó, hạn chế mua phải hàng kém chất lượng, hàng nhái, đặc biệt là những sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng như thực phẩm, dược phẩm…

Tóm lại, TXNG đang là yêu cầu bức thiết đối với các doanh nghiệp hiện nay. Không chỉ các nước nhập khẩu đòi hỏi sự minh bạch của các thông tin do doanh nghiệp cung cấp, mà đây còn là sức ép ngay cả thị trường nội địa. Khái niệm TXNG không chỉ bó hẹp ở truy xuất thông tin về sản phẩm (với cách hiểu thông thường là thành phẩm cuối cùng), mà là thông tin trong toàn bộ quá trình sản xuất từ khi là nguyên liệu thô đến khi tới tay người tiêu dùng. Như vậy nó là một hệ thống thu thập, lưu trữ thông tin liên tục của cả chuỗi sản xuất, và phải có khả năng truy xuất một cách chính xác theo các mục đích khác nhau. Trong năm 2020, thông qua xây dựng mô hình thí điểm áp dụng hệ thống TXNG đối với sản phẩm Nước mắm Cửa Việt, với kết quả đạt được sẽ tạo cơ sở để nhân rộng trên địa bàn tỉnh. Hy vọng, trong những năm tới, Quảng Trị sẽ có nhiều sản phẩm, hàng hóa thiết lập được hệ thống TXNG theo Quyết định 100/QĐ-TTg ngày 19/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ./.
Trần Thiềm
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nền tảng số: Tương lai của nền kinh tế (31/3/2020)
5 vấn đề pháp lý cơ bản cần chuẩn bị khi khởi nghiệp (23/3/2020)
Triển vọng từ mô hình nuôi hươu sao lấy nhung (18/3/2020)
Vươn lên từ mô hình kinh tế đa cây đa con (03/3/2020)
Bước đột phá trong lĩnh vực AI (03/3/2020)
Quản lý nhãn hiệu sau khi được công nhận (13/02/2020)
Sử dụng vật liệu nano và ánh nắng mặt trời để xử lý nước ô nhiễm thuốc trừ sâu (13/02/2020)
Nhà khoa học trẻ chế keo giúp vết thương mau lành (13/02/2020)
Ứng dụng khoa học lựa chọn bộ giống lúa chủ lực chất lượng cao (13/02/2020)
Thiết bị mới phát hiện virus corona nhanh chưa từng có (13/02/2020)
Đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học tỉnh Quảng Trị thông qua hoạt động dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay (19/02/2020)
Phục vụ cộng đồng nghiên cứu khoa học các công bố khoa học mới nhất về dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (06/02/2020)
Khoa học công nghệ cấp huyện: Tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội địa phương (12/02/2020)
Kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ ký Sắc lệnh 08/SL (20/01/1950-20/01/2020) và hoạt động Đo lường ở Quảng Trị (14/01/2020)
Tốc độ nhanh cạn kiệt oxy ở các đại dương ngày một tăng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và ô nhiễm (08/01/2020)
Nghiên cứu lý thuyết cấu trúc vùng năng lượng và các tính chất truyền dẫn của điện tử ở các cấu trúc nano dựa trên graphene và các vật liệu tựa graphene. (08/01/2020)
Lưu trữ dữ liệu trong các đồ vật thường ngày (19/12/2019)
Trên đỉnh Sa Mù (16/12/2019)
Động vật có thể giúp con người theo dõi đại dương (19/12/2019)
Siết chặt quản lý tàu bay không người lái (08/01/2020)
Vi khuẩn tiến hóa trong phòng thí nghiệm chuyển sang tiêu thụ CO2 để sinh trưởng (16/12/2019)
Sản xuất nông nghiệp sử dụng những kỹ thuật mới trong thời đại CMCN 4.0 (16/8/2019)
Chợ an toàn thực phẩm, mô hình cần được nhân rộng (04/5/2019)
Công nghệ chuyển đổi nước biển thành nhiên liệu hydro (04/4/2019)
Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu ở Cam Lộ (24/01/2019)
Hướng Hóa: Lao Bảo chủ động nguồn hoa đón tết (10/01/2019)
Khắc phục bất lợi của thời tiết để triển khai sản xuất vụ đông xuân (05/01/2019)
Đột phá từ những cây trồng mới ở Cam Lộ (19/12/2018)
Nông nghiệp Vĩnh Linh một năm nhìn lại (19/12/2018)
Hiệu quả từ mô hình bể chứa rác thải trên đồng ruộng ở Triệu Long (06/11/2018)
Làng hoa An Lạc vào vụ hoa tết (24/10/2018)
Gio Phong, xã điển hình về xây dựng nông thôn mới (18/10/2018)
Xã Triệu An khai thác lợi thế vùng biển để phát triển kinh tế (27/9/2018)
Thông tư số 08/2018/TT-BKHCN: Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 6 Thông tư số 15/2015/TT-BKHCN về đo lường, chất lượng trong kinh doanh xăng. (18/7/2018)
Giải pháp phát triển ngành du lịch ở huyện Triệu Phong (25/6/2018)
Người tiên phong đưa lúa nước lên đồi (29/5/2018)
Khởi nghiệp với tinh dầu tràm (03/5/2018)
Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia - kết nối các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp (30/3/2018)
Kết nối người sản xuất và tiêu dùng nông sản, thực phẩm an toàn (20/3/2018)
Một doanh nghiệp trẻ năng động (14/3/2018)
Quảng bá đặc sản của quê hương qua website rauliet.com (11/3/2018)
Ghi nhận ở phiên chợ nông sản vùng Cùa (07/3/2018)
Tổ chức KOICA hỗ trợ vốn dự án "ngân hàng bò" cho xã Cam Thành (06/3/2018)
Linh Hải nỗ lực về đích xây dựng nông thôn mới (26/02/2018)
Niềm vui từ những chuyến tàu ra khơi đầu năm (22/02/2018)
Ra đồng đầu năm (22/02/2018)
Sôi động ra quân sản xuất, kinh doanh (22/02/2018)
Ngư dân trúng “lộc biển” đầu năm (22/02/2018)
Tích cực phòng chống rét cho đàn trâu bò. (08/02/2018)
Đảng bộ 40 năm liên tục đạt trong sạch vững mạnh (02/02/2018)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS
Ứng dụng trên Android
Quyết định số 726/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh (Lần 1, năm 2020)

Quyết định số 3110/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v Phê duyệt đề tài: Nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong nuôi cá chình lồng tại Quảng Trị

Quyết định số 214/QĐ-SKHCN về việc Quyết định phê duyệt danh mục nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng và Thông tin KH_CN thực hiện năm 2020

Quyết định số 2625/QĐ-UBND về việc Quyết định v/v phê duyệt đề tài: "Đánh giá nhu cầu thị trường lao động và đề xuất các giải pháp về đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2019 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030"

Quyết định số 221/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Đoàn thẩm tra về An toàn và kiểm soát bức xạ

Quyết định số 222/QĐ-SKHCN về việc Quyết định về việc thành lập Đoàn thẩm tra về An toàn và kiểm soát bức xạ tại cơ sở phòng khám Đa khoa Tâm An

Báo cáo số 94/BC-SKHCN về việc Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ

Kế hoạch số 31/KH-SKHCN về việc Kế hoạch Thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc

Quyết định số 272/QĐ-SKHCN về việc Quyết định Ban hành Quy trình triển khai thực hiện Chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017 - 2025

Quyết định số 27/QĐ-SKHCN về việc Về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức cuộc thi "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" tỉnh Quảng Trị năm 2020

Thông báo kết quả xác định danh mục nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh (Lần 01 năm 2020)

Thông báo kết quả xét tuyển viên chức vào làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN

Báo cáo kiểm tra về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa trước, trong và sau Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020

Báo cáo tình hình giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2019

Thống kê lượt truy cập
Số người online 568
Hôm nay 3.398
Hôm qua 3.351
Tất cả 1.737.703

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382. Hệ thống chạy tốt nhất trên trình duyệt Cốc cốc.

Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN
Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này